Sau chiến tranh thứ hai, nước Pháp
hoang tàn, đổ nát. Có một De Gaulle
trở về, đem vinh dự và hy vọng cho
cả nước Pháp. Nhưng chưa đủ. Nước
Pháp cần một biểu tượng văn hóa:
J.P. Sartre. J.P. Sartre trở thành
đứa con tinh thần của giới trí thức,
của cả nước Pháp, nhất là sau khi
ông làm giám đốc tờ
Les temps
modernes. Ít khi nào có một trí
thức, nếu không nói là lần đầu tiên,
vừa là triết gia, vừa là nhà văn tài
hoa đến như ông.
Sau khi xuất bản
La nausée
(1938),
Le Mur (1939), ông
thay thế dần chỗ ngồi của A. Malraux,
và chẳng bao lâu sau của André Gide,
trong văn học Pháp. Ông đă tạo cho
ḿnh một chỗ đứng, một thế giới của
riêng Sartre,
Univers Sartrien...
Rồi Sartre cho ra đời
Chemins de
la liberté,
Les mouches,
1943; tác phẩm lớn
L’être et le
Néant, 1943;
Huis clos,
1944;
Morts sans sépulture,
1946;
La Putain respectueuse,
cuốn sách gây x́ căng đan ở nước
Pháp năm 1946;
Critique de la
raison dialectique,
Les mains
sales, 1948;
Le diable et le
bon Dieu, 1951.
Bên cạnh Sartre là một nhà văn trẻ
hơn, A. Camus, sau này trở thành cặp
Sartre-Camus; mỗi tác phẩm của A.
Camus như thể hiện linh hồn của tư
tưởng Sartre. Cả hai đă ảnh hưởng
toàn bộ giới trẻ và trí thức Pháp,
mặc dầu A.Camus luôn luôn từ chối
cái nhăn Hiện Sinh mà người ta gán
cho ông.
Tác phẩm của hai nhà văn này đề cập
đến những vấn đề con người, chẳng
hạn như mối quan hệ giữa con người
với hoàn cảnh, vấn đề trách nhiệm,
dấn thân, nhập cuộc, hoài nghi, phủ
nhận mọi chủ nghĩa, mọi giáo điều...
Rồi vấn đề hiện hữu và hư vô, hiện
sinh tại thế, hiện hữu và yếu tính...
Đời phi lư, buồn chán, thừa thăi, và
con người nổi loạn... Những tư tưởng
đó đă gây ra trong văn chương Pháp
không biết bao tranh luận, thậm chí
cả ngộ nhận, hiểu lầm từ nhiều phía.
Năm 1980, Sartre chết. Nước Pháp đă
tiễn đưa một nhà trí thức sáng chói
với những lễ nghi vinh dự mà họ đă
dành cho Victor Hugo đúng 100 năm
trước đó.
1945-1955 là thời kỳ vàng son của
Sartre và Camus. Nhưng họ đă chẳng
có ảnh hưởng ǵ tới sinh hoạt văn
học Việt Nam. T́nh h́nh Việt Nam lúc
đó rối như mớ ḅng bong, ai c̣n bận
tâm tới văn chương, triết lư? Đó
cũng là cái khoảng thời gian trống
và nghèo nàn nhất của văn học Việt,
từ Nam ra Bắc. Các trào lưu văn học
Tiền chiến hay Tự Lực Văn Đoàn đều
tắt tiếng. Người tản cư trôi dạt
xuống các vùng Hà Đông, Phủ Lư, Nam
Định, vào đến Thanh Hóa, rồi sau đó
quay về dinh tê. Kẻ khác tham gia
kháng chiến. Mỗi người tứ tán mỗi
nơi...
Nhưng kể từ sau Hiệp định Genève với
cuộc di cư từ miền Bắc của một triệu
người, Sartre và Camus có cơ hội có
mặt ở miền Nam và ảnh hưởng của họ
kéo dài hơn một thập niên. Ở đây cần
xác định rơ là tư tưởng của họ gây
ảnh hưởng trong văn chương, tiểu
thuyết, một thứ sản phẩm thị dân,
đối tượng là các thành phần thanh
niên, trí thức thành thị. Dù sao đi
nữa, thành phần này cũng là mặt nổi
của một xă hội. Nói tới sinh hoạt
văn học, nghệ thuật, là nói tới họ.
C̣n phần triết học th́ quá ít người
được biết tới. Thật vậy, vào thời kỳ
từ cuối 50 đến 70, tại các đại học
Văn Khoa Sài G̣n, Huế, Đà Lạt và sau
này Vạn Hạnh... triết lư Hiện sinh
của Sartre đă không được giảng dạy.
Thảng hoặc có dạy đi nữa trong các
chứng chỉ Siêu h́nh và Lịch sử Triết
học, các giáo sư thời bấy giờ cũng
chọn Nietzsche, Kierkergaard,
Merleau-Ponty, và nhất là Heideigger.
Cùng lắm là có đả động qua loa đến
G. Marcel hay E. Mounier, những
triết gia hữu thần, trái ngược hẳn
với trào lưu Hiện sinh của J.P.
Sartre.
Xét về mặt nghiên cứu th́ ngay các
trường đại học quốc gia ở Huế, Sài
G̣n, cũng không có điều kiện cung
cấp đầy đủ tài liệu cho sinh viên sử
dụng, ngoại trừ Viện Đại học Đà Lạt,
một đại học bán công mà thành phần
ban Giảng huấn hầu hết là các cha
Ḍng Tên người ngoại quốc – có thể
coi đây là một h́nh thức du học tại
chỗ. Nơi đây, có hơn 5000 ngàn đầu
sách đủ loại về văn chương và triết
học bằng tiếng Pháp. Nhưng v́ Sartre
không có trong học tŕnh, tôi không
dám chắc đă có bao nhiêu sinh viên
có đủ điều kiện để miệt mài hết cuốn
L’être et le Néant hay
Critique de la raison dialectique?
Cái sự không dám chắc đó, tôi đặt
ngay cả vào bản thân thành phần Giáo
sư trong ban giảng huấn nữa! Thật
khó mà biết được có bao nhiêu người
đă đọc? V́ thế, triết học Hiện sinh
ở chiều sâu, ở phần căn cốt sách vở
của Sartre, số người biết rành rơi
có thể đếm trên đầu ngón tay.
[1]
Nhưng âm vang của “hư vô,” “hữu thể,”
“tồn thể,” “những xao xuyến siêu
h́nh,” “dấn thân,” “nhập cuộc,”
“trách nhiệm,” “người trong cái toàn
thể,” “người trong hoàn cảnh,” “tha
nhân,” “đời phi lư,” “con người phản
kháng”... là những từ ngữ quyến rũ
đến độ người ta phải nói tới, phải
suy nghĩ. Nó như một thứ ma lực lôi
cuốn giới trẻ, sinh viên, trí thức.
Những cuốn tiểu thuyết của họ, nhất
là của Camus, đặt tâm thức giới trẻ
vào những suy nghĩ miên man về ư
nghĩa cuộc đời, đặt nghi vấn về tất
cả mọi vấn đề, của chính tự thân và
của người khác, rồi cuối cùng rơi
vào sự
trống rỗng không lời giải
đáp. Có thể nói, tâm trạng thanh
niên trí thức lúc bấy giờ là thử t́m
hiểu xem cuộc đời đáng sống hay
không đáng sống?! Một câu hỏi đáng
lư chẳng nên đặt ra cho một người
trẻ tuổi sắp sửa bước vào đời. Cái
để lại trong tâm thức người trẻ, sau
khi nghi vấn, tra hỏi về đủ mọi vấn
đề là tâm trạng trống rỗng, vô nghĩa
như người khách lạ.
Và có lẽ đó
là ảnh hưởng lớn nhất mà triết lư
này để lại.
Ví giả J.P. Sartre chỉ là một triết
gia thuần túy và không bao giờ là
nhà văn; Ví giả A. Camus là một nhà
văn không mang trọng trách rao
truyền một tư tưởng triết lư. Nếu họ
không có chức năng đó, hoặc họ chỉ
đảm nhiệm một vai tṛ, một chức năng
nhất định, như các triết gia hiện
sinh khác như Heidegger,
Kierkergaard, th́ hẳn triết lư hiện
sinh đă không gây ồn ào, náo nhiệt
như thế. Cái ồn ào mà tôi muốn nói ở
đây là nó đă làm nảy sinh ra rất
nhiều những đứa con hoang đủ loại.
Triết lư hiện sinh vỉa hè là bằng
chứng của vô số những nhận định ngộ
nhận, hiểu lầm và qui chụp, đẻ ra
những đứa con hoang mà chính J.P
Sartre cũng chẳng bao giờ có thể
nh́n thấy hết được.
Bởi v́ nó đă
trở thành một sản phẩm xă hội và
bất cứ một hiện tượng xă hội nào
cũng có thể bị đưa lên giàn phóng để
tra xét và nguyền rủa.
Cái triết lư hiện sinh vỉa hè ấy,
qua F. Sagan, đă trở thành sản phẩm
tiêu thụ xă hội có tính cách thời
thượng mà thực chất không dựa trên
một suy lư nghiêm chỉnh nào để có
thể quy chiếu vào Sartre hay Camus
được. Sản phẩm của đứa con hoang đó
được du nhập vào Việt Nam và được
đón tiếp ồn ào ở thành thị. Từ kiểu
ăn mặc, đi đứng, kiểu lái xe, ngồi
lên xe; rồi âm nhạc, điện ảnh với
“nouvelle vague,” với James Dean.
Sagan một bên, James Dean một bên.
Phải chăng đó chính là hai đứa con
hoang của Sartre? Từ lối sống, lối
nghĩ, lối làm t́nh, đến cả lối chết...
Tại miền Nam, trong thi ca, tiểu
thuyết và báo chí, chỗ nào cũng
thoáng ẩn hiện bóng dáng của thứ
triết lư này. Đến độ, người ta thấy
rằng từ Mai Thảo đến Quách Thoại,
Thanh Tâm Tuyền đều là những kẻ
truyền thừa của thứ triết lư ấy.
Khi mà Quách Thoại chẳng may mệnh
yểu, Mai Thảo nói tới sự tự do chọn
lựa cái chết, buộc mọi người phải
liên hệ tới sự tự do tuyệt đối của
triết lư Hiện sinh. Hiện tượng bề
ngoài được bao trùm bởi cái không
khí hiện sinh đó thật ra chỉ phù
phiếm, chẳng có căn bản ǵ. Tờ
Sáng Tạo, được tiếng là cửa ngơ
đi vào triết lư hiện sinh, từ đầu
tới cuối chỉ có bốn bài viết về hiện
sinh, trong khi tờ
Đại Học ở
Huế có 21 bài, tờ
Bách Khoa
có 24 bài.
Một số nhà văn nữ thập niên 60, như
Nguyễn Thị Hoàng, Túy Hồng, Nguyễn
Thị Thụy Vũ, Lệ Hằng, Chu Tử, Nguyễn
đ́nh Toàn v.v... ít nhiều cho thấy
bóng dáng của Sagan hiện diện trong
truyện của họ. Tôi không dám bảo là
họ bắt chước, nhưng có nhiều người
cho rằng đó là thứ triết lư thời
thượng, một kiểu theo đuôi hay làm
dáng trí thức. Vậy th́ phải chăng
đây cũng là một thứ con hoang của
Sartre? Trong giới giáo sư dạy triết
thời đó, thế hệ thứ hai với những
người như Đặng Phùng Quân, Nguyễn
Quốc Trụ, Huỳnh Phan Anh, Trần Nhựt
Tân, Trần Văn Nam... Hầu như tất cả
các luận án cao học ngành Triết thời
đó đều đề cập đến các triết gia hiện
sinh, nhưng đặc biệt không thấy một
luận án Triết nào trong số họ đề cập
đến triết hiện sinh của Sartre. Cắt
nghĩa điều này như thế nào? Huỳnh
Phan Anh viết
Văn chương và kinh
nghiệm hư vô. Nguyễn Quốc Trụ
viết
Văn chương và sự khả hữu.
Trần Công Tiến viết
Từ Hiện Tượng
luận Husserl đến Hiện tượng luận
Heidegger. Liệu có bao nhiêu độc
giả đă đọc họ và có bao nhiêu người
hiểu họ? Tôi chỉ có thể đặt câu hỏi,
nhưng không thể trả lời thay cho
những người khác. Cách tŕnh bày khó
hiểu và đôi khi khúc mắc, tối tăm
trong những tác phẩm vừa kể đôi khi
cho thấy một trí tuệ phi thường của
người viết. Độc giả có tâm trạng mặc
cảm khi đọc những bài viết như thế.
Nơi đây, triết học thực sự trở thành
một món quà mà Thượng đế chỉ dành
cho một số người đă được lựa chọn.
Không ai dám truy vấn chính ḿnh đến
ngọn nguồn về tŕnh độ đọc sách và
truy vấn người viết về khả năng hiểu
biết và diễn đạt. Người viết không
cần biết người đọc hiểu được bao
nhiêu. Nếu người đọc không hiểu th́
lỗi thuộc về họ. Phải chăng nơi các
giáo sư triết này thấp thoáng bóng
những đứa con hoang của Sartre? Một
h́nh thái theo đuôi, bắt chước, thời
thượng? Liệu phê phán như thế có oan
cho họ không? Với thiện chí của
người trí thức trẻ, cố gắng nghiên
cứu triết lư hiện sinh, họ trở thành
đứa con hoang của Sartre, bị xếp
ngang hàng với những cô cậu hippy
choai choai.
Trong nghiên cứu văn chương, người
ta đọc thấy những đề tài như
Chinh phụ ngâm với tâm thức lăng mạn
của kẻ lưu đầy,
Nguyễn Công
Trứ với cảm thức hư vô,
Tản
Đà với khát vọng vĩnh cửu. Đến
Phật giáo, Lăo giáo cũng nhập cuộc.
Người ta vào đạo Phật qua lối ngơ
của J.P. Sartre. Từ lăng kính Nho,
Phật, Lăo đến lăng kính Hiện tượng
luận.
Công giáo bảo thủ nhập cuộc kiểu
khác: hạ bệ và nguyền rủa thứ triết
lư này. Đại loại như “Chúng tôi tố
cáo mầm phản loạn trong Văn nghệ”,
“Lại một trạng thái cuồng loạn phơi
bày trong tiểu thuyết”, “Chúng tôi
cực lực phản đối cái thuyết dă thú
hóa ra con người của ông Thạch
Chương”, “Tiểu thuyết Nguyễn Thị
Hoàng, sự buôn lậu tư tưởng trong
một con bịnh dân thành phố...” Đấy
là những bài viết
nhằm phê phán
triết học ấy ở b́nh diện luân lư.
Họ không nhằm phê phán Sartre, bởi
một lẽ dễ hiểu, họ không có điều
kiện để hiểu Sartre. Họ chỉ có thể
phê phán những sản phẩm xă hội mà họ
nghi ngờ là từ Sartre mà ra, những
sản phẩm bị coi là con hoang của
Sartre. V́ sự phê phán trên b́nh
diện luân lư của tiểu thuyết đă đi
trật đường, liệu có thể xếp sự chống
đối của họ cũng vào loại con hoang
của Sartre không? Con hoang của
những đứa con hoang?
Hết văn chương, tôn giáo lại thêm
chính trị nhập cuộc. Những người anh
em theo phía bên kia nay chửi thứ
triết lư hiện sinh với
ẩn ư chính
trị ở Lữ Phương, Khải Triều…
Chẳng hạn như các bài “Đọc các tác
phẩm của Chu Tử”, “Hiện tượng dâm ô,
đồi trụy trong văn học hiện nay”,
“Từ văn hóa cải lương đến văn chương
đồi trụy và thứ cần sa của ngoại
bang”.
Đă hẳn những bài viết
như thế không cần đ̣i hỏi bất cứ một
chút kiến thức nào về chủ nghĩa hiện
sinh cả. Đó chỉ là những thứ con
hoang đến hoang tưởng, gán cho
Sartre bất cứ cái ǵ mà họ muốn.
Người ta tưởng rằng những đứa con
hoang của J.P Sartre sau ngày 30-04
đă tiêu tan theo cuộc cách mạng ấy.
Nhưng không, Sartre vẫn đội mồ sống
dậy. Sartre cùng với Camus vẫn c̣n
đó, bằng xương, bằng thịt.
Theo dịch giả nổi tiếng thời 60-70
Trần Thiện Đạo, cuốn
L’étranger
của Camus đă có 3 dịch giả dịch rồi.
Chuyên gia dịch hàng đầu của miền
Bắc, ông Dương Tường, lại cất công
dịch một lần thứ tư, 1995. Rồi
Nguyễn Văn Dân là người thứ 5 lại
mới dịch lại vào năm 2002. Dịch lại
như thế v́ tác giả quá nổi tiếng? V́
tác phẩm quá hay? V́ người đọc ham
chuộng? V́ người dịch trước dịch dở,
tồi tệ? V́ có người dịch rồi th́
dịch sau đỡ tốn công sức? Camus có
bao nhiêu tác phẩm, tại sao lại cứ
nhè cuốn đó mà dịch? Cái hiện tượng
dịch lại sách đă dịch cũng thấy được
ở cuốn
Bác sĩ Zivago, dịch
lần thứ ba. Hay hơn thế nữa, lấy
sách dịch in lại mà không cần đề tên
dịch giả như trường hợp của Phùng
Khánh?
Sự tụt hậu về sinh hoạt dịch ở Việt
Nam có đến 50 năm và một thế kỷ.
Sách mới không dịch, cứ nhè sách cũ,
sách đă dịch rồi dịch lại như một
nhu cầu đọc giải trí, thay v́ nhu
cầu nghiên cứu. Một hiện tượng quái
gở không hiểu được. Tại sao lại dịch
lại những cuốn như vừa kể, mà trước
đây được xếp vào loại sách phản động,
không phản động th́ đồi trụy?
Phải chăng v́ những đứa con hoang
của Sartre vẫn tiếp tục hoành hành
trên thị trường chữ nghĩa ở miền
Nam?
Đứa con hoang có thể là cuối cùng
của Sartre có lẽ là giáo sư tiến sĩ
Trần Trọng Đăng Đàn. Đối với văn học
miền Nam nói chung, ông giáo sư này
là kẻ
chém treo ngành. Ông
chém, chặt, nhổ, bứng từng dây mơ rễ
má cái văn học, văn hóa đồi trụy ấy.
Ông viết cuốn
Văn hóa văn nghệ,
Nam Việt Nam, 1954-1975 dày hơn
ngàn trang mà tôi phải bỏ ra 50 đô
la để bê nó về. Sót ruột lắm! Gọi là
nghiên cứu của một tiến sĩ giáo sư
mà từ trang đầu đến trang cuối chỉ
thấy chửi là chửi. Ông chửi rất bài
bản, nh́n đâu cũng thấy đồi trụy, đĩ
điếm, thấy nọc độc của chủ nghĩa
thực dân. Ông chửi các nhà văn, nhà
văn hóa miền Nam kể như không trừ
một ai. Chửi tất cả các sách dịch
bất kể tác giả, bất kể loại, trong
đó có Camus, Sagan. Giáo sư đi theo
vết chân của Lữ Phương, Khải Triều,
mắc bệnh quáng gà mất rồi.
Ra khỏi khuôn viên đại học Văn Khoa
đường Nguyễn Trung Trực thời đó, ra
khỏi Sài G̣n, người dân miền Nam vẫn
sống hiền ḥa, vẫn chịu đựng chiến
tranh, không có chút nào là triết nọ.
Thần tượng của họ là Bà Tùng Long,
cùng lắm là Lê Xuyên, là Bạch Tuyết,
Hùng Cường, là Kim Dung. Đổ oan cho
toàn miền Nam cái tiếng văn hoá đồi
trụy, nọc độc chế độ thực dân mới
thật là hồ đồ.
Nếu cho rằng cái văn chương ấy, cái
nọc độc ấy, cái âm mưu ấy làm ung
thối miền Nam đến toàn là đĩ điếm,
đồi trụy th́ phải cắt nghĩa thế nào
về hiện trạng xă hội Việt Nam hiện
giờ? Nó là do cái nọc độc nào, cái
âm mưu nào đă đưa xă hội đất nước
con người đến một t́nh trạng sa đọa
được hợp lư hóa, được hợp pháp hóa
và nhất là được b́nh thường hóa. Cái
sa đọa đạo đức, xă hội trầm kha nhất
của đất nước hiện nay là b́nh thường
hóa sự sa đọa, mất ư thức về sa đọa.
Chữ mà người ta dùng để chỉ về điều
này được gọi là thời mạt. Phải chăng
đây là thời mạt của Sartre c̣n sót
lại?
Nguồn : talawas
Một số dữ
kiện về tên các bài viết, các con số
đă được trích dẫn ra từ bài viết
công phu: “Hiện sinh ở miền Nam
1955-1975,” của Nguyễn Văn Trung, từ
trang 346 đến 390, trong bộ sách:
Nh́n lại những chặng đường đă qua
1955-1995. Nxb Nam Sơn. Montréal
2000.