|
Chúng ta từng chứng kiến việc PGS. Nguyễn Lộc xuyên tạc văn
bản thơ Nguyễn Khuyến trong sách giáo khoa Văn trung học
bằng cách để nhà thơ ngồi ngắm hoa khô. Không, Nguyễn Khuyến
ngồi lẫn giữa trăng suông rượu lạt, lẫn trong hoa tươi, tre
trúc, rơm rạ, ao chuôm, lẫn trong ếch nhái, đom đóm cùng
thuyền thúng, lá thu rơi để trào lộng chua cay thời thế đảo
điên, đoạn rút vào thui thủi, lẳng lặng cô đơn, cô độc, đêm
đêm tự mài hồn mình thành máu mực đề thơ mà nhớ nước. Như
thể nước lụt Hà Nam đã hóa giặc Lang Sa cuốn đi tất cả, chỉ
mình ông sót lại cùng vài người bạn bơ vơ :" Nước non man
mác về đâu tá / Bè bạn lơ thơ sót mấy người / Đời loạn đi về
như hạc độc / Tuổi già hình dáng tựa mây côi " ( Cảm hứng ).
Có thể nói, Nguyễn Khuyến là bậc đại nho cuối cùng trăn trở
tìm mùa thu ở ẩn, là con hạc thi ca cuối cùng của thời đại
phong kiến Việt Nam còn giữ được cốt cách và tinh thần hạc
vàng Thôi Hiệu, đã một mình lặng lẽ bay qua thế kỷ thứ XIX
buồn đau, u uất, đặng tìm chỗ đậu trong 9 năm đầu của thế kỷ
thứ XX, rồi đột ngột bay vào hư vô dịp tết âm lịch đầu
năm1909 khi vừa tròn 74 tuổi hạc. Thân phận "hạc độc" của
Nguyễn Khuyến quả là cô đơn đến tột cùng, u uất, lủi thủi
tới tận cùng thi tứ. Vòm trời xưa của hoàng hạc thanh cao,
tinh khiết là thế, nay diều quạ đen trời si sô đến cướp mất,
nên :"Nước non man mác về đâu tá" và hồn thơ chừng cũng mất
nẻo đi về. Con hạc này bị thời đại bỏ rơi, tưởng không còn
một chỗ đậu trên chính quê hương mình. "Hạc độc" đành hóa
đám "mây côi" mà lơ lửng như chính hồn thơ Nguyễn Khuyến còn
lửng lơ bao nỗi niềm khôn khuây trên vòm trời văn học Việt
Nam thuở nước nhà bị mất vào tay giặc Tây dương. Chao ôi,
hơn một trăm năm trước, cả đám mây trong mắt thi hào cũng
phải mồ côi vòm trời, như nhà nho mồ côi vua, dân mồ côi
nước. Tinh thần " hạc độc" với " mây côi" bàng bạc, xuyên
suốt thời đại và cuộc đời Nguyễn Khuyến, thành một phần tư
tưởng, tình cảm thẩm mỹ của hồn thơ ông.
Những bài thơ tả cảnh quê hương Việt Nam hay nhất, đẹp nhất
của ông cũng là cốt tả cái hay, cái đẹp của lẻ loi, cô quạnh,
se sẽ đẹp, trong veo và xa vắng đẹp đến vô cùng khuất nẻo bơ
vơ :"Tiếng sáo vo ve chiều nước vọng / Chiếc thuyền len lỏi
bóng trăng trôi". Hồn thơ Nguyễn Khuyến chính là "Tiếng sáo
vo ve" bên trời "nước vọng", là "bóng trăng trôi"dưới dòng
lũ vô tình cuộn xiết, hóa chiếc thuyền thơ cô độc len lỏi
trên thi đàn Việt Nam thuở cơn lụt lội nhân tình thế thái
ngập tràn xứ sở. Ngay trong hai câu thơ hay đến sững sờ tả
cảnh đẹp hun hút, đẹp rờn rợn nổi gai ốc của nước lụt Hà Nam
này, Nguyễn Khuyến cũng chỉ cốt mượn nước lụt mà gọi hồn
nước về trong từ "nước vọng" để : "Sửa sang việc nước cho
yên ổn"... Tâm thức "nước", "nước non", "đất nước"... có thể
nói là tâm thức chủ đạo của Nguyễn Khuyến trong cả thơ nôm
và thơ chữ Hán; tuy ở đây chúng tôi chỉ mới khảo sát qua thơ
nôm của ông mà thôi. Trong bài thơ "Tự trào", Nguyễn Khuyến
nói thẳng ra điều cốt lõi nhất, đau đớn nhất của ông là nỗi
nhục, nỗi đau vong quốc, thông qua nghĩa đen của cuộc chơi
cờ :"Cờ đương giở cuộc không còn nước". Vì "Không còn nước "
nên vua cũng không còn thực nữa, chỉ là vua hề, chỉ là quan
phường chèo thôi :" Vua chèo còn chẳng ra gì / Quan chèo vai
nhọ khác chi thằng hề "( Lời vợ anh phường chèo). Một vị túc
nho lấy trung quân ái quốc làm đầu, phải tự tìm nhọ nồi,
muội đèn, tro trấu mà bôi trát lên mặt vua quan thành trò hề
như thế, với Nguyễn Khuyến hẳn là nỗi đau lớn nhất trong đời?
Vì "Không còn nước" nên sau hơn 12 năm làm quan tới chức
Tổng đốc Sơn Tây, lúc vua Tự Đức mất và vua Hàm Nghi ra
chiếu cần vương chống Pháp, nhà thơ mượn cớ mắt lòa cáo quan
về ẩn dật cùng cà thâm dưa khú. Ông buồn lặng hóa "mây côi",
hóa "hạc độc", hóa thành " hoa năm ngoái", thành "ngỗng nước
nào", thành con cuốc gọi hồn nước năm canh, thậm chí hoá
thân vào mẹ Mốc, vào gái góa, vào anh giả mù, giả câm giả
điếc, thậm chí giả điên kiểu Sở cuồng, làm thơ đả kích giặc
và tay sai, như một cách yêu nước kháng Pháp của riêng mình...
Nguyễn Khuyến đau đớn nhận ra hoa nở ngoài giậu thu cũng
không còn là hoa hôm nay của mình nữa, ngỗng kêu trên bầu
trời quê hương dĩ nhiên là ngỗng nước mình, chứ sao lại là
ngỗng nước nào:" Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái / Một
tiếng trên không ngỗng nước nào" ?( Thu vịnh). Khi "Không
còn nước" nữa thì con ngỗng kia cũng thành vong quốc, vong
thân, thành "ngỗng nước nào"thôi. Phải chăng ngỗng ấy cũng
là ngỗng từ năm ngoái, ngỗng của mình xưa mà không dám nhận,
mà phải đau đớn than là "ngỗng nước nào"? Rằng người không
còn giữ được nước thì bay về làm gì ngỗng ơi? Nhà thơ tủi hổ
với cả ngỗng trên trời và hoa dưới đất, muốn làm con cá lặn
khuất dưới ao bèo, ngại cả nỗi cắn câu. Đất đã mất thì trời
phỏng còn ư, mùa thu phỏng còn ư ? Hoa ấy, ngỗng ấy cũng là
Nguyễn Khuyến; như "mây côi" và "hạc độc" kia còn bị vong
thân, vong quốc huống nữa là trời đất, con người! Chúng tôi
cho rằng, dù viết về phong cảnh mùa thu nông thôn , dù nới
rộng đề tài ra từ bản thân mình đến xã hội, từ chim hoa, xóm
mạc đến nước non... hồn thơ Nguyễn Khuyến bao giờ cũng toát
lên một tinh thần yêu nước sâu xa, yêu nước trong đau đớn,
tủi buồn, yêu một cách trầm lắng mà sôi sục, quặn thắt mà
quan hoài, trào lộng mà trữ tình, kín đáo mà động vang, cô
đơn mà hòa nhập, lạnh lùng mà bỏng cháy, dữ dội mà dịu êm.
Bút pháp nghệ thuật bậc thầy dùng thuỷ nói hỏa, dùng tĩnh tả
động, dùng dương tả âm, dùng vật tả tâm, dùng cảnh ngụ tình
và ngược lại của Nguyễn Khuyến đã khiến không ít người khi
tiếp cận thi ca ông, mới đụng vỏ ngoài đã tưởng thấu vào gan
ruột. Ví như trường hợp ba bài thơ thu của thi hào là bài
"Thu vịnh", "Thu điếu", "Thu ẩm" được coi là dấu hiệu thiên
tài của nhà thơ nông thôn đệ nhất Việt Nam mà có người, ngay
cả khi viết sách giáo khoa cũng chưa thẩm hết hồn thu Nguyễn
Khuyến. Họ nhìn bằng mắt thường nên ngỡ mặt ao thu bình lặng
kia là đáy nước, nên bảo nhà thơ viết về mùa thu với tâm
trạng thư thái, an nhàn(!) Rằng nhà thơ uống rượu say nhè
như anh Chí Phèo say rượu lè nhè vậy...Không, Nguyễn Khuyến
chỉ hớp một tí rượu trong chén hạt mít lấy hứng, chứ không
say lè nhè như ai hiểu. Dưới cảnh thu, ngồi nhấp chút rượu
thu, câu cá thu, làm thơ thu, nhà thơ chỉ mượn bề mặt tĩnh
lặng ao thu mà tả sự động vang sôi sục, quặn thắt, u uẩn,
buồn thương nơi thẳm đáy lòng mình , đặng gọi hồn nước đã
mất về thương hồn thu hiển hiện. Nói theo kiểu Apollinaire,
Nguyễn Khuyến chừng cũng cảm thấy hồn thu đã chết, đã bỏ đi
đâu như hoa kia ngỗng nọ, chỉ còn thân xác thu trong veo, cô
quạnh, vắng ngắt, bàng bạc như con ve mùa hè nằm chết trong
mùa thu sau khi đã hát rỗng cả ruột gan. Tả lửa song Nguyễn
Khuyến vẽ khói, tả nước mà nói thu, tả nỗi thẹn mình, tủi
lây sang thu mà phải mượn tới ông Đào Tiềm đời Tấn. Cũng có
thể gọi ba bài thơ thu của ông là tiếng chiêu hồn thu, chiêu
hồn nước. Ngồi thưởng thu không chút thư nhàn, đau xót quá,
cảm thương nước mất mà sao thu vẫn rưng rưng tìm về, nên nhà
thơ không đừng lòng được, đành rơm rớm khóc :" Mắt lão không
vầy cũng đỏ hoe"? Đừng đổ oan cho Nguyễn Khuyến "mắt đỏ hoe"
vì say rượu. Mùa thu trong ba bài thơ đẹp đến lạnh ngắt, đẹp
đến tột cùng cô đơn, u tịch, phải chăng vì mùa thu chưa
chiêu được hồn "hoa năm ngoái", chưa gọi được vía " ngỗng
nước nào"...? Cám cảnh thay nỗi " Tựa gối, ôm cần lâu chẳng
được" của nhà thơ, như thể ông là tù binh của cần câu, là tù
binh của chính hồn mình đang ở đâu đâu trong trời đất mang
mang thiên cổ lụy? Nguyễn Khuyến yêu nước lắm, thương nòi
lắm, đau đớn nỗi đời quay quắt lắm, đành giấu kín tình yêu
nước vào cảnh thu, ao thu, rượu thu như cá giấu dưới ao bèo.
Thi thoảng, ta nghe một tiếng "Cá đâu đớp động dưới chân bèo",
như nhà thơ ngầm an ủi mình rằng còn cá tức nhiên còn nước...Vì
vậy, Nguyễn Khuyến rút ruột hóa thân vào hồn Thục Đế xưa,
thành con cuốc gọi hồn nước nay đến chảy máu cả đêm hè :"
Năm canh máu chảy đêm hè vắng / Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt
mờ / Có phải tiếc xuân mà đứng gọi / Hay là nhớ nước vẫn nằm
mơ " ( Cuốc kêu cảm hứng ). Thương thay cho "Ngỗng nước nào"
vẫn không chịu bay đi, còn kêu xé trời cao trong thảng thốt
nỗi niềm dù mùa thu đã chết. Con ngỗng vong thân, gãy cánh,
đáp xuống trang thơ mà hóa thành con cuốc Việt Nam chiêu hồn
nước tới bây giờ. Bài thơ "Cuốc kêu cảm hứng" thật hay, thật
đoạn trường, đọc xong muốn khóc. Chúng ta thương và kính
trọng Nguyễn Khuyến vô cùng. Ông đã nén cả một nhân cánh lớn,
một hồn thơ lớn, một tri thức lớn, một nỗi đau lớn vào tiếng
cuốc nhớ nước thảm thiết làm chảy máu cả tâm can người đọc
hôm nay.Tinh thần hoài cổ, tinh thần "Hay là nhớ nước vẫn
nằm mơ " len lỏi vào mọi tâm sự, mọi vui buồn, thương giận,
nhớ nhung của nhà thơ. Ngay cả khi vịnh ông phỗng đá với ngụ
ý diễu mình, nhà thơ vẫn xót xa hỏi :" Non nước đầy vơi có
biết không ?"Chính vì nỗi "non nước" khôn nguôi này làm ông
tủi hổ, làm như lỗi tại mình mà nước mất nhà tan, nên mượn
thơ mà cả thẹn :" Áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già / Xuân về
ngày loạn càng lơ láo ". Một người tài cao, học rộng, thương
xót, nương nhẹ từng cọng cỏ nhành hoa, một nhân cách lớn,
khiêm cung tự tại, lại phải đưa mình ra mà diễu, mà tự cười
cợt, bông phèng mình thì hẳn là phải đau đớn lắm, khổ tâm
lắm :"Mở miệng nói ra gàn bát sách / Mềm môi chén mãi tít
cung thang / Nghĩ mình lại gớm cho mình nhỉ " hoặc :" Lúc
hứng uống thêm dăm chén rượu / Khi buồn ngâm láo một câu thơ
". Một người thính nhạy như Nguyễn Khuyến từng biết nghe
bằng hồn, bằng vía, chán nỗi đời đục mà giữ mình trong, đành
ngụ mình, nương mình làm "Anh giả điếc ":" Trong thiên hạ có
anh giả điếc / Khéo ngơ ngơ ngác ngác ngỡ là ngây" ...."
Sáng một chốc lâu lâu rồi lại điếc". Phải giả mù, giả câm,
giả điếc để sống, mà vẫn sống được trong xã hội nhố nhăng
nửa thực dân phong kiến thối nát, đảo điên kia, mới thương
cho Nguyễn Khuyến phải ra tuồng trong chính thân phận
mình:"Mua vui lắm lúc cười cười gượng / Giả dại nhiều khi
nói nói bông". Mượn sự điên dại của " Mẹ Mốc" tỏ bày tâm sự,
Nguyễn Khuyến như tự xé quần áo tinh thần mình để phơi bày "hình
hài gấm vóc" ra mà che mắt thế gian, những mong yên ổn :"Tấm
hồng nhan đem bôi lấm xóa nhòa / Làm thế để cho qua mắt tục
". Mẹ Mốc ấy là tâm hồn vằng vặc muôn sau của Nguyễn Khuyến,
sống trong thế giới của những "Đĩ cầu Nôm", "Tiến sĩ giấy",
"Hội Tây"...vẫn không chút bợn nhơ :" Sạch như nước, trắng
như ngà, trong như tuyết / Mảnh gương trinh vằng vặc quyết
không nhơ "... Nhà thơ vô cùng căm ghét bọn cướp nước và bán
nước. Ông dùng tài thơ trào phúng vừa hóm, sâu, vừa cay độc
đến tận cùng mà váy hóa lá cờ tam tài của giặc trong tiếng
cười thâm thuý :" Ba vuông phất phới cờ bay dọc / Một bức
tung hoành váy xắn ngang". Hóa ra cái váy con đĩ của thời :"
Vợ bợm, chồng quan, danh phận đó" đã được kéo lên thành cờ "ba
vuông" phất phới, ngang dọc, làm bình phong che mặt tham
quan ô lại đục nước béo cò. Nguyễn Khuyến mang vũ khí trào
lộng vạch mặt chúng bằng tiếng cười cay độc :" Có tiền việc
ấy mà xong nhỉ / Đời trước làm quan cũng thế a ?" Phải sống
trong thời " Đĩ mà có tàn, có tán, có hương án, có bàn độc "
làm sao Nguyễn Khuyến không thẹn thùng, tủi hổ, xót xa cả
hồn thơ, đành than trời :" Thử xem trời mãi thế này ư ?".
Tìm mùa thu ẩn mình không yên ổn, núp vào mình cũng không
xong, nhà thơ đôi khi phải trốn vào giấc mơ mà chơi trò đánh
bùn sang ao bản thể, mà lẫn lộn bóng mình với bóng người,
lấy hư làm thực bằng một câu thơ tuyệt hay, rất hiện đại :"
Bóng người ta nghĩ bóng ta / Bóng ta, ta nghĩ hóa ra bóng
người"( Bóng đè cô đầu).
Thơ nôm Nguyễn Khuyến hay cả ở thần lẫn ở thái, ở hình lẫn ở
thể, ở hồn chữ dân gian, gợi cảm, mới lạ, hiếm thấy ví như
:" Quyên đã gọi hè quang quác quác / Gà từng gáy sáng tẻ tè
te ...Đôi gót phong trần vẫn khỏe khoe ", " Bán buôn gió chị
với trăng dì"...Nguyễn Khuyến quả là thánh chữ khi dùng động
từ "thập thò " trong câu thơ thần tình sau :"Một khóm thuỷ
tiên dăm bảy cụm / Xanh xanh như sắp thập thò hoa". Câu thơ
"sắp thập thò hoa" này mang đặc trưng nhất của phong cách
Nguyễn Khuyến. Từ đây, ta có thể thấy thi pháp " thập thò
hoa" là thi pháp độc đáo kỳ khu của thơ ông : thập thò giữa
tình và cảnh, giữa vật và tâm, âm và điệu, cảm và thức, thập
thò giữa thực và hư... kiểu "hoa năm ngoái" và "ngỗng nước
nào"... Nguyễn Khuyến mượn cảnh đẹp nông thôn mà yêu nước
Việt, một tình yêu buồn thương u uất được thể hiện bằng nghệ
thuật trữ tình trào phúng của thơ bậc thầy. Ông chính là
ngọn Đọi sơn của thi ca Việt Nam, nơi nhà thơ từng viết: "
Chùa xưa ở lẫn cùng cây đá / Sư cụ nằm chung với khói mây".
Không, chính là hồn thơ Nguyễn Khuyến vẫn "nằm chung với
khói mây" trên đỉnh trời thi ca dân tộc. Thắp nén hương ngày
tết tưởng nhớ lần giỗ thứ 90 của Nguyễn Khuyến, cũng là dịp
cho ta đọc lại câu thơ hay nhất của thi hào mà giật mình
trước tấm lòng trắc ẩn và tư tưởng sâu sắc của tiền nhân, đã
có nhã ý mượn tóc gió mà dối lại cho đời sau câu hỏi nhức
nhói khôn cùng của triết học nhân sinh :"Ngọn gió không
nhường tóc bạc a ?". Vâng, ngọn gió thời gian, ngọn gió của
quy luật muôn đời không nhường tóc bạc thời đại Nguyễn
Khuyến đã đành, mà kể cả thời đại chúng ta, nó cũng không
biết nhường ai cả, dù là tóc bạc của thi ca, của thiên tài
đi chăng nữa.,.
Đã in trong tập : “Những vì sao văn học” của Trần Mạnh
Hảo-NXB Văn Hoc 2004
|