|
Vạn Xuân bến cũ Thân Trọng Tuấn
Mọi lần, từ trong thành, thẳng con đường cửa Hữu mà ra, sẽ gặp bến đ̣ Kẻ Vạn. Bên ni bờ sông là phường Phú Thạnh. Bên tê bờ sông Kẻ Vạn là Vạn Xuân, thuộc Kim Long Hậu Thôn. Sông đào Kẻ Vạn c̣n gọi là sông Kim Long, sử ghi là Hữu Hộ Thành Hà. Sông Kẻ Vạn phía bắc cùng với sông Bạch Yến chảy vào sông đào Hậu Hộ Thành Hà, phía nam thông với sông Hương. Một trăm hai mươi năm trước, trong đêm khuya, vua Hàm Nghi xuất bôn. Tin lầm thắng trận ḥa với tin thất trận làm người dân chưa kịp mừng đă hoảng hồn xớn xác. Xa giá rước vua ra! Chánh Đông Môn loan xa trực chỉ! Không phải mô, Chánh Tây Môn mới thiệt như là… Thôi th́ dân t́nh cuống quưt, vội vội vàng vàng nhắm hướng xe vua. Dày xéo lên nhau, tang thương biết mấy. Này cửa Đông. Này cửa Tây. Chạy loạn tứ tung, khóc la thảm thiết. Vua cùng tông thất và tùy tùng theo ra cửa Chánh Nam! Ơi mấy nhà viết sử! Tại v́ răng thây nằm la liệt gần cả hai cửa vô ra, mà chỉ có mỗi một miếu âm hồn gần bên phía cửa Đông Ba? Trên nói làm răng, dưới nghe như rứa. Th́ để yên cửa Chánh Tây tức là cửa Hữu cho xa giá xuất bôn; và Ngài Ngự phải dùng thuyền sang sông theo như lời kể lại trong bài vè Thất thủ Kinh đô, cho dù không đúng như đă ghi trong chánh sử Đại Nam Thực Lục:
Qua đ̣ Kẻ Vạn một khi, Quan quân ai nấy vậy th́ lội sông! Lên khỏi bến đ̣ Kẻ Vạn là Kim Long Hậu Thôn, nằm trong vùng có sông bao tứ phía: Hương Giang, Long Hồ, Bạch Yến, Hộ thành! Thiệt quá gian nan cho xa giá trên đường tiến ra Tân Sở! Nhưng mà sự thể như thế nào ơi mấy người viết sử?! Chuyện đă xưa rồi, nghĩ lại chỉ biết ngậm ngùi thương cho thánh thượng gặp lúc nguy cơ. Bến nước Vạn Xuân có trước tự bao giờ. Nửa khuya náo loạn trong kẻ theo pḥ cũng có dân Kẻ Vạn! Thứ kẻ Nốt ở bợt đ̣, một hạng dân thấp nhất của Huế đô! Cũng chung nhau vùng đất nước Vạn Xuân: Người ở trong nhà, ăn ngủ trên giường tre, ngựa gỗ th́ gọi là dân kẻ vườn, kẻ chợ. Người sống dưới đ̣, làm nghề chèo thuyền, đánh cá với dây câu, thả lưới “bủa”, căng “lưới mùng, lưới tủ” và ngay cả người ngồi trên chiếc “tṛng lành canh” đuổi cá vào rớ đều thuộc về dân kẻ Vạn kẻ Chài! Con sông Kẻ Vạn nầy nằm về phía tây kinh thành Huế, cách ngăn bởi con đường rầy xe lửa và con đường thiên lư tức là quốc lộ số 1, dưới thời Cộng ḥa có tên là đường Thống Nhất. Mọi lần có con đ̣ mụ Nay chống chèo qua Kẻ Vạn. Lũ học tṛ lắt nhắt qua sông. Thằng con trai của mụ gầy ốm lạ lùng. Nhưng lại có làn nước da thiệt trắng. Rọm thiệt là rọm. Trơ xương trơ cộm. Lũ học tṛ ăn nói thiệt trời ơi! Tui đây da bị đen, v́ lỡ háy mặt trời. C̣n con của mụ, “thấy mà đổ phát lện, tắng chi mà lại tắng như toi!”. Nếu không tin, đưa cánh tay ra so sánh thử coi! Đen như tui là đen mặn đen ṃi, c̣n như thằng Hè con trai cưng của mụ tuy trắng, nhưng thiệt sự là thứ trắng như cục bột sán cḥi cả đêm. Con gái giống cha giàu ba họ. Con trai giống mạ khó ba đời. Thằng Hè giống mạ hắn như rứa th́ thôi. Mụ là dân chèo đ̣ nhưng tại răng da mặt lại trắng bóc c̣n điểm ít tàn nhang, không chịu đen thui như dân kẻ chài kẻ nốt? Nói ra sợ ốt dột! Có lẽ ngày xưa mạ của mụ chạy không kịp khi tụi lính Tây đi ốp, đi lùng. Nhưng chắc là không phải mô v́ tóc mụ đen thui chứ không có đỏ hung như mấy ông Tây mũi lỏ. Mụ lại về làm dâu “ôn Sỏ”, ngày chèo đ̣, túi lên trên nhà “ôn dôn” cạnh cửa Hữu ngủ đỡ qua đêm! Chồng của mụ đen bóng như thử đêm tối không đèn, vóc dáng của ôn lại hùng dũng oai nghiêm v́ thân ḿnh của ôn “cao chưa đầy thước mốt”! Đi bên “eng”, cho dù đă cất nón, mụ vẫn c̣n cao hơn ôn cả một cái đầu nên khi cần th́ mụ phải cúi thấp xuống để lầu bầu thủ thỉ tiếng “Eng thương”! Đồ cái thứ ranh mương, lộn tinh lộn yêu. Học được ba cái chữ tào lao xí đế! Đôi bàn tay khô cứng của mụ Nay không cân xứng với đôi bàn chân nhớt nhợt v́ suốt ngày ngâm nước bị hà ăn. Mụ Nay làm cái nghề “mạ truyền con nối” v́ mụ vốn là con của mụ chèo đ̣! Mụ Nay mạ. Mụ Nay con. Người ta dùng tên người con gọi luôn cho mẹ. Kiêng tên đến độ như ri cũng chỉ là sự thường t́nh! Cha mụ Nay khi nhắc tới vợ ḿnh th́ nói “Mạ con Nay tui!”. Mạ mụ Nay khi nhắc tới ông dôn của ḿnh th́ nói “Bọ con Nay tui”. Chẳng mấy ai biết rơ gốc gác của mạ con mụ Nay. Cứ quen gọi là dân vạn đ̣, sinh sống trên mặt nước sông, không có đất có nhà. Cả “tṛng” mụ Nay hàng năm đấu thầu giữ mối chèo con đ̣ Vạn Xuân làm kế sinh nhai, không làm dân kẻ chài như mấy người trong vạn. Mụ Nay bây chừ lại lấy chồng trên cạn, đổi cuộc đời từ dân Kẻ Chài qua dân Kẻ Chợ, sang thiệt là sang! Tuy vậy, mụ vẫn giữ nghề chèo đ̣ ngang qua ḍng sông Kẻ Vạn. Lệ bên ṭa Tỉnh đưa ra là học sinh sang sông khỏi phải trả tiền. Đă chịu cảnh làm việc không công, lại c̣n lo trị mấy thằng học tṛ lục lặc lửa nghịch ngợm như “quỷ phá nhà chay”. Lên trên đ̣ không khi nào chịu ngồi yên, khiến cây sào tre trong tay mụ Nay di động ngang dọc không ngừng v́ vừa điều khiển đưa chiếc đ̣ sang sông, vừa dọa đ̣i đánh vào đầu mấy đứa học tṛ phá phách: “Để rồi tau vô trường tau thưa thầy mi nạ! Liệu chừng có ngày mi sẽ bị thầy bắt quỳ a nựng!”. Ơi hiền lành mấy tiếng của Kẻ Huế xưa! Cứ “mược kệ” để cho mụ tha hồ mụ dọa, đoan chắc rằng chẳng khi mô mụ dám vô trường để “thưa thầy, thưa cô” v́ chưa chi mà mụ đă sợ “bắt chết” th́ mần răng mà mụ dám “thưa với thiếc” đă chư? Ngày hè nắng ráo, ḍng sông cạn xợt, bờ bên này cách bờ bên kia có mấy sải tay. Chỉ cần xoay mũi đ̣, chống một cái là đă qua tới bên tê bờ cái rột, khỏi phải cần cạy bát mất công. Mùa mưa nước sỉa, con nước bạc trôi xoáy phập phềnh, mụ Nay mới cần dùng đến mái chèo này nọ. Có lúc nước lớn quá, đ̣ phải ngừng đưa! Khách qua đ̣, nhất là lũ học tṛ học ở trường tiểu học Vạn Xuân phải đi ṿng qua phía cầu Bạch Hổ. Cảnh vật đổi dời. Con sông đào Kẻ Vạn, bây chừ cũng chỗ cạn chỗ su. Đ̣ Kẻ Vạn hiện đă thôi đưa từ mấy năm nay v́ cây cầu nhỏ đúc xi măng cốt sắt đă được xây cất. Mụ Nay vẫn c̣n sống, nhưng không ai biết thằng Hè lưu lạc phương mô… Thân Trọng Tuấn Cali. (9-06) (Trích: An Ninh Thượng Hạ)
|