|
Khi tiếp cận một số tác gia văn học lớn thời
phong kiến như Nguyễn Trăi, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Gia Thiều,
Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú
Xương...hầu như giới nghiên cứu văn học "quy phạm" ở nước ta
đều dùng khái niệm "trung đại" (trung cổ) là phạm trù văn
hóa khu biệt của phương Tây để làm hệ quy chiếu đo đạc, thậm
chí c̣n làm phương pháp luận tiếp cận nữa. Chính sự lầm lẫn
"lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia" trong phương pháp luận ấy đă
dẫn đến những đánh giá khá sai lạc về 9 thế kỷ văn học dân
tộc thời phong kiến của ông cha ta. Chúng tôi xin vứt bỏ cái
kính chiếu yêu trung cổ - kinh viện lầm lạc kia để nh́n nhận
các tác gia văn học thời phong kiến của ta dưới một cái nh́n
khác, không phụ thuộc vào những định kiến hay những bùa chú,
những công cụ tiếp cận gông cùm lỉnh kỉnh ngoại lai nào.
Trước hết, chúng tôi xin đề cập tới một đại tác gia: Nguyễn
Gia Thiều.
Có lẽ, đại thi hào Nguyễn Du, người kém
Nguyễn Gia Thiều 25 tuổi, kém Đoàn Thị Điểm 51 tuổi, là
người đă từng mê đắm Chinh phụ ngâm và Cung óan
ngâm khúc? V́ vậy, trong Truyện Kiều, chúng ta
c̣n gặp đâu đó hồn lục bát Nguyễn Du phảng phất khói sương,
hơi hướng hai kiệt tác trước đó. Ví phỏng như không có
Chinh phụ ngâm và Cung óan ngâm khúc, liệu ngày
nay chúng ta đă có một tuyệt tác như đang có trên tay:
Truyện Kiều không? Nhất là tư tưởng, t́nh cảm thẩm mỹ
của Nguyễn Gia Thiều đă ảnh hưởng đến hồn lục bát Nguyễn Du
hơn cả. Đoàn Thị Điểm phải nhờ vào bản Hán văn của Đặng Trần
Côn, Nguyễn Du dựa vào cốt truyện của Thanh Tâm Tài Nhân mới
thành hồn Việt, tiếng Việt tuyệt vời. Nguyễn Gia Thiều không
cần vịn tạm vào cây cầu Hán tự, hay mượn lốt Trung Hoa mà
Việt hóa hồn người. Ông viết trực tiếp bằng chữ Nôm, bằng
tiếng Việt, một thứ tiếng Việt rất đài các hàn lâm, rất thâm
sâu thông tuệ: "Trải vách quế gió vàng hiu hắt", kết
hợp với tiếng Việt b́nh dân, vừa hoa hèn cỏ nội, vừa muối
mặn gừng cay, rất đời thường dung dị: "Lau nhau ríu rít
c̣ con cũng t́nh". Chỉ vỏn vẹn 356 câu thơ song thất lục
bát, diễn tả nỗi ḷng ai óan của cung nữ mà tỏ bày chuyện
nhân t́nh thế thái, chuyện trời đất, tử sinh của thân phận
làm người; Cung óan ngâm khúc quả là một kiệt tác
được thể hiện với một nghệ thuật thơ trác việt, xuất chúng,
mang tính tư tưởng và thẩm mỹ vào loại cao sang nhất, sâu
sắc nhất, mỹ lệ nhất trong kho tàng văn học cổ Việt Nam.
Nguyễn Gia Thiều mượn tâm trạng cung nữ mà
nói chí hướng ḿnh, mượn ḿnh mà đối chất, ỉ ôi ta thán thời
thế, mượn thời thế mà vẩn vơ nghĩ ngợi kiếp người, mượn kiếp
người mà đối thoại, ầu ơ cùng trời đất, mượn trời đất mà
rong ruổi nỗi hư không, mượn hư không mà an ủi, xẻ chia nỗi
buồn cung nữ. Chính v́ vậy, mỗi câu thơ của bậc thiên tài
không chỉ đa ngữ nghĩa, đa tầng đa vỉa như vân gỗ trong cây
cḥ chỉ ngh́n năm, mà c̣n nghĩa ở ng̣ai nghĩa, chữ ở ng̣ai
chữ, tư tưởng ngoài tư tưởng, như khói sương ngoài lại khói
sương. V́ vậy, khi đọc Cung óan ngâm khúc, chúng ta
không chỉ phải dùng thị giác, thính giác, tri giác, cảm giác,
trực giác mà c̣n phải huy động cả linh giác, huệ giác, vô
giác, thiên địa giác, tổng hợp lại trong mơ hồ THI GIÁC mới
có cơ gặp được hồn thơ bách tuế thiên tuế này. Ví dụ như khi
đọc câu thơ huyền nhiệm này của Ôn Như hầu: "Cái quay
búng sẵn trên trời / Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm" mà
chỉ tựa vào "cái quay" luân hồi sắc không, bào ảnh Phật giáo,
hoặc tiêu dao vô vi với "người đi đêm" áo gấm Lăo Trang kia
cũng chưa thấu được bờ bến câu thơ. Chừng như cái huyệt, cái
rốn, cái thần của câu thơ mang mang rất đạo này lại nằm
trong một động từ "búng" rất bé, rất đời, rất ngẫu nhiên ;
như thể trên biển cả vô cùng của thế giới đèn cù hư ảnh,
vang lên rất đanh, rất sắc một tiếng con tôm nhân t́nh chợt
búng tanh tách. Và cái quay Phật giáo kia, cái "người đi đêm"
kia, hóa ra chỉ là tṛ búng con quay của đứa trẻ con - tạo
hóa có tên là thi ca. Một cái búng tay tí tẹo thi ca lại có
thể mở khép được cái vô cùng, chạm vào cái lênh đênh, như
chạm vào cái Không của Phật và cái Vô của Lăo, hóa giải nỗi
siêu h́nh bằng nghịch ngợm nhân sinh. Từng câu thơ của bậc
thi hào là một khối thống nhất các mâu thuẫn lớn trong quy
luật đồng nhất, phản phục, thoắt có, thoắt không, lúc thuỷ,
lúc hỏa, vừa có nghĩa lại vừa phản nghĩa, như trong phân tử
vật chất đă mang sẵn hạt phản vật chất, trong sự sống nào
cũng mang sẵn một mầm chết. Chính v́ vậy, dùng phương pháp
luận cắt lát của phê b́nh văn học nặng về xă hội học, phê
b́nh lư trí hay phê b́nh trực giác, phê b́nh đạo đức học,
ngôn ngữ học, phê b́nh phân tâm học, phê b́nh cấu trúc...
đối với Cung óan ngâm khúc e rằng chưa thể tất.
Phê b́nh xă hội học từ bấy nay đă chỉ ra rằng
Cung óan ngâm khúc tố cáo chế độ phong kiến tàn bạo,
vô nhân đạo, chà đạp t́nh yêu hạnh phúc con người. Cái chế
độ tự nhiên đi bắt nhốt hết con gái đẹp thiên hạ vào một
cung cấm như tù chung thân, cho một người sợ nắng sợ gió,
hom hem, bệnh hoạn gọi là vua độc quyền hưởng lạc, bảo không
ác sao được? Đúng quá. Lại bảo tác phẩm này đầy tính nhân
đạo chủ nghĩa. Nhà thơ bênh vực, cảm thông, chia sẻ với nỗi
buồn đau, nỗi khát vọng hạnh phúc, nỗi tuyệt vọng về tương
lai của hàng trăm cung nữ, nhất định là thương người quá đi
chứ. Đúng quá. Lại bảo nghệ thuật của thi phẩm này cao siêu,
tuyệt vời. V́ hơn hai trăm năm nay rồi, những áng thơ c̣n
rung động, xúc cảm hàng triệu con tim yêu hồn Việt ngữ ông
cha. Lại đúng quá. Mà đúng cả với Chinh phụ ngâm,
Truyện Kiều và thơ Hồ Xuân Hương nữa.
Phái phê b́nh phân tâm học th́ dùng ông Freud
để lư giải t́nh cảm bị ức chế t́nh dục của các cung nữ và
ngay cả với Nguyễn Gia Thiều, người bị coi là quan hoạn, nên
mới tạo ra nỗi khổ, nỗi thèm khát, nỗi hay đầy cảm giác nhục
tính của tác phẩm. Nghe ra, cũng có vẻ có lư.
Người khác cho rằng, Ôn Như Hầu là đệ tử của
Phật, của Lăo, tŕnh bày cuộc đời như các cung nữ bị ông vua
tạo hóa nhốt chơi, khổ lắm, nhục lắm, mất tự do lắm, nên
khuyên ta phải t́m vào cửa Không, cửa Vô mà lánh cho qua bể
trần gian. Lại có vẻ đúng. Có người chứng minh Ôn Như hầu
yếm thế, chán đời. Có người lại bảo không, bên ngoài th́ thở
vắn than dài thế thôi, nhưng bên trong c̣n ham hố lắm, c̣n
yêu đời lắm, c̣n hy vọng, thèm khát ái ân lắm, cầu mong ơn
mưa móc cửu trùng lắm... Phê b́nh duy mỹ th́ bảo: vứt hết
những cái đó đi, chỉ lấy cái mỹ lệ văn chương làm tiêu chuẩn
thôi, tuyệt đẹp từng câu, từng chữ. Rồi phê b́nh h́nh thức,
phê b́nh ngôn ngữ học, phê b́nh trường ngôn ngữ... đều lôi
thiên tài Ôn Như hầu về phía ḿnh như honda ôm giành khách.
Trong Cung óan ngâm khúc có tất cả những điều trên và
c̣n nhiều điều hơn nữa, nhưng h́nh như rồi chẳng có một điều
nào cả. Ḱa hàng trăm cung nữ thở than, đau khổ , ám ảnh
chuyện mây mưa, hy vọng, tuyệt vọng, rồi níu lấy Phật, lấy
Lăo, níu cả ông Khổng, thậm chí níu cả ông Táo, ơng Tơ như
người chết đuối bám cọc. Nghĩa là trong 356 câu thơ song
thất lục bát, ta thấy hiện lên cả một thế giới người khổ ải
xin tan ḥa vào thế giới thần thánh như mực mong ḥa trong
nước để được sống đời chữ nghĩa. Nhưng rồi quay đi, quay lại,
thoắt biến đâu như đèn cù, chẳng c̣n ai. Cả người đọc thơ
bồi hồi, rơi lệ một lúc cũng biến đi. Chỉ c̣n một ḿnh nhà
thơ lặng lẽ trong từng câu chữ, ép hồn vào trang giấy như
con bướm khô mà gánh chịu bể khổ kiếp người, gánh chịu cả
cái không đâu vô cùng của triết học và tôn giáo. Khiếp quá.
Cô đơn quá. Sầu thảm quá. Khi các cung nữ khóc than khản
giọng th́ nhà thơ lên tiếng, phủ nỗi buồn vạn cổ lên cỏ cây,
lên muôn vật, thậm chí lên cả hậu thế nữa: "Phong trần
đến cả sơn khê / Tang thương đến cả hoa kia cỏ này". Câu
lục bát hay đến rớm lệ hai thế kỷ thi ca. Chừng như nỗi "phong
trần, tang thương " của dân tộc suốt hơn hai trăm năm qua
chưa đi hết câu thơ thần diệu này của Ôn Như hầu? Tưởng như
chỉ dùng hai câu thơ trên cũng có thể b́nh được hồn thơ
Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương, bà Huyện Thanh Quan...thuở
ấy. Câu lục bát kia bảo nó là tâm hồn thời đại th́ cũng là
đệ nhất tâm hồn, bảo nó là tư tưởng thời đại th́ cũng là đệ
nhất tư tưởng.
Có thể nói, Ôn Như hầu là nhà tư tưởng lớn
nhất của thi ca Việt Nam từ trước tới nay. Tất cả tư tưởng
của thi hào đă được hồn vía hóa, Việt hoá, thi ca hoá. Thân
gỗ của cây triết học, thần học cứng ngắc, khô khan qua cảm
hứng thi ca Ôn Như hầu, đă trổ hoa tư tưởng. Thi ca đă biến
triết học trong ông thành mỹ học, biến bộ óc trên đầy sách
vở kinh điển, già giặn, siêu h́nh, siêu việt của ông thành
nỗi oe oe chào đời tơ non của trái tim con người. Ngay cả
nỗi thống khổ trần gian đi qua thi ca ông cũng thành đẹp thế,
cảm động và ngây thơ thế, thương thế: "Thảo nào khi mới
chôn nhau / Đă mang tiếng khóc ban đầu mà ra". Câu thơ
thuần Việt, không một từ Hán chen vào, dung dị như nhọ nồi
rau má mà sâu thăm thẳm những vực cùng đỉnh. Con người ra
đời phải chăng v́ sợ quá mà cất tiếng khóc đầu tiên? Tiếng
khóc ấy như một tiếng thét báo hiệu, báo nguy, báo thức, báo
yên và báo động. Khi tư tưởng được phát giác bằng thi hứng,
bằng trực cảm, bằng h́nh ảnh, h́nh tượng ngôn từ, tư tưởng
ấy sống động và bền vững măi. Trẻ sơ sinh kia sao giống hệt
thi ca, vừa ra đời đă cất tiếng khóc? Tiếng khóc ấy phải
chăng chính là tiếng hát đẹp nhất của con người trên mặt đất?
Ôi chao, loài người sẽ thế nào đây, nếu mỗi chúng ta vừa ra
khỏi bụng mẹ đă hí lên cười hềnh hệch đến méo mó cả phận
ḿnh? Cung óan ngâm khúc quả t́nh đă trở thành một
trong những "tiếng khóc ban đầu " của tinh thần văn hóa Việt.
Con người sơ sinh - thi ca đă đi qua tiếng khóc thứ nhất dữ
dội của ḿnh một cách bi tráng dễ sợ như thế, phỏng c̣n
tiếng khóc nào, nỗi thống khổ nào trên đời dọa nạt được nó?
Hơn hai trăm năm nay rồi và ngh́n vạn năm nữa, các thế hệ
người Việt Nam đều lần lượt d́u nhau đi qua câu thơ này của
Nguyễn Gia Thiều, như d́u nhau leo cây cầu kiều bắc qua bể
khổ, để suốt những năm ở trọ trên mặt đất không c̣n lạ ǵ,
ngại ǵ nước mắt với đau thương, cái mà trong bụng mẹ, thai
nhi đă nghiền ngẫm, đă nhấm nháp qua chiếc cuống nhau trần
thế. Con người bị vây bủa bởi "tiếng khóc ban đầu" và "nấm
cỏ khâu xanh ŕ", có vẻ như sợ hăi quá, hư vô quá, nhưng mà
hay quá, thấm thía quá, đương nhiên quá: "Trăm năm c̣n có
ǵ đâu / Chẳng qua một nắm cỏ khâu xanh ŕ". Hăi thật,
phàm là người, xưa nay có ai vượt qua nấm đất cuối của ḿnh
đâu? Bản thân cái chết cũng rất tự nhiên như cái sinh, chẳng
có ǵ đáng sợ. Ôn Như hầu gánh trên đôi vai thi ca: một bên
là cái sinh: " tiếng khóc ban đầu", một bên là cái diệt:
"nấm cỏ khâu xanh ŕ" mà đi tiêu dao qua tôn giáo và triết
học, đi qua cả nỗi yếm thế cùng nỗi yêu đời, đi vào tận sâu
cái Không để xóa cái Không, đi hết cái khiếp sợ để không c̣n
khiếp sợ nữa. Vậy th́ cái đau về nỗi người bèo bọt nào có xá
ǵ: "Nghĩ thân phù thế mà đau / Bọt trong bể khổ bèo đầu bến
mê". Ơ hay, không đi qua hết mê lầm th́ làm sao diệt được mê
lầm, không đi qua "sóng cồn" th́ sao biết được ḿnh là "con
thuyền bào ảnh": "Sóng cồn cửa bể nhấp nhơ / Chiếc thuyền
bào ảnh lô xô gập ghềnh". Hóa ra, ngay trong cái Không
này, thi ca đă t́m thấy cái Hữu từ trong cảm giác, từ cảm
xúc thẩm mỹ của nỗi "nhấp nhô", "gập gềnh" của cuộc đời bồng
bềnh, nhún nhảy như sóng gió, như vơng đưa, như những câu
lục bát sâu sắc mang tính tư tưởng cao nhất của thi ca Việt
Nam vừa trích dẫn.
Ôn Như Hầu dắt díu một đoàn cung nữ đang chết
khát yêu đương vượt qua sa mạc của cái Mộng hướng vào nguồn
suối cái Thực, qua cái Tâm lần t́m cái Vật, cũng là dắt díu
chính bản thân ḿnh vượt qua siêu h́nh, vượt qua biển bờ tôn
giáo hư không để oà ra gặp cái Ngă: rằng Tôi là có thật, Tôi
là chính của Tôi, không phải bào ảnh, ảo giác, không phải mê
lầm : "Giấc Nam Kha khéo bất t́nh / Bừng con mắt dậy thấy
ḿnh tay không". Sau giấc ḥe ma mị, bèo bọt , nhà thơ
trong lốt cung nữ đă kinh ngạc "thấy ḿnh" "tay không",
không c̣n ǵ cả, không c̣n hư mê, chỉ c̣n chính bản thân
ḿnh, trả cho vô biên cái hư ngă, chỉ mang theo cái chân ngă
mà thành thi ca. Nguyễn Gia Thiều rốt ráo chẳng hư vô chủ
nghĩa tí nào cả. Cứ tưởng ông tuyệt vọng chán đời, lánh đời,
ai ngờ ông chỉ núp vào Phật Lăo chơi tí như trưa nắng núp
nhờ bóng cây, đoạn an ủi các cung nữ một chút rồi lại sà
ngay vào kiếp người mà hy vọng, mà t́nh tứ, mà kén vợ gả
chồng cho từ hoa cỏ đến chim muông. Những câu thơ viết về
khát vọng lứa đôi hài ḥa âm dương vũ trụ hay nhất từ xưa
đến nay của thi ca Việt Nam trong Cung óan ngâm khúc,
khiến trời đất, cát bụi cũng muốn hoá vợ chồng: "Ḱa điểu
thú là loài vạn vật / Dẫu vô tri cũng bắt đèo ḅng / Có âm
dương có vợ chồng / Dẫu từ thiên địa cũng ṿng phu thê".
Tiếng Việt của ca dao tục ngữ được Nguyễn Gia Thiều nâng cao
thành chú rể Việt Nam cưới cô dâu từ ngữ Hán, điển tích Hán,
nhập quốc tịch chữ Nôm mà hóa hồn Việt thuần thục đoan
trang, b́nh dân đại chúng mà vẫn yêu kiều thục nữ, vẫn mỹ
lệ, tài hoa đến không ngờ. Thành ra Ôn Như hầu chính là ông
tơ hồng của văn học, lấy thi ca mà trói buộc chữ duyên t́nh
lên cả vần điệu, lên cả càn khôn. Vượt qua mọi cấm đoán thời
phong kiến, cấm đàn bà con gái không được bày tỏ ham muốn
xác thịt cả trong đời và trong văn học, Nguyễn Gia Thiều đă
ném ṭan bộ chăn gối của tinh thần giải phóng phụ nữ vào
chính mặt vua chúa, cũng là ném cảnh pḥng the vào vẻ đạo
mạo giả dối của thời đại, giật tung tấm b́nh phong, tấm màn
che phong kiến xuống tưởng không c̣n manh giáp: "Chốn
pḥng không như giục mây mưa", " Khi ấp mận ôm đào
gác nguyệt", "Mây mưa mấy giọt chung t́nh", "Lối
đi về ai chẳng chiều ong"... hoặc câu thơ mà phái phân
tâm học cũng phải gọi bằng thầy, thơ hay đến nỗi chim chuột
cũng phải ngẩn ngơ, mê mẩn: "Bóng gương lấp loáng dưới
mành / Cỏ cây cũng muốn nổi t́nh mây mưa". Đối với cái
dục, càng diệt, càng ư thức về diệt dục nó càng phát lộ. Thế
th́ làm sao hàng trăm cung nữ ngày đêm chết khát chờ "ơn mưa
móc cửu trùng" có thể hóa các ni cô mà tu thành chính quả
trong ngôi chùa "Cung oán"? Thành ra, muốn dắt đoàn cung nữ
của ḿnh tới cơi Phật, Nguyễn Gia Thiều phải đưa họ đi hết
cái dục, cái mà họ đang chết khát, đang bị đày đọa trong địa
ngục dục vọng. Đấy là bi kịch đớn đau nhất, tang thương nhất
của kiếp người, kiếp làm vợ vua trong thế giới "Cung oán".
Để muôn đời, những thân phận cung nữ kia sẽ nhờ buồn thương
mà bất tử với thi ca Ôn Như hầu, đặng khóc than về sự trớ
trêu của kiếp vợ vua: "Dẫu nhan sắc mấy cũng thừa / Lấy
chồng vua lại thành chưa có chồng" (thơ Trần Mạnh Hảo).
Thương thay những kiếp hồng nhan bạc phận, dẫu hóa cát bụi
vẫn c̣n thèm khát hạnh phúc chính ra họ đă được hưởng nơi
quê mùa, dân dă, điều không thể có trong cung vàng điện
ngọc: "Thà rằng cục kịch nhà quê / Dẫu ḷng nũng nịu
nguyệt kia hoa này". Chao, thi pháp Ôn Như hầu đâu chỉ
rực rỡ những lầu son gác tía. Hồn ông, thơ ông, qua khát
khao niềm chăn gố́ quê mùa của người cung nữ, đă chớm nhú
lên sắc vàng rơm rạ b́nh dân trong tinh thần "cục kịch nhà
quê" rất "oé oẹ", rất nôm na mà vẫn cứ sang trọng, quư phái
kiểu "má đào chon chót" ("Giải kết đều oé oẹ làm chi".../
"Song đă cậy má đào chon chót" ). Có phải Nguyễn Gia
Thiều muốn qua lời cung nữ mà ngụ ư, mà bóng gió nói về cuộc
trở dạ, cuộc lột xác, thóat thai của văn học Việt Nam từ Hán
sang Nôm từng quằn quại mấy thế kỷ từ thời Hàn Thuyên? Ấy là
khi ḍng thi ca dân tộc bắt đầu t́m cách chia tay với thi
pháp "bắt voi bỏ rọ" Hán, tâm thức mực thước Hán cung đ́nh,
để bước ra bầu trời tự do, bước sang thi pháp lục bát phóng
khoáng, uốn lượn bay bổng Việt, tâm thức nâu sồng Việt b́nh
dân đại chúng, chuyển từ phong cách "phong lưu" qua phong
cách "thanh đạm": "Miếng cao lương phong lưu nhưng lợm /
Mùi hoắc lê thanh đạm mà ngon"? Hàng trăm cung nữ chết
sầu chết héo, chôn má đào trong nấm mồ chung "vách quế, tiêu
pḥng" chỉ v́ "miếng cao lương phong lưu" giả hiệu ấy! Đến
khi biết nuốt vào "lợm" quá, tanh tưởi quá nhưng không nôn
ra được nữa rồi, đành ngồi mơ "mùi hoắc lê" dân dă hoa hèn
cỏ nội như mơ cảnh Niết Bàn. Măi măi, những cung phi ấy
không c̣n được hưởng hạnh phúc "mùi hoắc lê" nôm na tuyệt
vời, để chúng ta, hậu thế được hưởng trọn vẹn 356 câu thơ
nôm thuần Việt, hồn Việt "thanh đạm mà ngon" của Ôn Như hầu
tiên sinh tặng lại.
Giấu nỗi buồn đau của hàng trăm cung nữ bạc
phước, bất hạnh trong gan ruột ḿnh, rồi cất lên tiếng ta
thán của ngh́n năm cung cấm, tâm hồn Nguyễn Gia Thiều quả là
nhức nhói, quặn thắt đến cả trời đất, đành nhờ thi ca chuyển
tải xót thương tới muôn vàn mai hậu. Thương thay một thời
đại cung nữ, một thời đại song thất lục bát, một thời đại
của thi pháp vàng son đă biết cách nghiêng xuống t́m t́nh
duyên nơi "Lau nhau ríu rít c̣ con" nôm na dân tộc,
mà vẫn phải mếu máo cười khóc khi hát khúc ngâm "Cung oán":
"Cười nên tiếng khóc hát nên giọng sầu". Đau quá,
không chỉ kêu lên một tiếng cô đơn như tiếng kêu "hàn thái
hư" Không Lộ thiền sư xưa, mà là một tiếng kêu căm uất dài
tới hai trăm năm có lẻ: "Chống tay ngồi ngẫm sự đời /
Muốn kêu một tiếng cho dài kẻo căm". Ôn Như hầu dồn cả
nỗi oán hận chế độ phong kiến tàn ác, chà đạp t́nh yêu hạnh
phúc con người của không chỉ ngh́n muôn cung nữ vào trọn tâm
can ḿnh. Ông muốn đập tan thời đại vô luân đó, muốn đập tan
cả nền móng những khổ đau, muốn đập tan ngay cả thân xác
nặng nề đang chịu thay cái đau quằn quại của bao cuộc đời,
để tinh thần được tự do bay lượn trong vô cùng thế giới: "Dang
tay muốn dứt tơ hồng / Bực ḿnh muốn đạp tiêu pḥng mà ra".
Có thể cùng với bao cung nữ, thân xác Nguyễn Gia Thiều đă
nằm lại trong "tiêu pḥng" của chế độ phong kiến, nhưng tinh
thần ông, kiệt tác của ông là Cung óan ngâm khúc,
thực sự đă đạp đổ tung thời đại đau thương ấy mà bay về phía
chúng ta, về phía con người. Ở đó, linh hồn nhà thơ đă thực
hiện được giấc mơ của hơn hai trăm năm trước, cùng tiêu dao
trong thế giới Lăo Trang mà con bướm hoài nghi không c̣n ngơ
ngác giữa mộng và thực nữa :"Thoát trần một gót thiên
nhiên / Cái thân ngoại vật là tiên trong đời". Chừng như
tất cả chúng ta, thông qua tâm sự ngh́n thu cung nữ - Nguyễn
Gia Thiều, đều chỉ là những cung nam, cung nữ của v́ vua tạo
hóa?
Được kiệt tác Chinh phụ ngâm của Đặng
Trần Côn - Đoàn Thị Điểm gợi hứng, Nguyễn Gia Thiều, một đại
quư tộc, một đại trí thức, một tâm hồn thơ xuất chúng đă
mượn nỗi đau cung nữ mà hát lên tiếng thơ nôm tuyệt diệu,
vừa cao siêu đỉnh trời tư tưởng, vừa diễm lệ tận cùng t́nh
cảm cỏ hoa, vừa quư phái hàn lâm, vừa nâu sồng dân dă.
Cung óan ngâm khúc quả t́nh có thể xếp ngang hàng với
hai kiệt tác Chinh phụ ngâm và Truyện Kiều,
như tam vị nhất thể, như ba đỉnh núi thi ca trong một quần
thể tinh thần văn hóa Việt cuối thế kỷ thứ XVIII, đầu thế kỷ
thứ XIX c̣n sừng sững giữa trời, cùng ṿi vọi với đỉnh thi
ca đơn độc Ức Trai trên dưới bốn trăm năm trước. Rất tiếc,
trong chương tŕnh văn học từ bậc phổ thông đến bậc đại học,
kiệt tác Cung óan ngâm khúc chừng như chưa được đánh
giá đúng mức? Tất cả chúng ta, như lớp lớp người xưa, kể cả
những tay bơi cự phách nhất như "rái tướng" Yết Kiêu và Dă
Tượng đời Trần, đều sẽ lần lượt, kẻ trước người sau bị sự "đành
hanh" của tạo hóa cḥng ghẹo, đến độ phải chết đuối trên mặt
đất, như câu thơ hay đến kỳ lạ của Nguyễn Gia Thiều: "Trẻ
tạo hóa đành hanh quá ngán / Chết đuối người trên cạn mà
chơi". Nhưng may mắn thay, tṛ con tạo đùa chơi không
thể đánh ch́m được hồn thơ Cung óan ngâm khúc, dù là
sự đánh ch́m "trên cạn". Thi phẩm này cứ trôi lênh đênh như
một cái phao tâm linh cứu nạn trên mặt đất, sẵn sàng cho
những chơi vơi níu bám, ít ra là đối với những tâm hồn đă
được mỹ cảm thi ca cứu rỗi.
© eVăn 2004
|