|
Bs Lê văn Lân
Cá mắm xứ Huế Một kho tàng thi tứ mặn ṃi
festivalhue.com
Viết về Cá và Mắm xứ Huế, tôi dựa vào ít ỏi vài tài liệu trong tay tuy không đầy đủ nhưng tôi hy vọng nêu lên phần nào một trong những nét đặc trưng ẩm thực của người dân Huế. Trên thế giới hiện nay, duy nhất chỉ có dân Mỹ là không bị vấn đề thiếu thịt ăn, c̣n kỳ dư phần lớn dân của những quốc gia khác đều ở hoàn cảnh “ đói thịt”( meat hunger ). Dân Thừa thiên Huế đă chia xẻ một mẫu số chung về sự ăn cá và mắm với những người dân vùng Đông Nam Á nói chung và dân ba miền đất nước Việt Nam nói riêng. Cá và các loài thủy sản cùng với mắm và nước mắm chính là những thức ăn cơ bản sau cơm gạo và rau dưa cà muối. Kho tàng phong phú của hằng trăm câu tục ngữ và ca dao Việt Nam đă khẳng định điều trên:
_ Nói về cá th́: Cơm với cá như mạ với con; Ngon cá khá cơm; Con
cá đánh ngă nồi cơm; Cá bống kho tiêu, cá thiều kho ớt; Cá dở
th́ hấp hành tươi, Cá ngứa thêm nấm, cá buôi thêm ng̣; Cá thiều
mà nấu canh chua, Một chút dư thừa cũng chẳng bỏ đi; Ong,
hương, hanh múi, ngạnh nguồn, Cá ŕa, lệch núi chẳng nhường thịt
heo v.v và v.v…
_ Nói về nước mắm và mắm th́: Nước mắm ngon dầm con cá liệt, Em
có chồng nói thiệt anh hay; Cá kèo mà gặp mắm tươi, Như nơi đất
khách gặp người cố tri; Cơm mắm, lắm cơm; Liệu cơm mà gắp mắm ra,
Liệu cửa liệu nhà em lấy chồng đi; Muối mè ăn với ruốc kho, Có
chết bên mồ cũng dậy mà ăn; Khách quen thân ruột rà,
Mới được
chủ nhà mời ăn mắm ruột v.v và v.v.. Chấm trên bản đồ, các xứ ăn cá và mắm ở dọc bờ biển và qui tụ nhiều nhất Viễn Đông là Việt Nam, Cao miên, Thái lan, Mă lai, Miến điện, Nhật bản, Cao ly. Dân Tàu các vùng duyên hải ở Hoa nam, Hải Nam, Phúc kiến, Quảng đông cũng ăn nước mắm và mắm. Tuy nhiên, cũng thời là nước mắm và mắm, mỗi xứ lại những kỹ thuật chế tạo nh́n đại thể th́ giống nhưng lại có những t́nh tiết riêng biệt do đó mùi vị không giống nhau. Và cách pha chế để ăn cũng đương nhiên thay đổi tùy theo “gu” từng nước, thậm chí từng vùng, từng tỉnh…
Bờ biển Việt Nam dài hơn 2500 cây số , bắc có vịnh Hạ long, tây
nam có vịnh Thái lan, chưa kể với nhiều vụng biển, đầm phá cùng
những hải đảo cùng nhiều ḍng hải lưu. Do đó có thể nói dân Việt
Nam từ ngàn xưa đă biết làm nhiều thứ mắm. Duyên hải Trung phần
Việt Nam dài nên chuyện ăn mắm mặn tương đối nhiều hơn miền Bắc.
Trong khi dân Bắc thường chỉ hay nhắc đến mắm tép và mắm rươi…,
dân miền Trung làm hàng chục loại mắm: mắm ruốc, mắm nêm, mắm
tôm chua, mắm gạch cua, mắm cá ngừ, cá nục, cá cơm, cá ṛ …C̣n
miền Nam với hai nhánh Tiền và Hậu giang của gịng sông Cửu long
là nguồn thủy sản nước ngọt quan trọng nên Châu đốc và Vĩnh long
là hai vựa lớn về mắm đồng (dă hàm). Tỉnh Phan thiết và đảo Phú
quốc là hai nơi sản xuất nước mắm quan trọng cho cả nước và xuất
khẩu.
Nguồn thủy sản của Thừa Thiên - Huế.
Theo Tô-Hữu Quỵ (Hoàn cảnh Địa lư Huế - Thừa thiên / Đặc san
Tiếng Sông Hương của Lê Chí Thảo 1983) vùng Thừa Thiên - Huế
rộng khoảng gần 5 ngàn cây số vuông, nhưng đồng bằng chỉ chiếm
khoảng 1/3 diện tích trên, được nhuần tưới bằng 2 sông chính là
sông Hương và sông Bồ. Địa thế tổng quát của Thừa thiên - Huế
cũng giống các tỉnh miền Trung, gồm đủ núi, rừng, sông, biển,
đồng bằng. Nhưng điểm đặc biệt của Thừa Thiên- Huế là vùng đồng
bằng trước khi ra đến biển giao ḥa cùng nước mặn đă tạo thành
những vùng đất phụ, trũng chiếm một diện tích quan trọng gọi là
“phá” hay vùng nước “lơ lớ”. Có ba phá là Tam Giang ( 49 km2),
Thuận An (54km2), Cầu Hai (114km2). Nh́n chung th́ đồng ruộng
chỉ chiếm 500km2 và đất khô để ở trồng trọt khoảng 200km2, c̣n
bao nhiêu là đầm phà, đất hoang và núi. Đất đai chỉ có vùng nằm
hai bên Quốc lộ 1 tương đối bằng phẳng, mầu mỡ, nhờ đất phù sa
và đất mùn của vùng cận sơn bồi bổ. Nguồn thủy sản của Huế chính là do biển và các đầm phá. Chiều dài bờ biển là 78 dặm, nhưng diện tích chung của các phá là 217 cây số vuông. Riêng đầm phá Cầu Hai nhờ có độ mặn đặc biệt nên cung cấp nhiều hải sản ngon như tôm cá. Thủy sản từ sông Hương thường không đáng kể, chỉ cung ứng cho các chợ địa phương do các vạn chài, nhất là vào mùa lụt. Cảnh lụt th́ người dân Huế rất sợ v́ cuốn theo người, nhà cửa, ḅ trâu nhưng theo bác sĩ Tôn nữ Phùng Mai, lụt cũng đem lại cho người dân vài thứ thủy sản bất ngờ: Lụt là khi cá lúi trứng thơm. Diếc, dầy, hồng sáp, ong hương Ngạnh nguồn là cá lụt thương mang về Chim mỏ nhát, triết, c̣ chim nghịch Ấy sơn hào, hải vị cố đô Cá ch́nh, lệch huyết thơm tho Bước ra Chợ Mới, mắm ṛ có ngay Khế xâm nấu thịt gây hương vị Lại dưa nưa, dưa kiệu , chuối cây Chờ khi mưa lụt mới bày, Bắp cau trộn với mè xay đỡ ghiền.
(Nhớ Vỹ Dạ của Phùng Mai) ( Chú thích về cá Ngạnh-nguồn : Cá này sống ở khe núi trên Nguồn của sông Hương, ít thịt nhiều xương, ở ngoài hai mang tai có hai cái ngạnh dài. Vùng Nguồn này có một thứ “ măng giang” ăn mùi vị không ngon nên do đó có câu hát sau: Măng giang nấu cá ngạnh nguồn, Đến nay nên phải bán buồn mua vui. Theo cụ Tiểu Cao Nguyễn văn Mại, đây là một câu phong dao lịch sử nhắc đến cảnh cực khổ của đám dân ngoài Bắc theo chân Chúa Tiên Nguyễn Hoàng vào trấn nhậm vùng miền đất Ô Lư hoang vu nhưng họ đồng ḷng quyết chí khai phá.) Băo lụt thường gây ảnh hưởng trầm trọng về môi trường sinh thái cho nguồn thủy sản ở Thừa thiên - Huế. Băo lụt bất ngờ thường do những trận mưa trái mùa xuống những sườn núi dốc của dăy Trường sơn. Để ngăn ngừa lũ lụt, nạn chặt cây rừng phải được nghiêm cấm và người ta đang dự trù công tŕnh do ngoại viện để xây một đập trên nguồn Tả trạch của sông Hương (Nguồn này phát nguyên từ núi Trường đông, dài quanh co cả trăm dặm rồi lao ḿnh xuống với 55 ngọn thác nước đổ sóng reo rồi từ từ chảy đến ngă ba Bảng Lăng để hợp với nguồn Hữu Trạch thành con sông Hương chảy lững lờ ra biển).
Phá Tam giang ngày xưa vào cái thuở “ Nhớ em anh cũng muốn vô,
Sợ Truông nhà Hồ, sợ Phá Tam giang” th́ sâu nhưng v́ phù sa bồi
lắng nên càng ngày càng trở nên cạn đi với chiều sâu hiện nay
khoảng 2 thước. Phá Tam giang là một trong những phá lớn vùng
Đông Nam Á. Một hoạt động khởi sự vào năm 1977 trong sự nuôi
dưỡng rong biển nguyên thủy càng ngày càng gia tăng làm cho đầm
phá trở thành thuận tiện cho sự dưỡng ngư đem lại nhiều thu nhập
hơn đánh cá ở biển ví du vào năm 1994 thâu hoạch của sự đánh cá
ở biển cao ba lần hơn thâu hoạch của dưỡng ngư nhưng giá thành
bán cá nuôi cao bốn lần hơn cá bắt và tôm cao chín lần hơn. Tuy
nhiên trận lụt vào tháng 11 năm 1999 là một trận lụt lớn nhất
thế kỷ đă gây một thiệt hại khủng khiếp. Trước khi lụt này, phá
chỉ thông với biển Đông bằng hai cửa nhưng sau lụt th́ làm lở
trôi thêm một phần giải đất ngăn đầm phá với nước biển và chỗ lở
này nằm trên đường thẳng với giang khẩu nên đă gây nhiều rối
loạn về cấp độ mặn của nước lợ trong đầm phá nên
ảnh hưởng trầm
trọng cho dân dưỡng ngư và nhà nông, ví dụ như tôm
cá đầm Cầu Hai
sở dĩ ngon là nhờ độ mặn lư tưởng của vùng nước ở đây.
Mâm cơm của Mạ Nh́n lại hoàn cảnh địa lư thiên nhiên với thiên tai lũ lụt hằng năm của vùng Thừa thiên - Huế, hột cơm con cá đối với người b́nh dân chưa hẳn đă dễ làm ra nếu không phấn đấu cơ cực. Do đó, cách ăn uống của đa số người dân là “chém to kho mặn”. Ta hăy nghe Huy Phương tả những mâm cơm gia đ́nh của anh hồi nhỏ: Thuở ấu thời , mắm cà cùng muối đậu Con đă quen ngon miệng món nhà bần Lúc mớ rạm ngoài đồng đem rang muối Mùa nước lên con bống thệ kho khô. Những chột nưa mạ nấu cùng tí ruốc, Rau tập tàng vị ngọt những ngày thơ. Đọt rau khoai ngọt ngào con tôm đất Hũ tép chua có những lát măng ṿi. Bánh tráng nướng c̣n thơm mùi mít trộn Những món quen con vẫn nhớ trọn đời. Ngày mưa băo, trên mâm thường trứng luộc, Trưa mùa hè, nước rau muống thay canh. Chút dưa, muối cũng vội vàng xong bữa Sao mạ hay… ngồi ăn cuối một ḿnh.
( Con là con mèo Trạng Quỳnh của Mạ_ Huy Phương) Cái ngon đến nhức chân răng! Qua hồn thơ Huy Phương, tôi bỗng hiểu tại sao tâm lư của những người Việt trăm người như một .Khi nhắc món ngon quê mẹ nhất là mắm đều ca tụng hết lời tưởng chừng chỉ có nó mới đáng gọi là ngon. Qua mắm muối dưa cà kham khổ họ đă t́m lại h́nh ảnh của người mẹ lam lũ hy sinh. Khẩu vị của họ đă bị “ điều kiện cách” nên trước miếng hamburger của Hoa Kỳ , họ dửng dưng như con mèo của Trạng Quỳnh ngày xưa vậy. Về phương diện tiến hóa, mọi sinh vật sơ đẳng đều phát triển sơ khởi trong môi trường nước biển và cơ thể con người là một thùng nước muối đẳng trương di động. Do đó, thực phẩm chúng ta ăn đều ít nhiều phải có muối và vị “ mặn” là ṇng cốt của vị giác. Một người bạn đă hỏi tôi về một bà tôn nữ ở Huế trước khi đi lấy chồng đă đăi người yêu một bữa ăn gồm 21 món muối, chuyện đó có thực không?” Tôi thú thực có nghe chuyện cơm muối này với t́nh tiết tương tự, nhưng con số th́ khác! Người nói 10 kẻ nói 12 đại khái kê ra là :muối sống, muối trắng, muối rang, muối hầm, muối tiêu, muối tiêu chanh, muối ớt, muối sả, muối ruốc, muối khuyếc, muối đậu, muối dầu lai… Thông điệp của bà tôn nữ qua bữa cơm muối “vừa ăn vừa ngậm mà nghe” trên phải chăng gói ghém một cách lửng lơ: Ai biết t́nh ai có đậm đà? Riêng tôi, bữa cơm này phải gọi là bữa cơm Chương đài! V́ phần nào khi gặp lại về sau th́ “Cành xuân đă bẻ cho người chuyên tay” và phần nào cũng giống chuyện ”Một ḿnh ăn hết 12 vại cà“ của một anh chàng làm rể nào đó qua ca dao! Đậm đà mặn ṃi đâu th́ chưa biết , nhưng chắc chắn là tha hồ mà khát. Không phải khát t́nh mà là khát nước chết bỏ. Cũng may là không có bữa cơm Chương đài dọn ra với nhiều thứ mắm. Nói chí t́nh, mắm muối quả là rất ngon bổ lành mạnh. Mắm một khi quen ăn th́ bắt ghiền v́ đây là thành phẩm của nhiều diếu tố thiên nhiên trong tế bào tôm cá gây ra một tác dụng tự phân giải cộng với tác dụng lên men của các vi khuẩn hiếu diêm ( chịu muối). Nhờ cá và mắm, dân Việt nam nghèo không bị thiếu dinh dưỡng về protein, thiếu calcium trong xương cá và thiếu sinh tố B 12 rất nhiều trong những rong rêu trong ruột cá. Mắm lại chứa hơn 100 hóa phẩm dễ bay hơi gồm hydrocarbons, alchohols, carbonyls, acid béo, esters ; do đó mắm dễ dậy mùi, ăn vào đúng là “ngậm mà nghe” v́ hương vị của những amino-acids lừng lên để tác dụng trên gai lưỡi và kích thích các tiêm mao trong xoang mũi.
Người ta thường ăn mắm kèm theo nhiều rau cỏ và nhiều phụ gia
phẩm mà mỗi thứ đóng góp những hương vị riêng : khế chua, vả
chát, ớt cay, tóp mỡ béo, mè và đậu phọng bùi, tỏi nồng, riềng
the ngai ngái. Đúng là "Trùng dương mở hội" khi ăn một đọi cơm
hến nêm nếm vô với trên dưới 21 thứ phụ gia phầm và gia vị. Dân
Huế có đặc tính ăn rất cay với đủ “giai tần cấp độ về thống khổ”
do tác dụng của capsicain của ớt trên các giác quan: cay chẩy
nước mắt, cay sặc đến nấc cụt, cay xé lưỡi, cay điếc lỗ nhĩ, cay
toát mồ hôi, cay đến tận hậu môn, chu choa là sướng. Cái ngon
của mắm- quả là “bất khả tư ngh́” bằng ngôn ngữ của nhân gian,
họa chăng với thành ngữ đơn sơ “ngon đến nhức răng” nghe ra ư vị
và mênh mang ! ( Tên gọi trái” ớt “ của Việt ngữ nghe âm hưởng
giống những tên Nga-yok của Miến điện, Prik yuak của Thái lan
trong khi tiếng Tầu gọi ớt là “lạt tiêu “ (Q.đông: lat chiếu/
Bkinh:la chieo) Nét ăn của người Huế
Thủy sản là nguồn thực phẩm cơ bản cho người dân xứ Huế. Chị Nguyễn thị Hiệp ở Austin đă giúp tôi nhận diện điểm danh ra vài loại cá mà chị từng quen thấy ở Huế trong cuốn Seafood of South-East Asia của Alan Davidson (Federal Publications 1976). 1) Cá sông có đối,hanh, hương vàng,mối,mú, mú heo, phèn, úc. 2) Cá biển có bạc má, bè cam, cơm , chuồn, ṃi, nhồng, ṣng, thu.
Sự liệt kê trên đương nhiên c̣n thiếu nhiều ví dụ như sách trên không nhắc đến: _ Cá phác lát (thát lát), cá lóc gốc từ trong Nam đem ra nuôi do bà Từ Dũ. Cá phát lát đem ra nuôi ở cống Phác lát, lạng thịt làm chả. _ Cá bống thệ (thường dùng kho lửa riu riu với thịt ba rọi rau răm, ớt bột tiêu đường nước màu cho đến khi cá nh́n trong như hổ phách) ; _ các loại nuốc ( nuốc tai, nuốc chân) dùng ăn giấm nuốc
_ những con mực giă để làm chả thơm lừng mùi tỏi
.
Nét ăn của dân Huế có một đặc thù ít nơi khác theo kịp là mùa
nào thức nấy phải theo đúng thời điểm lư tưởng như câu thơ theo
trường phái tượng trưng của Nguyễn xuân Xanh : Đáy dĩa mùa đi
nhịp hải hà. Đất Huế - Thừa thiên, mỗi năm có hai mùa: mùa nắng ráo và mùa mưa lụt. Dựa theo Sách dậy nấu ăn lối Huế của bà Hoàng thị Cúc, cách chọn tôm cá theo mùa như sau: _ Về cá: *Mùa nắng là những tháng hè là mùa của các thứ cá nục, thu, ngừ …Trong thớ gian từ tháng 2,3 cho đến tháng 7,8 th́ giữa tháng 4.5.6 là cá biển nhiều và ngon hơn cả. * Mùa mưa lụt th́ sẵn có các loại giếc, lúi, cấn, mại (từ tháng 9 đến 11.12); c̣n cá trầu, rê, trê, phát lát từ tháng 10 đến tháng 3.
_ Về tôm: * tôm gân th́ mùa nào cũng có, nhưng tôm đất có từ tháng 10 đến tháng 2; * Các loại tôm sú, rằn là ngon nhứt vào tháng 3.4.5 ( món tôm chua cần phải tôm rằn )
_ Về Cua: phải kiếm mua vào những tháng 4,5,6 tuy rằng tháng nào cũng có, nhứt là t́m những cua lột (hay cua bấy), c̣n cua gạch th́ có trễ hơn.
_
Riêng về hến, ta hăy đặc biệt t́m hiểu thêm: Nghề cào hến tại
Cồn Hến để bán làm cơm hến có lẽ có từ lâu nhưng chỉ bắt đầu phổ
biến dưới triều vua Thiệu Trị. Nhân một người đầu bếp thượng
thiện dâng món cơm hến cho vua ăn, vua thấy khoái khẩu bèn hỏi
thăm lai lịch và biết rằng việc cào hến cực nhọc nên thương t́nh
ban sắc lệnh miễn thuế cho nghề này. Cơm dùng ăn cơm hến phải là
cơm nguội. Đây chính là một món ăn dân giả được lọt vô khẩu vị
của chốn cung đ́nh. Ngoài ruột hến xào với bún tàu th́ các phụ
gia phẩm cho một đọi cơm kể ra rất nhiều như ruốc, ớt bột, ớt
trái xắt nhỏ, đường, muối, nước mắm ruốc, tỏi đâm, dầu phụng
hay mỡ, đậu phụng rang, tóp mỡ, một rổ rau gồm rau thơm, môn
ngọt, chuối sứ, khế chua xắt nhỏ trộn chung. “Cái đặc thù của cơm
hến là sau khi người bán bỏ cơm, ruột hến cùng các phụ gia phẩm
th́ người ăn nếm thử có vừa miệng không rồi nhân tâm tùy thích
tự tay ḿnh nêm thêm gia vị pha chế” ( viết theo Lê đ́nh Hạnh:
Cồn Hến và Cơm Hến tháng 6/ 2003) Cung đ́nh và dân dă
Huế nguyên là đất dấy nghiệp của nhà Nguyễn từ giữa thế kỷ 16 rồi sau đó trở thành kinh đô trong 143 năm ( 1802 - 1945) , do đó có một sự giao lưu ảnh hưởng về lề lối ẩm thực giữa hàng vương giả với kẻ thứ dân. Ngót 100 phủ đệ của ông hoàng, bà chúa sống ḥa lẫn với khu vực dân cư ở các vùng như Kim Long, Vĩ dạ, An Cựu . Bằng chứng điển h́nh về sự giao lưu nhất là cuốn Thực Phổ Bách Thiên của bà Trương Đăng thị Bích, phu nhân Hiệp tá Đại học sĩ Hồng Khẳng. Tuy là người ở vương phủ biên soạn năm 1910 nhưng chỉ nói đến 34 món ăn cung đ́nh, c̣n lại là món ăn dân dă kê ra nào là 7 loại dưa cà, 14 loại mắm… Riêng kể điển h́nh về các cá biển, cá sông th́ sách trên kê ra các món: cá ngừ kho thịt, cá ngứa kho rim, cá d́a, cá đối kho nước, bống thệ dừa kho rau răm, cá rô um muối, cá mú chiên bọc trứng, cá hanh hấp, canh cá trầu nấu ám, cá ốc mó nấu thơm, cá ḱnh nấu măng chua, cá tràng, cá khỏe nấu ngót. Về cách kho cá b́nh dân phần lớn ở miền Trung và ở Huế thi cá biển thường kho lẫn với các rau quả như khế, cà chua, dưa hường, mít non hay xơ mít. Sau đây là món “Cá Ngừ kho với thịt” trích trong sách của bà Trương Đăng thị Bích để lem thèm quí vị chơi:
Cá ngừ cắt lát phải hơi dày, Thịt xắt thêm vào nữa cũng hay Muối với tiêu đường cùng vỏ ớt Nước ngang kho rặc duống liền tay
Đặc biệt có món “tôm sú kho đánh” rất phổ biến ở Huế, chúng ta
thấy kê ra trong sách Thực phổ bách thiên không biết có nguồn
gốc cung đ́nh hay dân dă?
Một chút chi dí dỏm về tiếng Huế!
Cũng trong chuyện ăn cá, dân Huế chữ nghĩa cũng sáng tác ra vài giai thoại khá lư thú:
Trước hết là đặt tên cho một loài cá gọi là Cá Long Hội, mới nghe ra th́ nghĩ là con cá ǵ đặc biệt trong sách Nho, ai ngờ đó là con cá rất nhiều xương, ăn vô phải “ lôi họng” ra!
Sau là câu chuyện một ông nhà giầu muốn kén rể thâm nho. Một hôm, có hai anh chàng muốn ngấp nghé làm rể được ông mời ăn cơm. Trên mâm cơm, ông cho dọn ba món : canh, kho, xào dọn trong những chén dĩa đẹp đẽ quí phái đàng hoàng, nhưng đặc biệt giữa mâm lại bày thêm một cái vịm nhỏ có nắp đậy rất ư lịch sự bên trên dán một tờ giấy trang kim viết hai chữ nho là Thuận Đức. Khi bắt đầu ăn, hai chàng thí sinh đông sàng mới thấy ba món trong mâm, món nào cũng dọn ra toàn cá Long hội, nên khiến hai chàng này ăn chẳng vô mà khạc ra th́ vô lễ… Bỗng một anh bèn với tay ra lấy cái vịm Thuận Đức để trước mặt anh, xong anh bắt đầu ăn thoải mái những món cá dù là cá nhiều xương lôi họng! Anh ăn từ tốn lấy lưỡi lừa xương ra rồi đưa cái vịm lên để thủng thẳng nhả xương vô rồi xong đậy nắp vịm lại rồi ăn đến món khác. C̣n anh kia ngớ người ra không biết làm sao? Kết cuộc, ông nhà giầu gả con gái cho anh chàng đă biết “ nhả xương vô vịm”! Lư do là trong sách Nho có câu nói không nhớ biết có phải của cụ Khổng tử không, câu này nguyên 4 chữ là Thuận Đức Dă Xương. ( ư nghĩa có thể là làm thuận những điều đức hạnh, ấy là tốt đẹp thay). Ông nhà giàu bèn thử xem những anh chàng muốn lấy con gái ông có thuộc câu này hay không? ( Người Huế có tật nói chớt phụ âm kép NH như nói cái” nhà “ thành cái “dà“, nên chữ “dă xương” trở thành ”nhả xương”!! Do đó, cái vịm Thuận đức kia chính là cái vịm đựng xương cá mà người ta “nhả” vô đó!) Cũng nói thêm là về một giai thoại khác liên quan đến chữ “nhà” là một ông nọ cất một căn nhà mới, nhưng ông dự trù rất nhiều vật liệu trên mức cần thiết tối thiểu, mà con cháu th́ lo lắng hỏi tại răng? Ông bèn giảng là khi cất nhà tức thị phải “làm già” ! chứ ai lại đi làm non thiếu hụt chết!
Các loại mắm Huế theo Thực Phổ bách thiên
Nói chung, nguyên liệu chính của món mắm là thủy hải sản và muối nhưng tùy theo phong thổ từng vùng mà mỗi loại có những dị biệt về phân lượng muối và thời gian ủ chín nên do đó mùi vị, màu sắc và ù cách chế biến pha trộn khi ăn cũng khác nhau. Theo kinh nghiệm đúc kết của bà Phan thị Ngọc Liên, chủ cơ sở Mắm Ngọc Liên th́ : Người miền Tây có xu hướng thích ăn mắm vị mặn vừa phải, thịt ngọt, không sử dụng ớt trong quá tŕnh ủ mắm mà sử dụng lúc chế biến thành món ăn. Gu ăn mắm của người sống ở miền Trung trở ra chủ yếu: mặn và cay.( Mắm xưa và nay - Saigon Tiếp thị). Thành ra chủ yếu là cái kinh nghiệm của người làm mắm cho từng loại cá và khẩu vị của dân từng miền đă định đoạt trong sự chế biến. Thủy hải sản càng nhỏ, sống gần vùng nước mặn có thời gian chín thành mắm ngắn hơn loại cá cỡ lớn sống gần vùng nước ngọt. Mắm đồng thời gian chín từ 4 - 6 tháng trong khi mắm làm từ cá biển thời gian chín trung b́nh 2 - 3 tháng, mắm nước lợ chín sau khi ủ khoảng 3 - 4 tháng. Bây giờ dựa vào nhận xét trên, ta thử khảo sát lại cách làm mắm của bà Trương Đăng thị Bích: Đối với loại cá biển cỡ lớn th́ cá mười, muối ba: * Ngừ, gai, nục chuối thịt như nhau Lấy ruột riêng ra ướp được lâu Cá chục, muối ba dằn thiệt kỹ Rồi rang thính lại bỏ theo sau.
*Ướp đối cùng d́a xẻ ruột ra Cá mười, ba muối chẳng chi già Đá giằn ít bữa coi vừa đặng, Rang bắp xay dần bỏ thính qua
Một chi tiết cần chú ư là những ruột cá thơ sớ mềm và chứa nhiều vi khuẩn phải đề riêng ra kẻo ảnh hưởng đến thời gian ủ muối. Nhưng khi làm Mắm nạc Ngừ xây bột trộn với Ruột th́ phân lượng là Cá mười, Muối một , chỉ trong ṿng 10 ngày là ngứu rồi:
Nạc ngừ làm bột, ruột làm pha Vằm nhỏ mười phần, một muối mà. Xắt tỏi cùng riềng đều trộn lại Mười ngày chín ngứu rắc tiêu qua.
C̣n đối với các thứ cá cỡ nhỏ th́ phân lượng bớt như sau: Cá 10, Muối 2 - Mắm nêm cá cơm: Cơm than, nục chuối mắm nêm ngon Cá chục, muối hai cũng chẳng non Nhận chặt gài mê cho kỹ lưỡng. Để lâu thơm chín đỏ như son
- Mắm nêm cá nục: Nục nhỏ làm nêm lắm kẻ ưa, Đong ngang chục cá, muối hai: vừa Ghè khô nhận chặt phơi mươi bữa Gió bẩy mùi thơm biết chín chưa
Nghệ thuật làm thơ của tác giả Thực Phổ bách thiên dạy vê kỹ thuật làm mắm quả là nghệ thuật “trói voi bỏ rọ”, bao nhiêu chi tiết cần thiết cô đọng lại (Zipping !) trong vài chữ, muốn hiểu ta phải unzip ra từng chữ đó như câu thứ ba 7 chữ phải chặt làm ba: “ ghè khô” “nhận chặt” ”phơi mươi bữa” nghĩa là: · ghè phải khô sạch nếu không chùi kỹ th́ những loại vi khuẩn xấu làm nhiễu hại sự lên men tự hủy mà gây ra rữa thối (putrefaction) · nhận chặt để tránh hiện tượng “nong nước” của thớ cá · phơi mươi bữa để dùng cái ấm của nắng làm xúc tiến sự lên men tự nhiên
Mắm tôm chà quí phái ở Huế nghe đâu do bà Từ Dũ mang ra từ quê hương G̣ công của bà.
Mắm Tôm Chua xứ Huế ra răng? Bây giờ, chúng ta khảo sát về cách làm Mắm Tôm chua: Tôm tươi phèn rửa hớt đầu đuô Muối rượu say sưa để một hồi Ớt, tỏi, măng, riềng, xôi đủ vị Trộn đều gài chặt ấy là rồi!
Đây là một sự “lên men chua”( lactic acid bacterial fermentation) với tác dụng của nhiều thứ vi thể (microorganism) như leuconostoc mesenteroids, pediococcus cerevisiae, lactobacillus plantarum.. Ở Phi luật tân, mắm Burong dalag làm bằng cá, thính và mẻ (ang-kak) để lên men chua. Trong mắm tôm chua Huế, để ư có cho thêm măng và xôi hay mật ong để khởi động sự lên men chua khác cách làm nơi khác. Món riềng cũng đặc biệt. Riềng (galanga) có hương vị đặc biệt mà phần lớn dân Đông Nam Á (trừ Tầu) rất thích v́ nó hợp với mắm tôm, mắm tép. Tương truyền rằng mắm tôm chua do Chúa Nguyễn Hoàng trấn Thuận Hóa đă chuyển mắm tép đồng muối bằng thính thành tôm chua. Nghe nói mỗi phủ chúa đều có bí quyết làm mắm tôm chua riêng. Tôm chua kén loại tôm bạc đất hay tôm rằn nhỏ (c̣n nhẩy tanh tách), c̣n các loại tôm khác vỏ dầy cứng làm không ngon. Ở Huế, ngày Tết món tôm chua được trịnh trọng dọn ra ăn. Thời tiết một chạp lành lạnh, nên tôm đ̣i hỏi ba tuần mới chua nhưng ăn ngon đặc biệt.
Dân Bắc không gọi là “ tôm chua” mà là “ tôm điềm” ( điềm nghĩa
chữ nho là ngọt!) không hiểu tại sao? Nhưng một điều chắc chắn
món tôm chua của Huế giữ một độ chua đặc biệt ăn rất bắt với
thịt ba chỉ thái mỏng, và với khế chua, vả chát thật là dung hợp
tuyệt vời. Mắm tôm chua trong Nam th́ quá ngọt!
Miếng ngon xứ Huế sẽ đi về đâu?
Đối với dân Đông Nam Á nói chung, dân Việt nói riêng, toàn là
những dân tộc “ăn cơm” th́ thủy hải sản là nguồn cung cấp
protein chính yếu hơn cả thịt thú vật. Mắm là thành phẩm do muối
và tôm cá tạo ra với một kỳ diệu làm khẩu vị con người được
thăng hoa một cách huyền bí. Cá và Mắm đă đi vào ca dao. Đề tài Cá và Mắm xứ Huế nh́n chung là một vấn đề tưởng là giản dị tầm thường, nhưng càng bàn vô những chi tiết tôi có cảm tưởng đụng vào cái đáy tận cùng sâu thẳm của văn hóa. Des gouts et des couleurs il ne faut pas discuter!( Proverbes _ le Petit Larousse). Nói đến cái ngon và cái đẹp th́ xin hăy miễn bàn v́ mỗi người tha hồ tự do có những nhận định riêng. Tuy nhiên tôi cũng mạo muội tŕnh bày cái sở kiến của tôi nói về cái miếng ngon xứ Huế. Kể từ sau khi có chính sách mở cửa kinh tế thị trường và cố đô Huế được quốc tế công nhận là Di sản văn hóa của nhân loại, thành phố này từ lâu sống khép kín như nàng công chúa trong giấc ngủ ngàn năm bỗng bừng trỗi dậy trước cảnh thăm viếng của khách viễn du. Cái đẹp của những vật thể như những cung điện, thành quách, lăng tẩm th́ rơ ràng hiển hiện được thu vào ống kính c̣n cái ngon _ nét văn hóa phi-vật- thể th́ sao?
Theo tài liệu của sở Du lịch và Phát triển Huế, du khách đến Huế ngoài chuyện “ăn cơm vua” có thể thưởng thức những món ăn dân dă ở những nơi như: _ Bún ḅ có quán bà Bê ( đường Lư Thường Kiệt) _ bánh bèo, nậm lọc có quán bà Đỏ ( đường Nguyễn Bỉnh Khiêm) _ bánh khoái Cửa Thượng tứ, _ bánh chưng ở quán bà Thêm ( đường Nhật Lệ)
Ngoài ra c̣n có cơm Hến Vĩ Dạ, bánh canh Nam Phổ, mè xửng Thiên
Hương, tôm chua Cô Ry ở chợ Đông ba…
Cái ngon của những món quà Huế được tiếp thị giới thiệu quảng
cáo trên chưa chắc đă làm hài ḷng những người du khách “ gốc
Huế” khi về thăm lại cố hương . Ví dụ chúng có được cải tiến
ngon thêm chăng nữa th́ cái ngon này là cái “ngon gượng” v́ “ai tri âm đó, mặn mà với ai”, nói chí t́nh trong tâm tư của
những người trở về c̣n nặng trĩu những hoài niệm về quá khứ với
những địa danh khác như : bánh bèo Ngự B́nh, bánh khoái Đông ba,
mè xửng Thím Chăn… Nói thêm về cái ngon, th́ ví dụ như trên tô
bún Huế hiện nay được cải biên bỗng xuất hiện những miếng tôm
trộn gân ăn tuy lạ miệng nhưng chưa chắc đă ngon. Tâm lư của
người trở về muốn t́m lại cái tinh thần “y cựu” tiếu đông phong
của những nhánh đào năm xưa thôi. Một điểm mà chúng ta phải
thành thật công nhận về tâm lư khi bàn về cái ngon: người ta
không bao giờ tắm được cùng một gịng nước trên một con sông.
Cái miếng ngon của quê hương t́m lại chỉ là miếng ngon tâm
tưởng! Ai ơi, trở lại mùa thu trước, Nhặt lấy cho tôi chiếc lá
vàng! Thực tế mà nói, phần lớn du khách “gốc Huế” trở về đều
suưt soát cái tuổi “ thất thập” th́ có thể nói đa số những gai
vị giác của các cụ đă biến mất, đâu c̣n đầy đủ như xưa!
Về cái ngon của con cá Huế và của những vị mắm Huế, người khách
“ gốc Huế” chỉ có thể t́m lại thưởng thức trong những mâm cơm
gia đ́nh thôi v́ phẩm chất của chúng dính liền với bản thổ địa
phương, và tài khéo nấu nướng pha chế của người nội trợ không dễ
dàng đem ra tiếp thụ thương măi hóa được. Ví dụ nói về Tô cơm
Hến ăn ở Huế trong muôn một dẫu sao c̣n ngon v́ những hến này
được cào ở Cồn Hến nhưng theo người sành ăn th́ chỉ nên ăn Cơm
Hến rong, chứ không thể ăn trong khách sạn được. ( Có kẻ c̣n khó
tính nhiễu sự, ăn xong một đọi cơm Hến
cay xè xuưt xoa với bao
nhiêu phụ gia phẩm th́ phải đ̣i uống một đọi chè Tuần say chát
để “hăm” cái vị thủy sản đặc biệt của con hến Sông Hương, kẻo
nay mai trở về Mỹ khi thèm ăn chỉ có dùng hến hộp mà thôi).
Chúng ta có thể nào “gói ghém chút mắm quê hương” mang theo về
làm quà khi trở về Mỹ không? Tôi muốn đề cập đến Mắm công nghiệp
dưới h́nh thức đóng hộp. Nhiều người chê mắm đóng hộp làm mất
50% mùi vị nhưng theo những nhà sản xuất th́ cách thức chế biến
của mắm thủ công và mắm công nghiệp đều giống nhau theo kiểu ông
bà xưa truyền lại, ví dụ như về dùng muối để ủ mắm. Dù kỹ thuật
công nghệ có cải tiến, muối dùng phải là “muối hột” chứ không
thể nào thay thế bằng các loại muối tinh khiết , muối sấy khô
khác. Trong trường hợp xài muối hột, quá tŕnh cá chín thành mắm
sẽ tiến hành song song với giai đoạn hột muối tan nên cá chín và
ngấm đều gia vị, c̣n dùng muối dạng bột th́ cá chỉ chín mặt
ngoài. Âu đó là một trong nhiều khía cạnh kỹ thuật đáng ghi
trong sự duy tŕ cái ngon của cá mắm trong công nghiệp. Ngoài
ra
c̣n vấn đề bao b́, bảo quản, hạn sử dụng, khiến người ta phải
dùng dầu mè hay dầu phọng có thể làm thay đổi mùi vị. Nh́n về
tương lai, trong chiều hướng toàn cầu hóa, món ngon của một địa
phương khép kín ”khi xưa phong gấm rủ là” như cá mắm muốn phổ
biến đương nhiên phải cải tiến theo trào lưu chứ.
Một điều suy nghĩ sau cùng của tôi là hột cơm, ngọn rau, cá mắm
cùng bao nhiêu món ngon của quê hương muốn duy tŕ về phẩm lượng
trên phương diện kinh tế văn hóa rơ ràng tùy thuộc cái tài năng
quản lư, bảo vệ và cải thiện môi trường của chính quyền hữu
trách. Trường hợp của địa bàn Thừa thiên- Huế là xây đập trên
nguồn sông Hương để kiềm chế lưu lượng gịng nước chảy về hạ
bạn, ngăn chận phá rừng bừa băi, sửa chữa kiên cố lại phần đất
lở của đầm phá trổ ra biển gây hậu quả tai hại cho vấn đề dưỡng
ngư trong đầm phá. Đó là những khía cạnh khoa học kỹ thuật về
các ngành như Sinh thái học, Ngư nghiệp phối hợp với khoa Nghiên
cứu về Thực phẩm lên men, về khoa Dinh dưỡng, về Công nghệ đóng
hộp…đang muốn t́m hiểu để cải thiện môi trường hầu cho đất Huế
có thể sản xuất thủy sản và cá mắm cho người dân tiêu thụ và
xuất cảng ra ngoài theo đúng nhu cầu.
Lê Văn Lân
|