NGUYỄN VĂN LỤC

30-4-1975

30-4-1976

30-4-2006

Đi t́m thời gian đánh mất

 

 

Sàig̣n không c̣n ngày
 
Buổi tối, tôi leo lên sân thượng. Trời tối đen, có một sư im lặng sâu thẳm. Nhưng trong bóng đêm, tôi đă nghe rơ được tiếng của im lặng. Cái im lặng của cơi đêm,  của một trống rỗng, của một hố thẳm, của một mảnh đời đang sống đă khép lại. Chỉ mới hôm qua, những chiếc trực thăng c̣n lập ḷe trên các mái nhà và biệt tăm ngay sau đó vào đêm tối. Rồi chốc lát đă mất hút. Niềm hy vọng như cạn ṃn.

Một triệu, một trăm mười ngàn (1.110.000) binh sĩ VNCH đâu rồi? Và 50 binh sĩ Hoa Kỳ c̣n sót lại ? Mà Neil Sheenan trong Innocence perdu đă từng nói: “Cette guerre que nous n’aurons jamais gagné’’ (Trận chiến mà chúng ta đă chưa hề bao giờ thắng). Mà nay chúng ta chuẩn bị một cuộc hành tŕnh qua sa mạc (une traversée du désert) với khô héo cạn kiệt hy vọng, một hành tŕnh gian khổ với đầy bất trắc đe dọa, hiểm nguy.

Trưa 30-04-1975, ngồi một ḿnh thấy tương lai vô định. Ḷng buồn vô tả. Nước mắt tuôn trào không ngăn được. Bụng tự nhiên nhói lên từng lời. Vui chưa thấy, lo th́ như ứa tràn. Chẳng hiểu chính quyền mới đối xử ra sao ? Đó cũng là mối lo của tất cả mọi nguời. Chiến tranh đă chấm dứt. Đáng nhẽ phải vui mà hóa buồn.

Hết rồi cảnh chạy đôn chạy đáo t́m đường thoát thân. Có sự im lặng nặng nề như một con vật chờ chết trong nỗi tuyệt vọng. Ván bài chơi đă xong. Ngoài đường, 8 chiến xa T-54 đă vào thành phố trên đại lộ Thống Nhất. Nhiều nhà đóng cửa rồi từ trong nhà ngó ra xem động tĩnh. Chỉ có một thiểu số người dám ra đường đứng thản nhiên nh́n đoàn xe cộ đi qua. Bộ đội tỏ ra ngơ ngác và kỷ luật. Họ dơ tay vẫy chào ngượng ngập.

Măi vào lúc 16 chiều ngày 30-4-1975, ba vị thuyết khách của ông Dương Văn Minh, thuộc thành phần thứ ba là luật sư Trần Ngọc Liễng, giáo sư Châu Tâm Luân và Linh Mục Chân Tín mới từ trại David Tân Sơn Nhứt ra về. Các ông là những người được tướng DVM cử làm đại diện vào trại David chiều ngày 29-4-1975 để thuyết phục những người của Mặt trận với lời yêu cầu họ đừng đánh phá Sàig̣n. Các tướng Nguyễn Anh Tuấn và Đại tá Vơ Đông Giang đă hứa chỉ pháo chút ít để làm áp lực với tướng DVM mà thôi. Quân Bắc Việt đă tiến quân vào TSN nên các ông bị kẹt lại cho đến chiều 30 tháng tư mới ra về được.

21 năm sau, ngày 28-1-1996, Chân Tín trả lời phỏng vấn đài VNCR đă nói khác:’’ Chúng tôi ngồi yên nh́n cái ngu dốt và cái sa lầy của một chế dộ đang trên đà tan ră’’. Nay, mới đây nghe tin ông ra tờ báo chui. 82 tuổi đầu tưởng đă tự cho phép ḿnh hưu tranh đấu. Ông vẫn chưa ngưng nghỉ. Điều ǵ khiến một nguời đă tạm quay mặt với Chúa để theo Cách mạng, nay trở thành kẻ đối đầu với chính những điều xác tín của ḿnh ?

Ngoài phố, chỉ c̣n nghe tiếng xích sắt khô khan của bánh xe nghiến trên mặt đường nhựa. Mặt đất như rung lên bần bật. Sàig̣n như oặn ḿnh dưới làn xích sắt đi qua. Tiếng xích sắt như nhắc nhở gợi về tiếng xích sắt của mùa xuân Praha năm nào. Cái mùa xuân nát úa. Cái mùa xuân hy vọng của tuổi trẻ Prague chưa kịp nhú lên th́ đă bị xích sắt xe tăng của Hồng quân Liên Xô đè dập nát khi tiến vào Prague, trên những dường phố lát đá gồ ghề, thẫm màu đen thuở nào. Praha, Sàig̣n, ngạo nghễ và tủi nhục.

Những chiến xa trên có cắm cờ của mặt trận Giải Phóng miền Nam như niềm hy vọng nhỏ nhoi của người Sàig̣n. Niềm hy vọng mong manh mà đằng kia là cuối đường. Những chiếc chiến xa đang chạy trên đường Tự Do, Catinat cho người ta có cảm tưởng đường Tự Do của miền Nam là đại lộ Champs-Élysées của Paris…  Nhưng Champs-Élysées của Paris vào tháng 8-1944 là cả một biển người đón tiếp De Gaulle. Biển người đó là nỗi vui mừng giải thoát, chỉ có tiếng cười và nước mắt hoan lạc. Nhưng Champs Élysées th́ không phải đường Tự Do ở Sàig̣n. Đường Tự Do không có nỗi vui hoan lạc mà chỉ có những ánh mắt lo âu và sợ sệt. Ở một góc phố cạnh hotel Majestic,  người ta thấy một nhóm nhỏ người đứng nh́n chiến xa đi qua. Bên kia đường, có một thanh niên mặc quần tây áo trắng bỏ ngoài quần, chắp tay đứng nh́n. Không có biển ngựi mà cũng không có tiếng vỗ tay reo ḥ. Và 125 nhà báo ngoại quốc đứng ở đâu đó. Họ c̣n ở lại để chứng kiến cảnh tháo chạy, cái cảnh mà Bảo Ninh đă mô tả trong truyện ngắn Ba lẻ một: chen chúc, xô lấn, giày đạp, chà xéo, đánh nhau, giết nhau, cưỡng hiếp và cướp bóc và cảnh tiến tới ồ ạt của những T54 và K63, như một cơn lốc bẳng thép xé mặt lộ lướt tới với thần tốc kinh hồn, là phẳng mọi chướng ngại trên đường, nhắm hướng Nam truy kích…

Đài phát thanh Sàig̣n mở đầu bằng tiếng hát Trịnh Công Sơn. Tiếng hát một thời. Tiếng hát của một đời người.

Anh cất tiếng hát không phải khúc ca da vàng, nhưng lạc lơng với bài : Nối Ṿng tay lớn  bên cạnh đám bạn bè anh, trong đó có Nguyễn Hữu Thái, một SV tranh đấu.

Dân Sàig̣n đă đón tiếp quân Giải Phóng như thế. Một nhúm người người dân ngơ ngác, 125 nhà báo và TCS  với Nối Ṿng Tay Lớn. 8 chiến xa có trang bị kính nhắm hồng ngoại tuyến dùng cho những cuộc đánh nhau ban đêm? Chả c̣n ǵ để dấu giếm nữa. Những chiến xa Liên Xô từ ngoài Bắc chạy thẳng vào chứ đâu phải của mặt trận giải phóng miền Nam ? Trên chiến xa có cắm cờ MTGPMN. Nhưng cắm một lá cờ th́ không lẽ đủ để thay đổi nguồn gốc một lịch sử.

Trong khi đó, ông Minh và toàn bộ chính phủ ông đă chờ sẵn tại dinh độc lập để trao quyền hành lại cho những người chủ mới. Người ta không thấy có một đại diện nào của MTGPMN. Nhiều người chê trách ông Minh hèn "bán đứng miền Nam". Nếu ông Minh hèn th́ những kẻ chạy vắt gị lên cổ từ những ngày cuối tháng tư phải gọi bằng tên ǵ ? Kẻ trốn chạy và kẻ ở lại lănh thẹo, ai hèn hơn ai ? Sài g̣n lúc đó như một băi rác với đủ thứ rác: rác Mỹ, rác quân đội với súng ống, quân trang, quân dụng vứt bừa băi, rác chính quyền tham nhũng. Cùng lắm, ông Minh chỉ là người không thức thời cúi ḿnh xuống nhặt cái danh chính quyền bị người ta vứt lại từ đống rác đó.


Lại c̣n vấn đề trao cái chính quyền đó vào tay ai ? Chẳng biết nữa, người nói ông Bùi Tín, người nói Chính ủy Tùng. Theo Stanley Karnov, trong Viet Nam viết : "Ngồi trên một chiến xa vào dinh độc lập, Ông Bùi Tin chuẩn bị đóng hai vai tṛ một lúc: Là nhà báo, ông muốn là nhân chứng cho cuộc đầu hàng. Nhưng là sĩ quan cao cấp trong đơn vị của ông, ông muốn chính ông tiếp nhận sự đầu hàng này. Tôi chờ các ông từ sáng nay để trao quyền hành lại cho các ông, đại tướng Minh đă nói như thế khi ông Bùi Tín vào đến đại sảnh. Bùi Tín đáp lại, không có vấn đề trao quyền hành. Quyền hành của các ông c̣n đâu để mà giao. Ông không thể giao một cái mà ông không có." ( Pénétrant à bord d'un char dans la cour du Palais, il se préparait à jouer un double rôle: journaliste, il désirait être témoin de la capitulation, officier le plus élevé en grade de son unité, il avait pour devoir de la recevoir. J'attends depuis ce matin pour vous remettre le pouvoir, annonca le général Minh, quand Bui Tin entre dans le salon. Il n'en est pas question, répliqua le colonel. Votre pouvoir s'est écroulé. Vous ne pouvez donner ce que vous n'avez pas.)

Nhưng có lẽ  câu nói quan trọng nhất của Bùi Tín vẫn là câu sau đây :"Cùng là người Việt Nam cả, sẽ không có kẻ thắng người bại. Chỉ có người Mỹ là kẻ bại trận. Nếu ông là người yêu nước, đây là lúc để vui mừng, v́ chiến tranh đă không c̣n nữa trên quê hương của chúng ta "  (Entre Vietnamiens, il n'y a ni vainqeur, ni vaincus. Seul les Américains ont été battus. Si vous êtes patriotes, c'est le moment de vous réjouir. La guerre pour notre pays est terminée".

Từ đó đến nay, đă hơn 30 năm, người ta vẫn chờ đợi câu nói của Bùi Tín được thực hiện.   Cũng trong tháng 9 năm 1975, các ông Lê Đức Thọ và Xuân Thủy c̣n nhắc nhở mọi người rằng: Ai c̣n nói ngụy là nguy…

Hồi mất Điện Biên Phủ, cuộc chiến giữa Pháp và Việt Minh phải mất 56 ngày đêm.  Mất Sàg̣n nhanh hơn,  chỉ có 55 ngày. Ít hơn một ngày. Hồi ĐBP, chỉ mất một nửa. Lần này mất tất cả. 

 

Phía những người thua trận

Không kể những người đă tháo chạy, không kể những người c̣n kẹt lại trong gọng ḱm lịch sử oan nghiệt. C̣n có những người cất lên tiếng nói cuối cùng.

Thiếu Tá Long, Cảnh sát Quốc Gia đă đến đứng trước tượng TQLC trước ṭa nhà Quốc Hội ở Sàig̣n rồi rút súng tự sát. Ông đă nằm chết ngay dưới chân pho tượng.

Trung sĩ Quân Cảnh Trần Minh, thuộc đại đội một quân cảnh phụ trách an ninh khu vực Bộ Tổng Tham Mưu. Lúc 10giờ 30, sau khi nghe tin đầu hàng, trung sĩ Trần Minh đă dùng súng lục tự tử dưới chân cột cờ Bộ TTM.

Thêm vào đó là những cái chết của Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ, tư lệnh sư đoàn 5 bộ binh. Chuẩn tướng Trần văn Hai, sư đoàn 7 bộ binh. Thiếu Tướng Phạm văn Phú, tư lệnh quân khu 2. Thiếu tướng Lê Văn Hưng, Tư lệnh phó quân đoàn 4. Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, tư lệnh quân đoàn 4. Những cái chết anh dũng. Nhưng đă thay đổi được ǵ và có thể đại diện cho những vị khác đă bỏ chạy không ? Đó là những cái chết bằng ngàn lời ca, bằng vạn tiếng nói.

Và kẻ chết cuối cùng vẫn là kẻ có lư.

Và tự sát bao giờ cũng cần được hiểu là một sự hy sinh cuối cùng ( Ultimate sacrifice ) đáng được trân trọng.

Không có cái chết vô ích mà chỉ có những cái sống vô ích.

Đó là số phận những người đă tự chọn cái chết.

C̣n số phận những người c̣n lại ?

Tôi ghi lại đây h́nh ảnh một anh lính VNCH, đi chân đất, hai tay áo rách, đầu gối rách, chắp tay. Đằng sau anh là một bộ dội mặc đồ đen, cầm súng lăm lăm và sau chót là đám đông dân làng, khoảng 6, 7 chục người khoanh tay bất lực với lời ghi chú của nhiếp ảnh viên:* Un avenir qui ne s'annonce pas vraiment radieux pour ce soldat de Thiệu: pendant combien d'années sera-t-il rééduqué.. ( ảnh của Abbas. Gamma). Một tương lai không mấy sáng sủa cho người lính này của Thiệu: Người lính này sẽ bị đưa đi học tập cải tạo trong bao lâu?

Thật ra người lính lúc đó chỉ có 3 chọn lựa: di tản ra  nước ngoài,  nhẫn nhục để đi học tập cải tạo hoặc t́m đến cái chết. Cạnh đó là bức h́nh của kẻ chiến thắng. H́nh một anh bộ đội chống nạng, cụt hẳn một gị đến háng, đi bên cạnh một xe tăng đă bốc cháy với lời ghi:* Après les vingt- cinq années de guerre, une photo qui résume tout  (ảnh của Leroy-Gamma). Sau 25 năm cuộc chiến, một bức h́nh nói lên tất cả..

Cũng khoảng 2 giờ rưỡi trưa hôm ấy, những chiến xa  đă từ trong dinh Độc Lập chạy dọc theo đại lộ Catinat-Tự Do, từ nhà thờ Đức Bà ra hướng bờ sông.. Có tới mười người dụt dè dơ cánh tay vẫy chào. Nhiệm vụ của người chiến thắng không phải là dễ. Chiếm được Sài g̣n rồi, nhưng làm sao thay v́ chỉ có 10 cánh tay dụt dè dơ lên, phải nhân lên bao nhiêu triệu lần ? Phải chờ xem vậy thôi.


Vào cái giờ này của ngày chiến thắng. Toàn bộ báo chí đă ngưng xuất bản. Gần 50 chục báo hằng ngày của Sàig̣n sáng nay vắng mặt. Họ đâu cả rồi ? Tất cả liên lạc viễn thông với thế giới bên ngoài cũng bị cắt. Họa chăng c̣n lại đại diện của các ṭa đại sứ sau đây: Pháp, Bỉ, Nhật, Khâm sứ ṭa thánh, Thụy Sĩ và lănh sự Ấn độ.  Chế độ mới hầu như tạm thời cắt đứt với thế giới bên ngoài. Cho măi đến ngày 23 tháng năm, liên lạc với thế giới bên ngoài mới được nối lại và chuyến bay đầu tiên ra nước ngoài vào ngày 24 tháng năm. Chuyến bay này chở một số người ngoại quốc c̣n kẹt lại trong thành phố mà phần lớn là người Pháp.

Theo Ngũ Giác Đài, có khoảng 50 ngưởi Mỹ bị kẹt lại VN sau ngày 30 tháng tư, cộng thêm 26 người VN  là vợ con của những người Mỹ này. Sát cạnh nhà tôi, có hai vợ chồng người Việt cũng ra đi theo diện quốc tịch Pháp. Trong t́nh huống này mới thấy người Pháp là những người tử tế. Chị họ con ông bác tên Diệp, làm y tá nhà thương Grall cũng được đi và sang Pháp cũng làm y tá lại, lương bổng ngạch trật như cũ. Chẳng bao lâu sau, có vợ chồng một đại tá, đă đến cư ngụ ờ căn nhà đó. Sau này, suốt vài năm ở cạnh nhà như hàng xóm, ra vào đụng mặt nhau, ông bà chưa bao giờ nói chuyện, hoặc chào hỏi chúng tôi lấy một lần. Điều này phải được hiểu là thế nào ? Không dễ dàng ǵ để những người dại diện đó được nh́n nhận. Họ không có trong mắt của người Sàig̣n.

Chiến thắng th́ đă xong, nhưng chinh phục th́ chưa tới.

 

Phía trí thức miền Nam: Mặt trận Giải Phóng, ảo tưởng và  ảo ảnh.

Xin ghi lại dây h́nh một bé gái chừng 12 tuổi, đầu quấn một khăn trắng đang đi trên một bờ ruộng với lá cờ MTGPMN, hai mầu, ở giữa có ngôi sao với lời tiên đoán:* le drapeau du FNL flotte sur le Sud-VietNam. Il sera sous peu remplacé par le drapeau du Nord, devenu celui du Viet Nam réunifié  { ảnh của JC Labbé-Gamma}. (Lá cờ MTGPMN tung bay ở miền Nam VN. Nhưng chẳng bao lâu nữa, nó sẽ được thay thế bằng cờ của miền Bắc, trở thành cờ của VN thống nhất).

Cuộc chiến tranh giữa hai miền Nam Bắc đă để lại một di sản thừa như một cục bướu ung thư cần nhổ. Đó là MTGPMN. Mặt trận này đối với trí thức thành phần thứ ba hay đối với sinh viên VN hải ngoại chỉ dẫn đưa họ đến một kết quả là: những ảo tưởng vĩ đại ( grandes illusions) và đối với toàn thể thế giới là một âm mưu lừa bịp trắng trợn.

Xin nhắc để mọi người cùng nhớ: những trí thức đi theo Mặt trận hồi đó gồm có các ông luật sư Trịnh Đ́nh Thảo, Chủ tịch LMCLLDTDCVHBVN, phó chủ tịch HĐCV CPLTCHMNVN, chủ tịch UBTUMTTQVN và vợ là Ngô Thị Phú ở Sóc Trang, Lâm Văn Tết, Phùng Văn Cung, Trần Kim Bảng bút hiệu Thiên Giang, vợ nữ sĩ Vân Trang, Nguyễn Văn Ch́, Chánh án Phạm Ngọc Thu, dược sĩ Đỗ Thu, Kỹ sư Cao Văn Bổn, Kỹ sư Tô Văn Cang, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, chức sắc Cao Đài Nguyễn Văn Ngưỡi, kỹ sư Trương Như Tảng,  bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, bà Nguyễn Thị B́nh, Huỳnh Tấn Phát,  luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Lữ Phương,  bà Bùi Thị Nga, Trần quang Long, Trần Triệu Luật, nhà văn Thanh Nghị Hoàng Trọng Quỳ và vợ ca sĩ Tâm Vấn. Thêm vào đó gs Lê Văn Hảo theo vào năm 1968, chủ tịch LMCLLDTDCVHBVN, thêm chủ tịch UBKNHTT. Trong dịp tờ Quê Mẹ phỏng vấn ông năm 1999 ở Pháp, ông Hảo giải thích: dư luận gán cho ông  về cuộc thảm sát Mậu Thân ở Huế là không đúng. "Thứ nhất, lúc quân đội CS đánh Huế, tôi không có mặt trong thành phố. Trước tết 5 ngày, tôi được dẫn lên núi, nói là mời họp rồi giữ tôi ở lại luôn, không về thành phố lần nào. Cùng với tôi có Hoàng Phủ NgọcTường. Chỉ có Hoàng Phủ Ngọc Phan và Nguyễn Đắc Xuân đă theo bộ đội về Huế và tôi được biết Phan và Xuân đă từng ngồi xét sử nhiều người có quan hệ với chính quyền Sàig̣n, trong những phiên xử của cái gọi là Toà Án Nhân Dân."

Sau này, các ông Trần Quang Long, Trần Triệu Luật đă chết v́ bom Mỹ. C̣n lại là những người sống sót trở về..

Sau 30 tháng 4, đám trí thức trên vỡ mộng. Họ không có một vị trí nào trong  chính quyền Cộng Sản tương lai và danh xưng MTGPMN cũng không ai muốn nhắc tới. Chẳng bao lâu sau ngày giải phóng, cờ của Mặt trận bị cuốn gói, xếp một chỗ.

Có thể bà bác sĩ Dương Quỳnh Hoa là người đầu tiên xin ra khỏi đảng CS và không tham dự phái đoàn nhân sĩ trí thức miền Nam ra ngoài Bắc. Lư do chính là hai vợ chồng chính thức phản đối việc thống nhất hai miền như một thứ bội phản đối với miền Nam. Đơn xin rút tên ra khỏi đảng đă được Thủ tướng Phạm Văn Đồng ra một điều kiện: Phải 10 năm sau mới được quyền công bố chính thức rút tên ra khỏi đảng. Sau này, trong bài phỏng vấn trả lời trên tờ Far Eastern economic review (Feer) ngày 17-10-1996, Dương Quỳnh Hoa đă trả lời câu hỏi: « Quel est l’évènement le plus marquant pendant les 50 années passées?» bằng một phán quyết: « L’effondrement du mur de Berlin qui mit un terme à la ‘grande illusion’. » ( Biến cố nào được coi là nổi bật nhất trong 50 năm đă qua? Trả lời: Sự sụp đổ bức tường Bá Linh chấm dứt một thời kỳ cuả ‘ảo tưởng lớn’).

Và nói như ông Hồ Sĩ Khuê: “Thành viên Mặt trận thực sự chẳng có bao nhiêu. Nhưng ở Sài G̣n, sao mà ai cũng có vẻ là người của Mặt trận quá.”  Nhưng bên trong, họ chỉ làm bù nh́n. H́nh nộm” ngồi chơi xơi nước” như theo lời tường thuật của kỹ sư Trương Như Tảng. Ông Tảng vốn là một sinh viên du học bên Pháp, có dịp gặp Hồ Chí Minh, coi HCM như khuôn mặt lănh tụ sáng chói nhất để chống lại người Mỹ, và trước mắt, chống lại chính quyền Ngô Đ́nh Diệm đă viết: Hồi kư của một Việt cộng (A Viet Cong Memoir) cho thấy MTGPMN chỉ là một sự dàn dựng, họ được đưa vào bưng để làm bung xung, đánh lừa cả thế giới. Họ bị bịt mắt, dẫn đi quanh co trong rừng. Những buổi họp, để giữ bí mật, các thành viên mặt trận đều bịt mặt, v́ thế chẳng biết ai vào với ai. Ai là thật, ai là giả? Đó là kinh nghiệm đau xót của một số ít trí thức miền Nam. Trong The Myth of Libération, Trương Như Tảng tố cáo sự dàn dựng giả dối của chính quyền Cộng sản Hà Nội: “Trong nhiều năm, họ đă nghe Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa long trọng tuyên bố cam kết”, qua lời Tổng bí thư Lê Duẩn, rằng “Miền Nam cần có chính sách riêng của miền Nam”.  Hay như lời Thủ tướng Phạm Văn Đồng tuyên bố với phóng viên nước ngoài: “Chẳng ai lại có cái ư nghĩ ngu xuẩn và tội lỗi là thôn tính miền Nam”. 

William Shawcross, trên tờ Washington Post, nhận xét:*  “He became the Viet Cong’s Minister of Justice, but at the end of the war, he fled the country in disillusionment and despair. He now lives in exile in Paris, the highest level official to have defected from Viet Nam to the West. This is his candid, revealing and unforgettable autobiography. (Tạm dịch: “Ông trở thành Bộ trưởng Tư pháp trong chính phủ Việt cộng, nhưng sau khi chiến tranh chấm dứt, ông đă trốn thoát khỏi Việt Nam với tâm trạng bị vỡ mộng và thất vọng. Nay ông tỵ nạn ở Paris. Ông là một trong những viên chức cao cấp nhất đă đào thoát ra khỏi Việt Nam sang Tây Phương. Đây là cuốn tự truyện đáng nhớ, phơi bày (nhiều chuyện) và thành thật.”)

Vai tṛ bù nh́n của MTGPMN cũng được đề cập đến trong hồi kư của Vũ Thư Hiên. Ông viết: “Trẻ con miền Bắc cũng biết Mặt trận Giải phóng là do miền Bắc dựng nên”.

Người trí thức miền Nam một lần nữa bị lừa gạt .

Riêng Nguyễn Hữu Thọ, sau 1975 được làm phó chủ tịch nước. 1981, phó chủ tịch quốc hội, 1988, chủ tịch Mặt Trận Tổ Quốc… Nhưng cuối cùng th́ ông cũng phải thốt ra một câu như sau: “Dân chủ không thể có bằng sự ban ơn, mà bằng sự đấu tranh”.

Sau ngày miền Nam bị mất vào tay Cộng sản, nhiều người trong bọn họ trước đó mang ảo tưởng sẽ có vai tṛ, sẽ được dùng, sẽ được lănh đạo miền Nam, bị gạt ra bên lề một cách thảm hại, có chức mà không có quyền. Màn lường gạt, tráo trở này chắc chắn không phải lần đầu mà chắc chắn cũng không phải lần cuối. Những người trí thức này chỉ quên một điều: Người Cộng Sản bao giờ cũng ăn thịt trước tiên những đứa con đẻ của ḿnh.

 

Niên lịch mới, Sàig̣n thời của những tiên tri giả.

Bộ đội chính quy, cán bộ miền Bắc đă đành là có mặt. Nhưng đám 30 tháng tư, bọn cách mạng 30 cơ hội nhố nhăng th́ đầy đường, đầy ngơ. Không biết ở đâu ra mà họ đông thế. Chúng là những tiên tri giả, bán rao thời cuộc. Gọi theo một thứ ngôn ngữ chuyên dùng hơn th́ đó là bọn tiêu bạc giả, vốn liếng là sự bịp bợm, sự tráo trở và tư cách vô liêm xỉ. Có thể bọn họ tuần trước, tháng trước, năm trước c̣n "đả đảo Cộng Sản" nay th́ hoan hô… Bên cạnh đó, có một số trí thức đă có dính dáng, hoạt động bí mật trong Mặt Trận nay xuất đầu lộ diện. Trong số này, có Giáo sư Lư Chánh Trung, sau làm đại biểu Quốc hội, Nguyễn Ngọc Lan trên tờ Đối Diện nay đổi là Đứng Dậy. Đổi tên tờ báo đă khéo, chơi chữ đă khéo, nhưng Đứng Dậy có  thể  hiểu lầm là  nổi dậy. Hăy coi chừng. Một số người khác như Nguyễn Đ́nh Đầu, luôn luôn dấu mặt sau hội trường giật giây và em rể, giáo sư Trần Đức Quảng, gs Châu Tâm Luân,  LM Chân Tín,  Trần Bá Cường v.v.

Và nếu nói như người Pháp: « Il n’ y a que le premier pas qui compte »,  có nghĩa chỉ bước đầu tiên mới quan trọng, th́ những người trên là những người đầu tiên ló mặt sau ngày Giải Phóng t́m một vị trí quan trọng?

 

Ngày 4-5-1975, xung đột với Cam phu chia

Nhũng tin tức nóng hổi sau đây nhiều bạn đọc, sau hơn 30 năm, có thể đây là lần đầu tiên đuợc nghe nói tới. Điều đó không lạ, v́ tin tức thông tin nằm trong mạng lưới tuyên truyền của chế độ CS. Vào ngày 4-5-1975, có nghĩa là chỉ bốn ngày sau khi miền Nam thua trận, quân đội Khờ me của Pol Pot đă đổ bộ xâm chiếm đảo Phú Quốc. Ngày mồng 8, quân đội trên bộ của Pol Pot đột nhập vào tỉnh Tây Ninh. Ngày 10, chiếm đảo Thổ Chu và bắt hơn 500 thường dân. Để trả đũa, bộ đội VN chiếm đảo Poulo Way, sau đó th́ rút lui. Tất cả những biến cố trên xảy ra dân chúng đều không hay biết v́ các báo bị đ́nh bản. Nhưng đài phát thanh cũng không thông báo cho dân chúng biết. 

Ṇng súng của bộ đội Bắc Việt chưa kịp nguội th́ đă chuẩn bị cho một cuộc chiến khác. Hai cuộc chiến trước đây là chiến tranh chống chủ nghĩa Đế quốc thực dân, vậy th́ sẽ gọi tên cuộc chiến sắp tới là ǵ ? Cho đến nay, có hai cuộc chiến đă xảy ra, một phía Nam và một phía Bắc VN. Vẫn chưa có một tên gọi thích đáng. Chúng vẫn chưa có một giấy khai sinh hộ tịch. Phải gọi đó là những cuộc chiến tranh ǵ ? Cũng không ai nhắc tới nửa lời về lẽ thắng thua của hai cuộc chiến ấy. Mọi chuyện được bung bít dấu nhẹm như thường lệ. Nói gian dối là cái lệ của người làm chính trị chẳng khác ǵ rỉ sét là cái đương nhiên của vỏ tầu biển. Nói gian dối riết rồi bị lộ, bị ch́m chẳng khác ǵ rỉ sét lâu ngày đục vỡ sàn tầu.

Quân đội Khờ Me Đỏ mới vào Nam Vang hôm 17 tháng 4, th́ ngay ngày hôm sau đă chuyển quân về hướng biên giới VN. Và như đă tŕnh bày ở trên, đă chiếm đảo Phú Quốc. Theo ông Phan Hiền th́ sau đó, nhiều cuộc thương thuyết đă diễn ra từ tháng 4-1976, nhưng kết quả không đi tới đâu và hai bên đă ngưng mọi thương thuyết vào ngày 18 -5-1976... Sang đến tháng 4-1977 th́ tranh chấp giữa hai bên càng trở nên ác liệt. Các tỉnh biên giới của VN như Tây Ninh, Hà Tiên phải di tản dân chúng. Tây Ninh th́ một phần dân chúng phải bỏ nhà, Hà Tiên đến ba chục ngàn người phải di tản đi nơi khác. Phóng biên Roland-Pierre Paringaux đă nh́n thấy hàng đống thây người bị giết, bị cắt cổ ở các ruộng thuộc tỉnh Hà Tiên. Francois Nivolon cũng đă nh́n thấy những cảnh chém giết, đốt nhà tàn bạo như thế ở làng Mỹ Đức, cách biên giới Cam Pu Chia chỉ 4 km. Có gia đ́nh cả bố mẹ, 4 anh chị em đều bị giết, trừ một người con gái sống sót kể lại như một nhân chứng. Sau này, Ông Ngô Diên tố cáo có cố vấn Trung Quốc trong các binh đội quân Khờ me đỏ. Phải chăng, đằng sau Pol Pot là kẻ thù cố cựu của VN ? Thật vậy, do sự xúi dục của Bắc kinh, chính quyền Căm bốt mới dám gây chiến tranh biên giới với Việt Nam và cắt đứt quan hệ ngoại giao với ta ngày 31-12-1977. 

Ông Trần Văn An, một cán bộ tỉnh, cho biết từ 1975, tại tỉnh Tây Ninh, tỉnh giáp ranh với Cam bốt, có một 1090 thường dân bị giết do quân đội Pol Pot gây ra. 70.000 dân chúng phải dời bỏ ruộng vườn đi nơi khác. 15000 mẫu hoa mầu bỏ không canh tác. Tuy nhiên, đây cũng chỉ là những con số đưa ra, sự thẩm định độ chính xác cần được dè dặt.

Trong một tài liệu sau này VN thu nhặt được cho thấy Pol Pot coi cuộc đối đầu giữa Cambốt và VN là một đối đầu giữa Sống hoặc Chết. Sự thù ghét của Pol Pốt đă rơ ràng và minh bạch trong cuốn Sách đen ghi nhận:’’ Dân tộc Cam Bốt nuôi một mối hận quốc gia đối với Việt Nam, một kẻ hiếu chiến đi xâm lược, nuốt chửng đất đai của Cambốt. Người Cam Bốt biết rơ ràng tính xảo trá, mưu mô quỷ quyệt và giả h́nh của VN. VN hành động như một Hitler đối với Cambốt một cách man rợ và Phát xít. Chúng ta phải bằng mọi cách giết người VN, một đổi 30.’’

Cũng sau này, trên mặt báo Le Figaro đă cho chạy một hàng tít lớn, phóng viên Yves-Guy Berges xác nhận: « Hà nội đang tiến hành một cách khoa học một cuộc diệt chủng lớn nhất trong lịch sử » (Hanoi procède scientifiquement au plus grand génocide de l’histoire). Điều này xem ra có vẻ không đúng sự thật. Le Figaro tỏ ra thiếu ngay thẳng và trung thực. Hà nội đă không đến mỗi ngu dại như thế, v́ họ có cách xử lư khôn ngoan và khéo léo hơn. Nhưng mặc dù Pol pot gây hấn trước đă mang quân sang chiếm đóng Phú Quốc, việc VN mang quân sang chiếm đóng Campuchia đă bị cộng đồng thế giới lên án khiến uy tín ngoại giao của VN bị suy giảm,  nhất là đối với các nước Đông Nam Á. Về phía người Mỹ, Ngoại trưởng Mỹ Cyrus Vance nói :"Các cuộc nói chuyện Mỹ-Việt Nam về b́nh thường hoá đă tan vỡ do cuộc xâm lược Cam pu chia của Việt Nam.’’

Ông Trần Quang Cơ, nguyên thứ trưởng ngoại giao CHXHCNVN, trong Hồi ức và Suy nghĩ đă đặt câu hỏi :’’ Việc ta từ chối  b́nh thường hóa quan hệ không điều kiện của Mỹ, làm cao trước việc Asean ngỏ ư muốn VN tham gia tổ chức khu vực này, theo tôi, đă đưa lại những hệ quả vô cùng tai hại cho nhân dân và đất nước. Liệu Trung Quốc có dám tiếp tay cho bọn diệt chủng Pol Pot khiêu khích ta và dám đánh ta năm 1979 nếu như VN sau chiến thắng 1975 có một chiến lược * thêm bạn bớt thù* thực sự cầu thị hơn không?"

 

Ngày 5-5-1975, Thông cáo của ṭa Tổng Giám Mục Sàig̣n.  

Sau tiếng hát của TCS trên đài phát thanh Sàig̣n, dấu hiệu thứ hai đón tiếp chính quyền mới là vị đại diện của Thiên Chúa giáo.

Chưa đầy một tuần sau ngày Giải phóng, TGM Nguyễn văn B́nh gửi tâm thư kêu gọi giáo dân phải ḥa ḿnh vào nhịp sống mới, nỗ lực đón nhận trong tinh thần hoà hợp, ḥa giải dân tộc. Lá thư có đoạn như sau:” Một trang sử mới đă mở ra cho dân tộc VN.. Đây là một niềm vui chung của cả dân tộc, và với cái nh́n theo đức tin của người tín hữu, đây cuĩng chính là một hồng ân của Thiên Chúa.. Hơn mọi lúc, giờ đây người công giáo phải hoà ḿnh vào nhịp sống của toàn dân, đi sâu vào ḷng dân tộc.. người công giáo chúng ta phải phải sẵn sàng thi hành một cách tích cực mọi nghĩa vụ công dân do Chính phủ cách mạng lâm thời chỉ dẫn.”

Nội trong năm 1975, có cả thảy ba lá thư chung như thế. 12 tháng 6 một lá thứ hai và nhân dịp Hội nghị Hiệp thương thống nhất tổ quốc diễn ra tại TP Sàig̣n, một lá thứ ba mà nội dung nhằm thứ nhất trấn an người TCG, linh mục, tu sĩ trong toàn địa phận. Thứ hai bảo đảm với chính quyền CM về sự sẵn sàng hợp tác trong hoàn cảnh mới. Theo tinh thần hiến chế: Gaudium et Spes. Anh em ơi, hăy vui mừng.  Một vài Kitô giáo trí thức cấp tiến như Nguyễn Ngọc Lan đă dùng thánh kinh để gọi Ngày Giải Phóng: đó là tin mừng cứu độ đă được gửi đến. 

Bảo hăy đừng sợ th́ c̣n nghe được. Bảo hăy vui mừng th́ quả thực không dễ.

Một số khác th́ tỏ ra lo ngại về đường lối ḥa giải của Tổng Giám Mục Nguyễn Văn B́nh. Sài g̣n có khoảng 600 linh mục, trong đó có hơn 100 vị đă du học nước ngoài và 2000 tu sĩ phần đồng khép ḿnh đưới sự chỉ đạo của đức cha B́nh. Tất cả những cơ sở trường tư thục TCG như đại học, đại chủng viện như cơ sở ḍng Tên, Đồng Công, Chúa Cứu thế, học viện thánh Piô 10, Đàlạt, các cơ sở thương mại như nhà in Nguyễn Bá Ṭng, trại gà Đàlạt, thương xá Eden, nhà sách, cơ sở nhà in Tân Định đều phải giao nạp cho chính quyền mới. Theo Georg Evers, Missio 2003, CHLB Đức trong bài T́nh trạng nhân quyền tại CHXHCNVN, tự do tôn giáo, bản dịch Việt ngữ của Liên Đoàn công giáo Việt Nam tại Đức th́ Giáo Hội miền Nam có 226 trường trung học, 1030 trường tiểu học. Ngoài ra theo niên giám 2004, vào năm 1962-1963, giáo hội TCG miền Nam có có 58 cô nhi viện nuôi hơn 6000 trẻ em, 48 bệnh viện, 35 viện dưỡng lăo, 8 trại phong và 159 pḥng phát thuốc phát thuốc cho khoảng gần 2 triệu lượt người. Tất cả đều bị trưng thâu, nộp cho nhà nước.

Sự chọn lựa của Tổng Giám Mục Nguyễn Văn B́nh đă hẳn không phải dễ. Một tháng trước ngày qua đời, phóng viên Hải Nam, tức Trương Bá Cần, báo CGVDT đă phỏng vấn cụ trong 20 năm  ‘‘sống phúc âm giữa ḷng Dân tộc’’, cụ là người đứng đầu CGVN, xin cụ cho biết cảm tường của cụ trong 20 năm qua sống dưới chế độ VNDCCH, cụ c̣n thấy sợ không. Trả lởi ‘‘vẫn c̣n sợ ” và cụ nói tiếp: "Đời con người giống như một cuộc leo núi. 50 năm đầu là thời gian leo núi và những năm c̣n lại sau này là xuống núi. Khi leo lên núi th́ thời gian kéo dài và khó khăn, c̣n khi xuống núi th́ dễ dàng và nhanh hơn. Nhưng với tôi, 20 năm qua, cảm tưởng sâu đậm của tôi là đă phải sống một thời gian dài nhất của đời người ".

Sau này, tác giả Tuệ Không, trong một bài viết vào 10-5-1995, cho rằng tất cả bài phỏng vấn trên là ngụy tạo của Uỷ Ban Tôn giáo chính phủ dựng đứng lên. Toà TGM Sàig̣n cũng xác nhận cụ Nguyễn Văn B́nh đă quá suy yếu, kiệt sức để có thể trả lời một bài phỏng vấn như thế. Bài phỏng vấn từ  câu hỏi đến câu trả lời là của ông Trương Bá Cần dàn dựng viết ra. Ông có đưa tới tŕnh Đức Cha vẫn đang đau yếu, chỉ đọc mấy câu, câu được, câu mất và yêu cầu đừng đăng. Nhưng ông Trương Bá cần đă viện cớ là bài đă lên chữ rồi, ở nhà in, để rồi xin cứ đăng.

Theo tôi, có lẽ tâm trạng và ḷng mong ước của cụ Giám Mục B́nh thể hiện rơ nhất trong câu trả lời lúc 80 tuổi của báo Iregno Attualita, đăng lại trên Église d’ Asie là: ‘‘Lúc này đức cha ước vọng ǵ nhất. Trả lời: Sau những biến cố Đông Âu, tôi hy vọng mọi sự sẻ tiến triển tốt đẹp.’’

Phía Phật Giáo, cả hai vị lănh đạo của hai khối đều không có tiếng nói. Thượng toạ Thích Tâm Châu chọn lựa ra đi như nhiều người. Thượng toạ Trí Quang th́ tịnh khẩu suốt hơn 30 năm nay. Phật tử như rắn không đầu. Người cần lên tiếng và  đáng nhẽ phải lên tiếng là TT Trí Quang. C̣n ai uy tín hơn ông trong lúc này, người đă từng được nước Mỹ qua phóng viên James Wilde và Frank Mc Culloch trên tờ Time mệnh danh ‘‘politician from the pagoda’’ hay ‘‘a most extraordinary man’’ (người phi thường nhất). Tôi chỉ muốn đổi một vài chữ như sau. Trước 1975, ông là một politician outside the pagoda và sau 1975, một politician inside the pagoda.

Nhưng ông Diệm, ông Thiệu không c̣n, Thượng toạ Trí Quang không có giá nữa. Ông chỉ có thể là * người của thời cuộc* dưới một chế độ kiểu ông Diệm, ông Thiệu mà thôi. Trong suốt hơn 30 năm quy ẩn và ngồi dịch rất nhiều kinh sách, ông chỉ làm được một thứ chính trị inside the pagoda, một điều hữu ích cho chính ông và cho những kẻ thù của ông ở bất cứ phía nào. Đó là: Ta bảo cho các người hay, ta không bao giờ là người Cộng Sản như các người nghĩ, nhưng ta là nhà tu thật trong chế độ Cộng Sản. Và TGM B́nh th́ có thể nói: Ta bảo cho các người hay, có người chê ta ba phải. Nhưng trước sau, ta là nhà tu thật dưới thời ông Diệm, ông Thiệu. Nhưng ta trở thành nhà chính trị bất đắc dĩ dưới thời Cộng Sản.  

Và có lẽ, tôi thích nhất câu nói để đời sau đây của nhà tu thật: ‘‘Nó giết ḿnh hôm trước, hôm sau nó đem ṿng hoa đến phúng điếu ḿnh.’’

Có lẽ chính nhờ hiểu cái lẽ quyền biến của câu trên đă giúp ông không phải nhận một ṿng hoa phúng điếu.

Sau 1975, chúng ta có chủ nghĩa CS và có  thêm chủ nghĩa bất đắc dĩ. Bất đắc dĩ để Thượng toạ Trí Quang phải quy ẩn trong chùa và bất đắc dĩ, Tổng Giám Mục Nguyễn Văn B́nh phải làm chính trị. Kẻ làm chính trị phải đi tu và kẻ đi tu phải làm chính trị. 

Và cả miền Nam đều làm những công việc bất đắc dĩ như thế.

 

Ngày 6 tháng 5-1975, bộ mặt thứ hai của Sàig̣n sau Giải Phóng

Bộ mặt thứ nhất là những tiên tri giả ở trên, bộ mặt thứ hai là những người buôn bán giả. Chỉ sau một tuần, cái điểm nỗi bật của một thành phố chết vừa mới trỗi dậy là sự xuất hiện rất nhiều những người buôn bán lẻ. Họ ngồi dọc theo các đường, từ đầu phố hay đầu con hẻm. Bán đủ thứ và mua cũng đủ thứ.

Người buôn bán phần đông là những người chưa bao giờ buôn bán. Đây là lần đầu họ làm nghề buôn bán bất đắc dĩ. Sự buôn bán này là một bài toán trắc nghiệm người chủ mới trong thế chờ đợi thời thế, nghe ngóng động tĩnh.

Nghĩ đến hoàn cảnh bất đắc dĩ của cả miền Nam, xin mượn lời hát của TCS:

Hăy sống dùm tôi

Hăy nói dùm tôi

Hăy thở dùm tôi…

 

Nhiều người không muốn sống, không muốn thở và đă hẳn không muốn nói nữa.

 

Cuộc truy diệt văn hóa, sách vở miền Nam.

Người ta kể trường hợp ông NL, một cán bộ vào tiếp thu văn hoá miền Nam có dịp đọc cuốn Loan Mắt Nhung của nhà văn Nguyễn Thụy Long. Ông thích cuốn sách đó, mang về Bắc tŕnh ông Tố Hữu. Ông TH đọc xong nói:"miền Bắc đă không thể có người viết văn như thế này .."

Vậy mà lần đầu tiên người dân Sàig̣n phải đốt sách vở.

Nhà văn Bùi NgọcTấn trong cuốn viết về Bè Bạn cũng đă từng trải nghiệm việc phần thư như thế ở ngoài Bắc: « thế là tất cả các thư từ đều được đem ra đốt. Dưới bếp nhà anh chị tôi, vắng vẻ. Tôi nhớ là mùa nắng hanh. Những bức thư bắt lửa. Đây mới thật là lễ Hiến tế.. Tôi đưa từng lá thư vào lửa. Khuôn mặt của ntừng người bạn hiện ra trong ngọn lửa lem lem. Tôi và Nguyên B́nh cùng im lặng. Không ai nói một lời trong suốt lễ hóa vàng. Không cả tiếng thở dài nữa. »

Trong cuộc truy lùng sách vở Ngụy, bị đánh giá đồi trụy và phản động này, th́ ông LM Trương Bá Cần, nguyên giáo sư sử học, hay Trần Bá Cường tỏ ra biết lợi dụng thời cơ nhất. Trần Bá Cường đă yêu cầu địa phận, nhà xứ, nhà in nộp tất cả tài liệu ấn phẩm tôn giáo. Từ đó cho người sàng lọc tài liệu nào không cần th́ đem bán ki lô, tài liệu nào xử dụng được hay có giá trị lịch sử th́ ông cất giữ cho riêng ḿnh. Người viết bài này biết rằng riêng địa phận Sàig̣n và nhà in Tân Định c̣n tàng trữ rất nhiều tài liệu quí giá từ thời Pháp thuộc. Các văn kiện liên quan đến ṭa thánh, các phúc tŕnh địa phận, các thư từ giao dịch của các vị giám mục tiền nhiệm, các sắc chỉ, bài sai, các sách cũ quư và hiếm không đâu có, các sách đạo như kinh bổn, hạnh thánh, báo chí như tờ Nam Kỳ địa phận trong suốt hơn 40 năm… Không biết ông Cường đă cướp được những tài liệu ǵ và cất giữ ở đâu. Điều chắc chắn là cả một di sản văn hóa tinh thần có giá trị lịch sử đạo TCG bỗng chốc trở thành tiêu ma.

Sau này, cái tội dối với lịch sử đó, ḿnh ông gánh vác lấy.

Trách chính quyền CS truy diệt văn hóa miền Nam đă là một lẽ, ngay một số nhà văn miền Bắc cũng có cái nh́n khinh miệt, đánh giá thấp văn học cùng văn nghệ sĩ miền Nam, dù đă sau nhiều thập niên. Trong truyện ngắn Rửa tay gác kiếm xuất bản vào năm 2002 mới đây, ta c̣n đọc được những đoạn văn như sau của Bảo Ninh: ’’Chỉ mỗi ḿnh Tú, một tay mọt sách, nguyên sinh viên trường Tổng Hợp là không ngại rúc vào đó, ngụp lặn lục t́m trong bụi tha về pḥng một bao tải nặng chịch những cuốn tiểu thuyết chưa bị mối xông. Nhưng tất cả đều rặt một ṇi thối tha mục nát văn chương chống Cộng, chữ nghĩa tối tăm, mờ ám, nội dung láo toét, ít ai kiên nhẫn đọc nổi quá nửa trang, chất giấy lại không hợp để vấn thuốc và khổ th́ quá nhỏ để gói bọc một thứ ǵ, thành thử đống sách của Tú chẳng mấy ai buồn ngó, dù rằng nó cứ vơi đi. Người ta thấy các mẩu vụn của những Chu Tử, Xuân Vũ, những ǵ đó nữa quanh chỗ dựng điếu cày và trong nhà bếp, trong nhà cầu…’’ 

Họ đă cố hủy diệt văn học miền Nam mặc dù đă  không hiểu ǵ về Văn học ấy. Càng không hiểu được sức sáng tác từ tinh thần tự do sáng tạo của các nhà văn miền Nam cũng như  hệ  thống tự do xuất bản so với miền Bắc. B́nh Nguyên Lộc viết 820 truyện ngắn vào năm 1966. Đến 1975, số lượng đă hẳn trên 1000 truyện. Truyện dài của ông gần 100 cuốn. Nhà văn Duyên Anh có khoảng 60 tác phẩm.  Phạm Duy đă  sáng  tác gần 1000 bản nhạc đủ loại. Hay có, dở cũng có. Trịnh Công Sơn trên 600 bài, nhiều bài thuộc loại nhạc vượt thời gian đi vào bất tử cả từ lời ca đến nhạc điệu. Chỉ xét về lượng sách xuất bản, có nhà văn nào ở miền Bắc có thể so sánh bằng ?

Nguyễn Tuân, nhà văn hàng đầu miền Bắc, trước tiền chiến có 10 tác phẩm nổi tiếng như Vang bóng một thời, Tàn đèn dầu lạc, từ 45-75 có 10 tác phẩm đều tầm thường như Hà nội Ta Đánh Mỹ giỏi... Những Tô Hoài, ngoài một vài cuốn kư, Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyên Hồng, Vũ Ngọc Phan, nhất là Nam Cao đă viết được ǵ ?

Văn Cao bất hủ thời tiền chiến nay để lại được ǵ ? Có bằng  số lượng 2% phần trăm so với Trịnh Công Sơn? Có đi được nhiều thế hệ tuổi trẻ như Trịnh Công Sơn ? Hay như Huy Cận với những bài Cướp súng giặc, Giết giặc, Tăng gia sản xuất, hoặc Lưu Trọng Lư với Cái mũ nồi, Tươi đẹp mầu cờ. Nhà văn Thanh Tịnh với Bài trừ hàng xa xỉ phẩm, Chống tư tưởng sợ Mỹ… 

Xin trích dẫn nhà thơ Lưu Trọng Lư nổi tiếng với Lá Thu Vàng để chúng ta có dịp ngậm ngùi: 

Đứa nào rẽ thúy chia uyên.

Bắn cho nổ con ngươi, ḷi con mắt

Chặn bàn tay, trói giật bàn tay.

 

Và đây là thi sĩ Tố Hữu, nhà thi sĩ đứng thứ nh́ ở miền Bắc:

Thảm lắm anh à lũ ác ôn

Giết cả trăm người trong một sáng

Máu tươi lênh láng đỏ đường thôn

Có những ông già nó khảo tra

Chẳng khai, nó chém giữa sân nhà

Có chị gần sinh không chịu nhục

Lấy vồ nó đập thai ra

Có em nhỏ nghịch ra xem giặc

Nó bắt vô vườn, trói gốc cau

Nó đốt, nó cười.. em nhỏ hét:

Má ơi nóng quá, cứu con ra.

 

 

Ngày 15 tháng 5-1975, giáo chức được lệnh phải tŕnh diện tại Bộ Giáo Dục.

Một trong những sai lầm của chế độ mới là để giáo sư cũ đi dạy trở lại.

Bởi v́, tất cả không trừ một người, đều không đủ tư cách làm một thày giáo trong chế độ mới. Không phải chỉ đi học hai ba tuần lễ chính trị đă đủ để biến họ thành một giáo viên của mái trường xă hội chủ nghĩa. Việc dạy và học trở thành một màn kịch lừa đảo, tráo trở và ngô nghê. Thày đóng kịch c̣n tṛ mất tin tưởng. Con người sống bất đắc dĩ, sống hai mặt, nói một điều nghĩ một điều. Đi dạy mà  sợ học tṛ, nhất là học tṛ lớp nhỏ. Đối với học tṛ lớn, dễ có sự thông cảm hơn. Không tin nhau th́ c̣n dạy dỗ ǵ được. Cái tồi tệ nhất của học đường không phải là thiếu trường sở, cơ sở vật chất, thầy giỏi, phương pháp giáo dục năng động, cho bằng sự mất niềm tin nơi giới trẻ đánh mất niềm tin ở thầy.

Chính trị hóa học đường là điều xúc phạm nhân phẩm thầy giáo.

Trong Nam, trước 30-4-1975 người thầy chưa hề bị xúc phạm như thế. Sau 30-4-1975, đi dạy học là một dằn vặt khổ sở đối với thầy v́ cảm thấy ḿnh hèn, không nhân cách. Mỗi ngày, ông thầy phải tranh đấu với chính ḿnh, vật lộn với cái đầu của ḿnh, phải t́m cách chiến thắng những tư tưởng bất đồng cứ ngo ngoe muốn ngóc đầu dậy để phản đối cái này cái kia. Có nhiều thứ để phản đối, để không đồng ư. Vai tṛ nhà văn, nhà giáo quả không xa nhau lắm ở chỗ biết nói sự thật. Xă hội phải tin vào người thầy và trả lại vai tṛ truyền đạt kiến thức và nhân phẩm.


Bộ mặt thứ ba của Sàig̣n sau Giải Phóng: bộ mặt của kẻ chiến thắng?

Có cuộc diễn binh ăn mừng chiến thắng. Chiến thằng ǵ, ai chiến thắng ai? Đă nói rằng cuộc chiến này không có người thắng, kẻ thua. Vậy ăn mừng chiến thắng là bỉ mặt đối với người Sàig̣n. Người Sàig̣n muốn quên, c̣n họ muốn nhớ. Họ muốn phô trương sức mạnh, họ muốn người Sàig̣n nh́n nhận thua cuộc. Họ muốn xác nhận một điều không cần xác nhận nữa. Và mỗi năm, họ tái diễn lại cảnh này.

Tôi tự hỏi khi thống nhất nước Đức th́ dân chúng Tây Đức ứng xử thế nào, nhà cầm quyền Tây Đức đă hành xử ra sao ? Đă bắt đi học tập? Đă đầy đi kinh tế mới? Đă tịch thu tài sản, nhà cửa dân Đông Đức? Đă truy diệt đốt phá sách vở bên Đông Đức? Đă bắt các nhà văn, nhà báo Đông Đức vào tù ? Đă dựng nên những bức tường ô nhục ? Đă gọi dân quân Đông Đức là bọn Ngụy, bọn phản động ? Đă xua đuổi người ta ra biển ? Đă có bao nhiêu người dân Đông Đức phải trốn ra khỏi nước họ? Và một câu hỏi chót: Dân Tây Đức đă hy sinh bỏ ra bao nhiêu tỉ để thực hiện việc thống nhất nước Đức ?

Các anh em đồng bào, những thanh niên trí thức từng du học, từng đi làm bên các nước Đông Âu, hăy làm nhân chứng viết lên điều này. Các anh đă thấy ǵ, nghĩ ǵ và so sánh ǵ khi nghĩ tới hoàn cảnh thống nhất đất nước sau 1975 so với nước Đức ?

Bài học thống nhất nước Đức là bài học lớn mà người CS khi nh́n lại đă không học được, chỉ v́ việc thống nhất này xảy ra sau 1975. Nhưng ngay cho dù xảy ra trước 1975, vị tất đă học được ǵ? Bằng chứng là sự tan ră chế độ CS Đông Âu, nào họ đă rút ra được bài học ǵ? Bộ mặt thứ ba này cho thấy một điều: Họ luôn luôn cư xử với người Sàig̣n như kẻ thắng cuộc, như kẻ đô hộ với người bị trị. Đó là một thứ thực dân kiểu mới.

Người ta thấy trên đường phố diễn hành những đại bác 130 ly của Sô Viết, hoả tiễn Sam 2 Sô Viết xuất phát từ Thủ Đô Hà nội. Một lần nữa xác quyết rằng, đấy là thành quả chiến thắng của Hà nội chứ không của một ai khác. Một thành quả mà Hà nội đă trả  một giá không rẻ. Trong Les gens de la C.I.A, 1980, Guérin đă cho biết một cán bộ CS ở B́nh Dương, vào năm 1963-1965, nhóm của ông này có cả thảy 75 người, đến ngày giải phóng, chỉ c̣n ḿnh ông sống sót. ‘‘Des soixante-quinze membres des années 1963-1965, je suis le seul survivant’’. Dương Thu Hương nhắc lại số học sinh trong 4 lớp Trung Học cùng  thời với bà, sau chiến tranh, chỉ có hai người sống sót trở về.

Đó là cảnh mà một thi sĩ Trung Hoa đă ngao ngán viết:’’ Nơi vó ngựa chiến đi qua, mười năm sau, cỏ chưa mọc và gió thổi c̣n mang mùi máu..’’ 

Đó cũng là cảnh mà một chuyên gia người Mỹ, ông Keith Weller Taylor đă ngạc nhiên nhận xét về sức sống của người VN:  Những chuyên gia về sự tồn tại.

Cảnh đó cũng được quay chiếu thành film: We were soldiers. (Chúng ta đều là những người lính). Ở nơi đó, vị trung tá chỉ huy trước cảnh  hoang địa với sự hy sinh của hơn 2 phần 3 đồng đội chỉ c̣n mỗi một điều an ủi: « Cuối cùng th́ những kẻ c̣n lại vẫn là những người chiến thắng ».

 

27-5-1975,  bộ mặt thứ tư của Sàig̣n sau Ngày Giải Phóng: Sự sợ hăi. 

Đài phát thanh thành phố ra lệnh phải thu nộp tất cả các sách vở, báo chí, phim ảnh, tài liệu in ấn trước ngày 30 tháng tư được coi là đồi trụy? Chỉ một lệnh này thôi đủ làm dân thành phố đau ruột. Nhà nào chả có sách vở, nhà nào mà chả có chữ nghĩa.

H́nh như chế độ tạo cho mọi người dân "mặc cảm tội lỗi" đến làm ǵ cũng sợ. Làm việc ǵ, nói điều ǵ, phát biểu điều ǵ cũng phải ḍm trước, ḍm sau, uốn lưỡi bảy lần mới nói. Cái tâm trạng đó biến nhân cách con người thành thiếu trung thực, nghĩ một đằng làm một nẻo. Sống như thế kể là đáng buồn. Sợ bóng, sợ gió, sợ đủ thứ. Trước đây c̣n trẻ sợ ma, sợ người chết, nay bắt đầu sợ người sống. Nhất là sợ chế độ.

Chế độ mới quản lư con người bằng cách đẩy họ đến tâm trạng sợ hăi bằng cảnh cáo, bằng hù dọa, bằng học tập, bằng lư lịch, bằng bản tự kiểm mà biểu tượng là các vị công an phường khóm với những h́nh thức chế tài, kiểm soát, chế độ xin cho.

Như ở BaLan, 65% dân chúng có hồ sơ của mật vụ Ba Lan. Thế th́ sống luôn luôn trong sự sợ hăi và bất an thường trực. Thân phận lưu đầy ở đây là cảm thức ḿnh là kẻ tội phạm. Cảm thức này phải sống trong ḷng chế độ mới biết được. Mới đây, tôi về VN, ra Hà nội, đến các khu vực *cấm thành* dọc theo đường Hoàng Diệu, khu Ba Đ́nh, tự nhiên cảm giác bất an, lo sợ tự nhiên dấy lên trong tôi. Sau 30 năm trở lại, tưởng nó chết rồi, nó c̣n đó trong vô thức ngóc đầu trở lại. Tôi vội vă dời khỏi khu vực đó..

Đó là một thứ phong kiến kiểu Cộng Sản.

Cái khốn khổ dằn vặt con người không phải là đă phạm tội ǵ mà vận dụng hết cách như trí nhớ, sự khôn ngoan, trí thông minh nghĩ ra, tưởng tượng ra tội phạm.

Cái cảm nghiệm này đối với những người theo đạo TCG thật sự không xa lạ ǵ. Khi c̣n nhỏ tuổi, người theo đạo TCG cũng thường rơi vào mặc cảm ḿnh lúc nào cũng tội lỗi, một ngày ít lắm cũng phạm tội đến 7 lần. Trẻ con mà có tội ǵ ? Vậy mà mỗi tuần mỗi xưng tội. Mỗi tuần ngồi thần ra để đẻ ra tội, đẻ càng nhiều càng tốt. Có ǵ khác nhau giữa người Thiên Chúa Giáo và người Cộng Sản ?

Người miền Nam sinh ra ngờ vực, cái ǵ cũng có cảm giác ḿnh bị lừa.

 

Chủ nhật 1-6-1975, quân bài mạt chược cũng biết đóng kịch và người tử tế không c̣n nữa.

Đă một tháng trôi qua, đă có rất nhiều thay đổi. Mọi người đều cố gắng vận dụng khả năng thích ứng, sao cho thích hợp với hoàn cảnh mới. Thật cũng không dễ dàng ǵ. Trước 1975, tôi có thú giải trí xoa mạt chược cuối tuần. Đă một tháng hầu như quên lăng. Nay chợt nhớ lại. Thời gian như đă từ lâu chưa chơi lần nào.

Lần đầu tiên, tôi lén lút đi xoa mạt chược cho đỡ ghiền. Nhưng 160 quân bài mạt chược nay cũng phải mặc thêm bộ áo che chắn như người để khỏi gây ra tiếng động khi xoa bài. Chủ nhà đă nghĩ ra được sáng kiến đến lạ. Ông tốn kém đi mua một lốp săm xe đạp, cắt ra thành từng khúc vuông nhỏ, rộng nửa đốt ngón tay, rồi quấn ngoài quân mạt chược. V́ thế quân bài xoa va vào nhau không phát ra tiếng kêu, tránh cho hàng xóm khỏi nghe thấy. Nhưng từ nay, mỗi lần đánh quân bài ra, nó nhảy tưng tửng đến là  buồn cười. Không ngờ, nó đóng kịch cũng hay.

Đi ra đi vô phải ra lần lượt từng người một để tránh sự ḍm ngó của người chung quanh.

Niềm vui nho nhỏ, giải trí cũng đă sứt sẹo, mất vui.

Trên đường về nhà, từ chỗ đánh mạt chược ở khu Hàng Xanh, nhất là vùng Thị Nghè, đường Nguyễn Huệ, bờ sông Sàig̣n, người ta bán đủ thứ do ăn cắp, hôi của từ các kho hàng, các hăng xưởng. Có thể t́m thấy đủ thứ ở các nơi đó. Nạn con buôn chạy hàng, manh múm, nạn chợ đen, giá cả mỗi nơi mỗi khác thay đổi từng ngày. Hàng thùng thuốc lá của các hăng Bastos, hăng thuốc lá M.I.C, Thùng bia của hăng B.G.I. được đem ra bán. Xăng được bán lẻ từng chai ở mọi chỗ với cái chai không được bày ra đường làm dấu hiệu. Xăng này do bộ đội bán ra, v́ các cây xăng bị đóng cửa. Giá cả từ 1000 đồng đến 2000 đồng một chai.

Sau này, tôi cũng nhập vào ḍng chảy buôn bán xuôi ngược này. Nhiều nguồn, nhiều cách buôn lắm. Tôi mua lại những chai thuốc viên Aspirine từ Hànội mang vào. Mua cả lố hàng 2, 3 chục ngàn viên. Tôi đem đến bán cho một hai cơ sở bào chế.. Họ nghiền, tán thuốc Aspirine Hà nội rồi cho máy chạy ép ra thuốc Aspro trong Nam, có vỉ nhựa bọc. Viên thuốc cứng nhắc, tŕnh bầy đẹp, in ấn đẹp, viên thuốc không mềm nhủn như thuốc Hà nội mà giá đắt gấp 3,4 lần hơn. Chưa biết là có pha thêm bột không ? Bào chế xong, tôi lại đến mua lại cho một số hiệu thuốc quen và bán lại cho những người bán lẻ, có thể họ bán lại cho chính anh cán bộ đă bán Aspirine Hà nội.

Thật là một ṿng xoay đến buồn cười. Thật ra đó chỉ là vấn đề thương hiệu, vấn đề tên nhăn thuốc.

Nói chung, mọi người từ trong Nam đến ngoài Bắc đều "có vẻ tin tưởng" vào những sản phẩm trong Nam hơn. Thuốc ngoài Bắc, người ta gọi là "thuốc rởm".  Đây là lúc người ta so sánh nhiều thứ lắm. Ngoài Bắc thế này, trong Nam thế kia. Mà bao giờ kẻ thắng trận cũng thành kẻ thua

Tôi là người gốc Bắc, nhưng do sự tiếp xúc thường xuyên với người cán bộ, tôi cảm thấy tôi có chất Nam nhiều hơn chất Bắc. Chất Nam Kỳ làm tôi có cảm tưởng không giống chút nào với những người mới vô nữa. Tôi khác họ. Trước đây, có thể có kỳ thị Nam Bắc. Nay có thể có kỳ thị Bắc-Bắc, Bắc 54 với Bắc 75.

Nếu cần tổng kết một tháng trôi qua th́ phải nói đă ló dạng nạn buôn bán, mánh mung, nạn chợ đen, tham nhũng, nạn chụp giựt lừa đảo bắt đầu. Một xă hội đen, một xă hội bên lề đă thành h́nh. Đó cũng là đặc trưng của Sàig̣n sau 30 tháng tư. Có những người trước đây tử tế như thế nay sinh gian tham, mánh mung, lừa đảo. Đă thấy xuất hiện những người tử tế không c̣n tử tế nữa. Người thật thà trở thành gian manh. Người ăn nói trung thực trở thành nói láo khoét. Con người sống trung thực bắt đầu biết đóng kịch. Chủ nghĩa bất đắc dĩ đă sản sinh ra những người vợ trung chinh nay bắt đầu thay ḷng đổi dạ. Học tṛ siêng năng trở thành lười biếng. Thanh niên ngưỡng vọng cao vời bắt đầu mất lư tưởng.

Đó là điều mà Dương Thu Hương cho là một nghịch lư: ’’Một dân tộc dũng cảm biết bao trong chiến tranh và hèn mọn biết bao trong cuộc sống thời b́nh’’.

Chiến tranh đă cướp đi tất cả những ǵ là cao quư, trong sáng chỉ c̣n để lại bọn khôn ngoan cơ hội, bọn trục lợi, bọn ăn may theo tŕnh tự : Trong chiến tranh, người trẻ chết trước người già, người nghèo cùng khổ bán máu chết thay cho bọn giầu có quyền, có chức. Người ít học chết thay cho bọn có học, chết thay cho bọn đầu cơ chính trị.

Người bắt đầu không ra người. Cái ǵ đă làm dổi thay cá tính con người như vậy. Những mánh khóe lừa đảo đủ loại ra đời mà không sách vở nào dạy hết được. Chính bản thân tôi cũng bị lừa vài lần đến đau điếng. Tại sao xă hội lại thay đổi như vậy? Trước đây,  cũng không thiếu tầng lớp người nghèo xác xơ, tại sao cảnh đó lại không xảy ra?

 

Ngày 1 tháng 6-1975: Trục xuất Khâm sứ Toà thánh và hủy bỏ việc bổ nhiệm GM Nguyễn Văn Thuận làm phó TGM.

Trong thời gian này, có xảy ra vụ trục xuất Khâm sứ Toà Thánh và phản đối việc bổ nhiệm GM Nguyễn Văn Thuận làm phó TGM có quyền thay thế. Việc trục xuất do sự phát động của một số 20 LM cấp tiến Triều và Ḍng, trong đó có LM Thanh Lăng, giáo sư đại học Văn Khoa.

Ngoài Thanh Lăng c̣n phải kể đến Nguyễn Quang Lăm, Vương Đ́nh Bích, Trương Bá Cần, Trần Viết Thọ, Nguyễn Văn Trinh, Phan Khắc Từ, Hoàng Kim, Nguyễn Thới Ḥa, Nguyễn Văn Huệ, Nguyễn Nghị, Nguyễn Ngọc Lan, Chân Tín, Huỳnh Công Minh, Nguyễn Thiện Toàn, Đinh B́nh Định. Nhiều tin đồn và dư luận xôn xao và đă có xáo trộn trong đám giáo dân.  Một nhóm sinh viên căng biểu ngữ trước ṭa TGM Sàig̣n vào ngày 13-5-1975 phản đối việc bổ nhiệm Đức cha Nguyễn Văn Thuận.

Theo như lời phỏng vấn ông Nguyễn Văn Hanh trên tờ Sàig̣n Giải Phóng th́:’’ Do đó đă  xảy ra xôn xao và xáo trộn, thậm chí có chết người trong cuộc xô xát đêm 3-6-1975, gần cầu Trương Minh Giảng’’.  Phần LM Thanh Lăng, người cổ xúy cho việc này th́ đă viết một bài:’’ Tạm tổng kết vụ Giám Mục Nguyễn Văn Thuận”. Nhân đó ông Nguyễn Văn Hanh đă không quên thừa dịp này đề cao LM Thanh Lăng:’’ là nhà văn và là nghiên cứu có tiếng là trí thức và ôn hoà..”” Trong khi đó th́ lại có một tiếng nói khác của LM Trần Du, đăng trên tờ Đứng Dậy, số 72, trang 46 như sau:’’ Quyết định bắt Đức Giám Mục Nguyễn Văn Thuận rời Sàig̣n không thể thi hành được. Hai triệu dân công giáo không chấp nhận. Đức Giám Mục Nguyễn Văn Thuận không có quyền từ chức. Vậy th́ chính quyền có thể giết Ngài, có thể giết cả tôi, có thể bỏ tù Ngài hay bỏ tù tôi.. Nhưng không thể tự ư trục xuất Đức Giám Mục Nguyễn Văn Thuận ra khỏi  Sàig̣n”.

Phần TGM Nguyễn Văn B́nh trong một lá thư gửi LM, tu sĩ, giáo dân ngày 7-6-1975 đă xác định:

- Việc bổ nhiệm là hợp với nhu cầu mục vụ

- Chính tôi đă đồng ư hoàn toàn việc bổ nhiệm này.

- Mấy tổ chức mệnh danh công giáo chỉ là thiểu số.

- Những tội danh gán buộc cho Đức khâm sứ Henri Lemaitre và Đức TGM Nguyễn Văn Thuận hoàn toàn thất thiệt.

- Chấm dứt các chiến dịch bôi nhọ, vu cáo.

- Chận đứng các chiến dịch vận động phi pháp trục xuất TGM Nguyễn Văn Thuận.

Bất chấp kháng thư của TGM Nguyễn Văn B́nh, hai tháng sau, ngày 15-8-1975, Ủy ban MTDTGPTPHCM và Ủy ban quân quản tŕnh bày vụ TGM Nguyễn Văn Thuận tại Nhà hát thành phố ( trụ sở Hạ Nghị Viện cũ), ông Phó chủ tịch Mai Chí Thọ tuyên bố:’’ đưa giám mục Nguyễn Văn Thuận về lại Nhatrang, v́ Giám Mục Thuận được chuyển đến Sàig̣n không phù hợp với t́nh h́nh mới.” Cũng trong ngày ấy, tức 15-8, Ủy Ban quân quản mời ĐC B́nh và Thuận đến  ”làm việc” tại dinh Thống Nhất ( dinh Độc lập), giữ cha Thuận lại, đưa xe bít bùng chở đi câu lưu tại Cây Vông, thuộc tỉnh Khánh Hoà, sau đó chuyển ra Bắc, bị tù 13 năm, trong đó có 9 năm biệt giam, cho tới ngày 23-11-1988.

Xin ghi lại đây mấy ḍng nhật kư của TGM Nguyễn Văn Thuận:’’ Ngày 1 tháng 12, năm 1976, lúc 9 giờ tối, bất th́nh ĺnh, tôi bị gọi đi cùng với vài tù nhân khác. Chúng tôi bị xích người này với người kia từng hai người một và được đẩy lên xe cam nhông..Chúng tôi bị đưa lên tàu, chở ra miền Bắc- một cuộc hải hành dài 1700 cây số. Dĩ nhiên trong điều kiện như một đàn súc vật người chen chúc, thiếu ánh sáng, thức ăn và không khí, nhưng đầy ắp những tiếng uất ức nói không nên lời. Trong 9 năm biệt giam cơ cực, có lúc tôi bị giam trong một xà lim không có cửa sổ. Có khi đèn điện bật sáng từ ngày này qua ngày khác. Trong thời gian,  tôi bị biệt giam, tôi được giao cho 5 người canh gác. Họ thay phiên nhau luôn luôn có hai người ở với tôi… Khi tôi bị quản thúc tại làng Giang Xá, cách Hànội khoảng 20 cây số, người canh giữ tôi là một tín hữu công giáo.”

Vụ việc này xảy ra chỉ không đầy hai tháng sau khi ‘’chỉ thị của Thủ Tướng Chính phủ về các hoạt động tôn giáo”

 

Thứ bảy, 7-6-1975, thân phận một nữ sinh viên tranh đấu trước 75.

Trong giới sv, nhiều người biết đến Cao thị Quế Hương như một người tranh đấu điển h́nh, nhất là trong giới Phật tử. Cuộc biểu t́nh, tuyệt thực nào mà không có cô. Ra tù, ra khám như chơi. Nổi tiếng tranh đấu như thế, chắc hẳn vào tù không khỏi bị các quản ngục làm nhục cách này, cách khác.  Báo chí nhắc đến cô với ngưỡng phục v́ ḷng can đảm, v́ nhiệt t́nh hăng say. Vào những giờ phút chót của VNCH th́ cô vẫn đang ngồi tù ở Biên Ḥa. Ở một nơi nào, trong một trại giam biệt lập, mà ít người biết.

Hôm nay, cô Cao Thị Quế Hương từ Đàlạt về mỗi năm để làm giỗ cho anh Nguyễn Ngọc Phương và để gặp lại bạn bè tranh đấu thời trước. Cao thị Quế Hương là  một khuôn mặt nổi bật trong giới SV tranh đấu trước 1975. Nhắc lại cái thời kỳ ấy, có một số các bà, đặc biệt có chị Yến và một bà người Tàu chuyên nấu bếp ở chùa Ấn Quang. Họ thường tổ chức nấu ăn, tiếp tế tương chao cho tù nhân ở nhà giam Tân Hiệp Biên Hoà. Đám giỗ Phương đă được tổ chức ở Tịnh Xá Ngọc Phương của cố ni sư trưởng Huỳnh Liên. Mỗi lần giỗ như thế th́ có đông các ni sư, ni cô và các bà Sàig̣n tụ tập lại. Lẽ dĩ nhiên là thường ăn đồ chay.

Trong thời kỳ đó, toà án mặt trận vùng 3 chiến thuật xử lần thứ nhất tạm phóng thích khoảng 10 sinh viên, trong đó có cô Cao Thị Quế Hương, Nguyễn Ngọc Phương, tự Ba Triết, Dương Văn Đầy và Huỳnh Tấn Mẫm. Mẫm nguyên là chủ tịch Sinh Viên 1970, lănh đạo thành đoàn Ṭa xử lần 2. Mẫm và Đầy và một sinh viên được thả, số c̣n lại bị giữ cho đến ngày được trao trả. Trừ Nguyễn Ngọc Phương.

Cuối năm 1972, Nguyễn Ngọc Phương và một số tù Chí Hoà nhịn ăn để chống lại đại tá Vệ, giám đốc nhà tù Chí Hoà. Phương đuối sức, được đưa vào bệnh viện Sàig̣n. Đến đầu 1973, Phương chết. Sau này Lê Văn Nuôi, chủ tịch thành đoàn, chủ bút báo Tuổi Trẻ thường nhắc lại kỷ niệm về Phương: Phương chưa kịp mừng Hiệp Định Hoà B́nh ra đi th́ đă mất.

Đám ma Phương được nhiều dân biểu, nghị sĩ đối lập như các dân biểu Kiều Mộng Thu, Phan Xuân Huy, Hồ Ngọc Nhuận v.v.. đến nhà ở đường Cao Bá Nhạ phúng điếu. Sau đám tang Nguyễn Ngọc Phương, Cao Thị Quế Hương bị bắt lại và bị giam ở trại Chiêu Hồi Đức Tu Biên Ḥa cho đến trước ngày giải phóng. Cao Thị Quế Hương trốn khỏi trại trước ngày giải phóng và ra ở nhà chị Dậu, một phụ nữ đấu tranh nổi tiếng ở Vũng Tàu, đến tháng 5-75 mới về lại Sàig̣n.

Cuộc đời của Cao Thị Quế Hương sau đó cũng ch́m lỉm vô danh như nhiều người khác. Cô về sống với mẹ ở Đàlạt như một người quy ẩn. Nói quy ẩn cũng không đúng hẳn. Cô giữ chức chủ tịch Hội Liên Hiệp phụ nữ tỉnh  Lâm Đồng, Đàlạt.

Đó là những bóng người như những bóng đêm câm lặng nhường chỗ cho những bọn múa rối ra đời và sắp ra đời, tuỳ theo mỗi thời kỳ.. Thoạt đầu là những Trí thức yêu nước, sau này là trí thức hải ngoại t́m về vv..

Đến có thể nói một điều chua chát như thế này. Rất nhiều người đă ‘’nổi’’ nhờ chế dộ độc tài Nguyễn Văn Thiệu miền Nam như: Cao thị Quế Hương, Huỳnh Tấn Mẫm, Lư Quư Chung, Ngô Công Đức, Hồ Ngọc Nhuận, các quư vị đi theo MTGPMN. Sau giải phóng. Thay v́ nổi th́ họ ch́m.

 

Sàig̣n của tin đồn thất thiệt.

Nay thành phố giới nghiêm từ 10 giờ tối. Dù không có giới nghiêm th́ cũng không ai muốn ra khỏi nhà vào cái giờ ấy. Có nhiều tiếng nổ lớn ở phía Bắc thành phố vào lúc 3 giờ.. Có tiếng c̣i hụ của xe cứu hỏa, người ta đồn với nhau là tiếng nổ do Plastic gài vào xe của của bộ đội. Cũng có hai bộ đội bị đâm chết ngay cạnh rạp ciné Mini-Rex, đường Lê Lợi. Nhiều người c̣n kháo với nhau có mảnh giấy ghim trên ngực người chết ghi "chúng tôi không muốn cuộc cách Mạng của các ông ". Thật sự th́ đă có ai nh́n thấy mảnh giầy ghim trên ngực đó không? Chắc là không. Chỉ đồn, chỉ bịa, chỉ tưởng tượng đủ thứ. Tôi không tin có mảnh giấy đó.

Mảnh giấy đó chỉ nằm trong đầu người ta mà thôi.

Thay v́ nghe đài phát thanh th́ nay dân chúng đă có « Radio Catinat », mỗi ngày phát thanh tin đồn thất thiệt hai mươi bốn trên hai mươi bốn.

Sàig̣n không có thông tin, nên nẩy ra rất nhiều tin đồn để lấp chỗ trống đó. Càng cấm, tin đồn càng nhiều. Có những tin đồn đến hoang đường, đến không tưởng mà người ta vẫn kháo nhau cho là thật. Tin đồn được tung ra từ các đám người đấm bóp thời cuộc, ngồi ở cà phê đầu đường tán dóc cho qua th́ giờ.

Bà Ngô bá Thành trong một cuộc phỏng vấn đă nhận xét :"Radio-Catinat là một lực lượng đáng kể ở thành phố Hồ Chí Minh.. Nó vượt qua dễ dàng những phương tiện truyền thông chính thức của chúng tôi ".

Hôm nay
. Hôm nay là hôm nào? Hôm nào cũng được, miễn là ngày của chúng tôi. Một số đồng nghiệp trẻ tổ chức ăn với nhau tại nhà một cô giáo bên Khánh Hội.

Không khí đầm ấm, nhớ đời. Cuộc sống của chúng tôi chỉ có ư nghĩa thực sự ở những lúc này.

Chúng tôi gần nhau hơn, chia sẻ nhiều hơn, mặc dầu bữa nhậu dù cố gắng lắm cũng rất đạm bạc. Ăn xong, một số các em nữ giáo viên trẻ đàn hát nhạc cũ. Hát nhỏ thôi. Hát lén thôi. Nhưng chính ở chỗ hát lén mà nó đậm đà, mà nó cảm động. Ăn trộm, ăn vụng đă ngon, lần đầu tiên hát lén cũng thấy hay không thể chê được. Nhiều em gái, dơm dớm nước mắt. Chúng tôi chia tay, trong ḷng ai cũng muốn có những bữa ăn như thế nữa.

 

Thứ ba, 10-6-1975, đại sứ Pháp Merillon ra đi.

Chuyến máy bay thứ ba ra nước ngài chở theo tất cả những nhà ngoại giao c̣n sót lại. Trong số này, có ông đại sứ Pháp Mérillon, nổi tiếng vào những câu chuyện giờ thứ 25 của Sàig̣n. Ông ôm gói ra đi trong một t́nh trạng bị đối xử thật tồi tệ đối với đại diện một cường quốc như nước Pháp. Hà Nội h́nh như muốn khép tất cả các cánh cửa ra ngoài. Với sự ra đi của ông đại sứ Pháp.. hầu như mọi liên lạc với thế giới tư bản bị cắt đứt. Hà nội h́nh như muốn đóng cửa để dễ làm việc, giải quyết những chuyện nội bộ cho xong. Sau này, tại hải ngoại đă có cuốn sách dựng đứng việc đại sứ Mérillon thương lượng với chính quyền giải phóng về một giải pháp bị thất bại. Lại một chuyện hoang tưởng nữa, mất công ông đại sứ viết bài báo cải chính cũng không xong.


Thứ năm,  12-6-1975, tŕnh diện học tập cải tạo

Ngày đánh dấu một thay đổi lớn với tất cả những nhân viên, sĩ quan trong chế độ cũ. Guồng máy chính trị chế độ bắt đầu chạy, bắt đầu xiết. Thông cáo cho hay, các sĩ quan và viên chức chính phủ cũ sẽ phải đi học tập cải tạo tối thiểu một tháng đối với Sĩ quan quân đội và cảnh sát ngụy, những người làm chính trị, dân biểu, bộ trưởng, nghị sĩ. Họ phải tŕnh diện trong ngày mai và chỉ được mang theo quần áo mặc thay đổi và c̣n nói rơ mang theo 13610 đồng để trả tiền ăn trong một tháng.

Đối với các Hạ sĩ quan trở xuống, chỉ phải tŕnh diện học tập ba ngày. Tờ Sàig̣n Giải Phóng giải thích: "Họ có phần trách nhiệm của họ v́ đă cầm súng đánh giặc cho kẻ thù, hoặc đă làm việc cho kẻ thù".

Chắc nhiều người nay ở Hải ngoại đă hẳn không quên được cái ngày lịch sử này đối với đời sống c̣n lại của họ.

Tôi gọi đó là ngày mà chính quyền dựng lên một bức tường ô nhục phân biệt giữa kẻ thắng, người thua. Sau 30 tháng tư, nhiều bức tường ô nhục đă được dựng lên như thế.

Tiện nơi đây, xin trích dẫn những con số khác nhau về số những người đă phải đi học tập cải tạo. Dư luận dân chúng th́ đưa ra con số là 80 vạn người tù học tập cải tạo.  Năm 1976, P. de Beer đưa ra con số 200.000. J.Lacouture, vào tháng 5, 1976 đưa ra con số 300.000. Những người có khuynh hướng thân CS th́ đưa ra những con số như sau: Tháng tư, 1978, Chanda cho có 50.000, tháng tư 1978. RP. Paringaux cũng 50.000. tháng 6, 1979, F. Nivolon, trên tờ Le Figaro, thiên tả, đưa ra con số 50.000.

Trong truyện đi học tập, có một số cựu viên chức miền Nam đă được miễn như các trường hợp kể sau đây: Trong Hồi kư không tên, Lư Quư Chung có ghi lại như sau, khi ông nhận được một phong b́ giao tận tay:* giao cho nguyên Tổng Trưởng Thông Tin, nguyên dân biểu đối lập ngụy quyền, Lư Quư Chung, thông báo được miễn học tập tập trung.* Kư tên: Cao Đăng Chiếm. Phó chủ tịch Ủy Ban Quân Quản.

Khi nói rằng Lư Quư Chung được miễn học tập cải tạo tập trung th́ có nghĩa là ông được miễn khỏi phải vào các trại tập trung như cô nhi viện Long Thành. Nhưng ông vẫn phải tham dự các khóa học tập tại chỗ, tổ chức nhiều nơi và nhiều ngày trong thành phố Sàig̣n lúc bấy giờ.

Chẳng hạn, hơn một ngàn giáo sư trung học cả công cả tư trong thành phố cũng được miễn đi học tập tập trung. Nhưng họ vẫn phải tham dự các khóa học tập ngắn ngày trong thời gian liên tiếp ba tuần lễ.

Một trường hợp điển h́nh klhác là ông Lư Chánh Trung, đă từng được đưa vào bưng để tiếp xúc với  những lănh đạo MTGPMN.  Khi giải phóng xong, dù sau nay dược là dân biểu, được tiếp tục giảng dạy ở Đại Học Văn Khoa.. Ông vẫn phải tham dự các khóa học tập về chủ nghĩa Mác Lênin, không phải một vài tháng, mà kéo dài cả năm, có trao dổi, có làm bài, có chấm điểm.

Vậy th́ bất cứ ai ở miền Nam, nếu không trực tiếp là đảng viên Cộng Sản, hay đă tham gia trực tiếp vào MTGPMN th́ dù được miễn học tập cải tạo tập trung vẫn phải dự các lớp học tập tại chỗ. Đó có thể cũng là trường hợp của tướng Lê Văn Nghiêm và một số trí thức miền Nam khác.

V́ thế, việc miễn học tập tập trung cũng c̣n dành cho một số người khác như Dương Văn Ba, Đinh Văn Đệ, Phan Xuân Huy,  Hồ Ngọc Nhuận,  Ngô Công Đức, Đinh  Xuân Dũng, Nguyễn Phúc Liên Bảo,  Nguyễn Hữu Hiệp, Trần Bá Thành ( cựu TGĐ Cảnh sát Sàig̣n, thời ông NĐD) v.v..

Nhưng sau đó những người trên vẫn tham dự những buổi học tập diễn ra từ ngày 15-8 đến 22-8, do Tạ Bá Ṭng hướng dẫn.

Bên cạnh đó, các ông Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Huyền, Vũ Văn Mẫu, Trần Văn Hương là những trường hợp đặc biệt của đặc biệt. Bốn vị này thay v́ đi học tập tại chỗ th́ người ta gọi là những buổi trao đổi. Thật ra th́ cũng là một thứ học tập, ở mức độ nhẹ nhàng và thoải mái thôi.  Chỉ có khác là học ở Sàig̣n. Trong những buổi học tập này, cụ Hương là người hăng hái nhất,  phát biểu cũng nhiều nhất.

Cuối cùng th́ có thể nói là cả miền Nam phải học tập. Trẻ, già, lớn, bé, từ phường khóm đến trường học. Không miễn trừ cho bất cứ người nào.

Nhà nào cũng có người là si quan phải đi học tập. Không sĩ quan th́ ngụy quyền. Đâm ra nhà nào cũng có chuyện buồn, cũng có chuyện phải lo. Anh rể tôi, anh cột chèo đều phải đi cả. Các chị tôi đă hẳn buồn và lo lắm. Tôi làm sao không buồn theo.

 

Cuối cùng cả miền Nam đều buồn.

Mẹ tôi không nói ra, nhưng có vẻ héo hắt đi. Đôi mắt hơm sâu thêm v́ những đêm không ngủ. Nụ cười úa tàn không c̣n oan oang như trước nữa. Bố tôi th́ bề ngoài thấy như vẫn vậy. Thói quen của mẹ dấu diếm những điều cho riêng ḿnh đă thành tật. Do đó, nó khoét sâu vào tâm khảm, đục khoét cơ thể lúc nào không hay. Người cứ nhẹ đi như bấc. Có những buổi trưa bất ngờ sang thăm mẹ. Mẹ ngồi ngủ gục, ẻo lả một bên. Tôi ngỡ ngàng kinh ngạc, xót xa. Con rể đi học tập, con trai lang thang, lếch thếch ngoài Vũng Tàu t́m đường đi.  Con cả ở ngoài bắc vẫn biệt tăm, vẫn mù mịt, không biết sống hay chết. Đă mấy chục năm rồi sao chưa về. Nỗi đau quá khứ trộn thêm nỗi lo hiện tại. Các con tứ tán.  Mẹ vẫn không một lời ca thán. Mà mẹ biết trách ai bây giờ.

Chẳng bao lâu sau, mẹ từ giă cơi đời v́ gánh nặng cuộc đời không gánh nổi.

Mẹ tôi chết. Không c̣n cách ǵ cản quyết tâm phải ra đi của tôi nữa. Đúng là mẹ tôi ép tôi phải ra đi.

Từ ngày Cách mạng vào đến giờ, tôi tự hỏi: đă có một ngày, đă có việc ǵ làm cho chúng tôi vui ? Chưa. Chỉ có những chuyện buồn, hết chuyện nọ đến chuyện kia. Thế giới chia cách từ chỗ đó.

Trong vấn đề đi học tập này, chắc cần phải nói thêm cho rơ. Có vài người trong chính quyền mới là các ông Năm Xuân, Mai Chí Thọ và ông Tạ Bá Ṭng, Nguyễn Hộ, Vơ Văn Kiệt, ông Sáu Ngọc, giám đốc công an thành phố rồi Sáu Đức, tỏ ra* nới tay* đối với một số trí thức miền Nam. Không có mấy ông này th́ nhiều người cũng khốn khổ lắm. Theo ông Hồ Ngọc Nhuận, sau 30-4-75, lănh đạo đă cho ông một đặc ân là lên danh sách những người được đi học tập cải tạo riêng. Ông Nhuận có kể trường hợp Dương Văn Ba bị lọt sổ. Can thiệp mấy cũng không được. Ông Tạ Bá Ṭng th́ cứ nhất định phải đưa DVB đi học tập. Đến phút chót, ông Ṭng mới xét lại và miễn cho DVB khỏi đi học tập cải tạo tập trung. Có những anh đă được can thiệp như dân biểu Thạch Phen, đại uư quận trưởng, gốc Khmer hay Trần Ngọc Giao đă được miễn học tập tập trung.. Nhưng về địa phương th́ lại khác, bị bắt, rồi được thả, rồi cả hai ông đều chết. Không có ông Mai Chí Thọ th́ ông Nguyễn Chức Sắc, chồng bà dân biểu Kiều Mộng Thu hay dân biểu Lê Tấn Trạng làm sao thoát cảnh tù đầy.

Cũng cần nhắc lại ở đây là thành ủy TPHCM đă đánh giá khá tích cực ba thành phần sau đây sẽ là những yếu tố thuận lợi sau này trong việc xây dựng, tái thiết và phát triển miền Nam. Bỏ qua ba yếu tố này sẽ là những bất lợi bất cập gây trở ngại cho việc tái thiết và phát triển miền Nam.

Đó là 3 thành phần cơ hữu của chế độ cũ cần được đánh giá đúng mức: Người Việt gốc Hoa, viên chức và sĩ quan chế độ cũ và khối người Thiên Chúa giáo.

Rất tiếc, sự đối xử phân biệt với người Hoa cũng như việc trục xuất người Hoa ra khỏi VN, việc đánh tư sản mà phần lớn là người gốc Hoa, việc bắt viên chức cũng như sĩ quan đi học cải tạo lâu ngày đă đưa đến thảm cảnh ‘boat people’ như mọi người đă thấy. Việc trục xuất khâm sứ toà thánh và các thừa sai ngoại quốc mà theo đề nghị của ông Nguyễn Cơ Thạch là nên duy tŕ ṭa Đại sứ Hoa Kỳ để cho việc bang giao quốc tế không bị gián đoạn.

Nếu đề nghị của ông Nguyễn Cơ Thạch, một người có kinh nghiệm về những bang giao chính trị trên thế giới, được chấp nhận, th́ đă hẳn có thể tránh được nhiều thảm họa cho đất nước.

Cơ hội xây dựng đất nước đă một lần để hụt tay.

Một truyện vui kể lại:

Gia đ́nh tôi có dịp đón tiếp anh chị Kim, con nhà bác từ Hà nội vào. Anh chị cũng hiền lắm. H́nh như cũng không được khá giả ǵ.  Anh có cô con gái là nữ ca sĩ nổi tiếng miền Bắc lúc bấy giờ. Giọng cháu lanh lảnh, thánh thót, sắc cạnh, cao vút, nhưng không truyền cảm lắm. Nghe vẫn chưa quen, thấy thế nào ấy. Thấy hay, nhưng vẫn không cảm được. Cho cái ǵ, anh chị cũng nhận mang về, tất cả chỉ là đồ cũ. Tôi có chai rượu Black and White để dành, nhân dịp đó mang ra đăi anh. H́nh như chỉ qua chầu rượu thứ hai, anh đă say mèm. Say rồi, anh chả giữ ư tứ, chả rào trước đón sau, chả nói theo bài bản nữa như lúc mới đến. Anh lộ nguyên h́nh hài là anh, con người thật. Anh chửi hăng quá, chửi cho đă như thể chưa bao giờ có dịp để chửi như thế, như thể đă nhịn nhiều năm.  Anh chửi những nhân vật đời thường anh chỉ biết tụng niệm.

Xin đổi câu thơ này ra để tặng anh:

Sống ḿnh không  được nói

Chết mới được ra lời.

 

Anh không chết, nhưng rượu vào làm anh chết giả và lúc đó anh mới sống thật với ḷng ḿnh. Tôi chỉ buồn cười. Cũng thương anh rồi d́u anh đi ngủ. Chị ấy th́ sáng hôm sau có vẻ rất băn khoăn khổ sở về bữa rượu hôm trước. Tôi th́ thấy thường quá, say nói lăng nhăng ai chấp làm ǵ. Từ đó, anh chị không bao giờ vào chơi nữa. Thật đáng tiếc.

 

12 tháng 6, 1975. Mỹ gửi đến ṭa Đại sứ Việt Nam một thông điệp

Thông điệp này do sứ quán Mỹ ở Paris gửi đến sứ quan của VN ở Paris:’’ Về nguyên tắc, Mỹ không thù hận ǵ VNDCCH. Đề nghị trên cơ sở đó tiến hành bất cứ quan hệ nào giữa hai bên. Mỹ sẵn sàng nghe bất cứ gợi ư nào mà phía VNDCCH có thể muốn đưa ra’’.

Sau đó có buổi họp giữa ta và Mỹ, cấp bí thư thứ nhất ngày 10-07, giữa ông Đỗ Thanh và Pratt chủ yếu bàn về vấn đề MIA. Mỹ chấp nhận Việt Nam vào LHQ, Mỹ có thể đóng góp khôi phục lại Việt Nam bằng cách phát triển buôn bán, hợp tác kinh tế.

Và theo ông Trần Quang Cơ, nguyên thứ trưởng ngoại giao CHXHCNVN, Năm 1977 ta đă có đủ khả năng để ta b́nh thường hóa quan hệ với Mỹ, nhưng ta đă bỏ qua. Thật là đáng tiếc.

 

Thứ bảy 14 tháng 6-1975,  thay đổi giờ thay đổi đời.

Kể từ sáng nay, giờ Hà nội ( GMT-7 ) thay thế chính thức cho giờ ở Sàig̣n ( GMT- 8). Đây là một thay đổi duy nhất mà người Sài g̣n không ai để ư tới. Chuyện thay đổi cả đời người c̣n chưa lư tới, một giờ th́ nhằm nḥ ǵ. Bây giờ là giờ của cách mạng hiểu theo nghĩa nào cũng đúng cả: Giờ của lịch sử, giờ của người chiến thắng.

Chỉ có kẻ thua trận là không có giờ và dĩ nhiên không có cả tương lai nữa.

Gia đ́nh tôi lại có dịp tiếp đón một ông chú bên nhà vợ.  Mọi người gọi là chú Tiến.  Nghe nói, h́nh như chú là thứ trưởng bộ kinh tế th́ phải. Tội nghiệp chú, các bà cô vợ tôi được dịp chửi rủa xả láng, nói bóng nói gió, chê bai đủ thứ. Chú chỉ cười. Chú chả thèm xin bất cứ thứ ǵ, có cho chắc cũng không lấy. Chú giầu chăng ? Phần tôi, phải nhận tôi quư mến chú, dù ông chỉ hỏi thăm tôi một hai câu..

Giống anh chị Kim, ông chỉ tới thăm một lần và không bao giờ trở lại.

Dù sao, có bà con ở phía cách mạng cũng lợi, v́ có thể chửi mà không sợ đi tù.

 

Thứ ba, 17 tháng 6-1975, tất cả các ngân hàng tư nhân đều bị đóng cửa.

Tất cả tài sản và tiền của các ngân hàng đều phải chuyển giao về ngân hàng quốc gia VN. Tất cả các hăng xưởng, nhất là của người Pháp đều rơi vào t́nh trạng tê liệt không hoạt động được. Đó là các hăng Citroen, các đồn điền cao su, các hăng nước ngọt vv.  Họ phải chuyển giao hăng xưởng, tài sản tư nhân phải bán, ra đi với hai tay trắng. Lời hứa của tướng Trần Văn Trà, ủy ban quân quản thành phố vào ngày 8 tháng năm trước đại diện 120 đại diện báo chí ngoại quốc không c̣n ai nhắc tới nữa : " tất cả các tài sản của người ngoại quốc sẻ được bảo đảm tôn trọng ". Theo ông Duchemin đă được Mai văn Bộ trấn an : Người Pháp cứ việc yên tâm ở lại làm ăn.

Cái mà chính phủ nhắm tới là Người Tầu đang nắm giữ việc thương mại, buôn bán ở Chợ lớn.  Nhưng chính phủ c̣n chưa ra tay. Mặc dầu vậy, những người Tầu có tiền của cũng đă chuẩn bị trong tay một giấy thông hành Đài Loan rồi.

Đừng quên rằng, sau những người Tàu Chợ Lớn, c̣n có cả một nước Tầu đứng sau họ.

 

Thứ bảy 21 tháng 6-1975, giáo dục dưới mái trường XHCN.

Ngoài các trường công đă được hoạt động ngay những ngày đầu giải phóng, nay một số trường tư và trường chuyên môn dạy nghề được phép mở cửa, hoạt động trở lại. Đây là cái cửa mở đầu tiên được mở ra.  Nhưng coi chừng, cửa chỉ mở hờ. Trường Regina Pacis nay không c̣n dạy giáo lư hay đọc kinh mà thay vào đó là những bài hát ca tụng Bác Hồ..

Các trường đại học cũng mở cửa lại, nhưng chưa có chính thức giảng dạy. Các chức Viện trưởng, khoa trưởng đều từ ngoài Bắc vào nắm giữ. Chuyên với hồng bắt đầu từ đây. Đây là keo thử thách nữa về sự phân biệt thế nào là chuyên, là hồng.

Đất nước tiến lên hay thụt lùi cũng từ cái khâu này.

Lại có vụ ám sát giết hai bộ đội sáng nay ở đường Trần Hưng Đạo.  Họ bị cứa đứt cổ. Chẳng biết là thật hay giả. Dù sao, những tin tức kiểu đó cũng là món ăn giải trí và bổ đưỡng cho những kẻ thua trận.

Các giáo sư tuần tự đến trường đều đặn. Không bảo nhau mà trong trường chia ra phe phái rơ ràng không có quy ước và không có giới tuyến. Anh Hiệu trưởng cu ky một ḿnh. Anh kín đáo quá. Hiệu phó lăng xăng vẫn không che đậy hết cái gốc tư sản của anh. Mọi việc giao tiếp, xử lư, h́nh như anh đại diện H.T lo liệu. Một anh trẻ tên Hùng, đang là đoàn viên, rất gương mẫu, rất kỷ luật, rất khe khắt với chính ḿnh và đồng nghiệp. Con mắt có vẻ soi mói mọi người, mọi chỗ. Anh cũng cu ky một ḿnh theo cách của anh. Sau này, anh t́nh nguyện đi lính sang Campuchia. Anh đă không có cơ hội trở về. Cùng lắm anh có Hương, một đoàn viên khác là bạn đồng hành. Nhưng tuy không nói ra người ta vẫn đọc được tâm sự ẩn kín của Hương.
Ánh mắt lúc nào cũng gợi buồn, sự cố gắng đến mệt mỏi, nụ cười gượng gạo. Hoá ra, số phận Hương có thể c̣n khổ gấp đôi lần những người bạn đồng nghiệp. Một số nữ giáo viên lớn tuổi mà có thể chồng con đi học tập, họ làm việc, tuân thủ như cái máy không hồn.  Một cuộc sống bất đắc dĩ. Một cuộc sống mơ về một cuộc sống ở một nơi nào khác.

Đa số giáo viên trẻ c̣n vui đùa hồn nhiên họp thành một đám. Hố thẳm rơi của những người cùng thân phận. Nhiều t́nh cảm nẩy nở giữa họ do cùng tâm trạng, cùng hoàn cảnh, cùng suy nghĩ. Ít lắm, có vài đồng nghiệp trẻ mà nhen nhúm quư mến nhau hết mực, trân trọng hết mực, bảo vệ nhau hết mực..cho măi đến về sau này. Điều mà người ta không hề có, điều mà người ta không có dịp để sống trong những thời gian trước 75..

 

Thứ sáu 27 tháng 6-1975, các tin đồn mỗi ngày mỗi nhiều.

Có bốn bộ đội canh gác ở ngay trong thư viện quốc gia bị giết. Hai bị đâm chết, hai bị cắt cổ. Trong ngày, nhiều tiếng nổ lớn được nghe thấy từ phía Tân Sơn Nhứt. Hai thường dân cưỡi Honda bị bắn hạ trước cửa toà lănh sự Pháp vào lúc 4 giờ. Đến 20 giờ tối, ba bộ đội bị bắn chết bởi hai người đi trên xe Honda ở góc Phan Thanh Giản, Phan đ́nh Phùng.

Tin đồn như thức ăn hằng ngày của dân Sàig̣n.

 

Mùng 10, tháng 7-1975, tờ báo Công giáo và dân tộc: tiếng nói của chính quyền.

Sau đúng 10 tuần lễ, một tờ báo công giáo được xuất bản :

Tờ Công giáo và Dân tộc do nhóm Trương Bá Cần, hay nói ngược lại là Trần Bá Cường, Vương Đ́nh Bích, Phan KhắcTừ, Huỳnh Công Minh điều hành. Họ là người của Cộng sản. Xin ghi lại đây lời của Vương Đ́nh Bích:’’ Đảng Cộng Sản đă gây dựng 4 người chúng tôi làm đầu năo mọi hoạt động của đảng trong giới Công giáo’’ . Phần Huỳnh Công Minh, khi được chọn làm đại biểu Quốc Hội đă phát thệ:’’ Phần tôi, tôi nguyện suốt đời phục vụ’’. Trong một bài viết trên Tin nhà, số 43, 2000.
Nguyễn Hữu tấn Đức gọi bọn bốn ông này là Prêtres et commissaires. Linh mục và cán bộ. Thật ra tiền thân của nó là từ một tờ báo CGDT ở giáo xứ Paris,  từ 69-75 do ông Nguyễn Đ́nh Thi đứng đầu. Nó có mặt từ đây cũng là do tiền của Nguyễn Đ́nh Thi tài trợ lúc ban đầu. Tất cả 4 người trên đều có dính dáng, liên lạc hay hoạt động với chế độ cộng sản từ trước. Tờ báo chỉ là nối kết những tổ chức tôn giáo nhà nước như trước đây ở Hànội. Chẳng hạn, ngoài Bắc có tổ chức với cái tên rất dài là : Ũy Ban liên lạc toàn quốc những người VN yêu tổ quốc, yêu hoà b́nh ( UBLLCGTQ) Tờ báo CGDT ở Sàig̣n tọa lạc trên một toà nhà ba tầng gồm 50 nhân viên, trong đó có một vài tu sĩ.. Vốn liếng tài trợ tờ báo là những hợp tác xă, cơ sở kinh doanh được nhà nước tài trợ như xí nghiệp làm bút bi, quạt trần, khách sạn Đại Kết, công ty Tinh Hoa, trường ngoại ngữ Nguyễn Trường Tộ, trường dạy nghề và máy vi tính Bạch Đằng..

Cho đến nay, tờ báo vẫn c̣n họat động đều đặn. Có lẽ đây là tờ báo duy nhất được sinh ra từ sau giải phóng và tồn tại lâu dài như vậy. Nó không thể chết, v́ nếu nó chết th́ cái đă làm nên nó chắc hẳn cũng không c̣n nữa. V́ có tính cách chính thức như tiếng nói của chính quyền nên nhiều người nghi kỵ và dè dặt. Người dân có cái nhạy cảm và dị ứng với cái ǵ chính thức, cái công quyền. Trước đây, các tờ Chỉ Đạo, Cách Mạng Quốc Gia cũng nhận được sự rẻ rúng của dư luận quần chúng. Đây là cái b́nh phong che chắn cho chế độ. Sau này, chính nội bộ của họ cũng tố cáo nhau như trường hợp giữa ông Nguyễn Đ́nh Đầu và ông Trần bá Cường tức Trương Bá Cần viết lộn ngược. Ông Vương Đ́nh Bích th́ đă viết thư hạch hỏi ông Phan KhắcTừ về tội lem nhem tiền bạc, về tổ chức, về chuyện một vợ hai con của ông. Tiền bạc vốn tài trợ ngoại quốc khoảng 150 ngàn Mỹ kim. Vốn vay để thêm thu nhập cho tờ CGDT như ở trên đă nhắc tới. Ông Bích hỏi ông Từ tiền lời lăi do xí nghiệp làm bút bi, quạt trần, đỡ đầu cho công Ty Tinh Hoa, vay vốn hai tỉ để lập nhà máy may và trồng 33 mẫu cao su, rồi đầu tư với công ty Singapore, đầu tư khách sạn Đại Kết, trường ngoại ngữ Nguyễn Trường Tộ, trường dạy nghề may và trường dạy vi tính Bạch Đằng là bao nhiêu, tiền đó bây giờ ở đâu. Tất cả đều do ông Từ đừng tên. Làm sao người dân biết được những chuyện làm ăn đó. Th́ cũng do chính họ tố giác nhau mà dân mới biết được.

Nhưng chuyện lem nhem của các ông th́ có liên quan ǵ đến chính quyền, miễn là tiếng nói của các ông vẫn theo một điệu nhạc đă sọan sẵn, bài bản được dàn dựng.

Sau này, Đức cha Nguyễn Minh Nhật, chủ tịch HĐGM Việt Nam đă trả lời phỏng vấn trên tờ Églises d!Asie là:’’ người Thiên Chúa giáo hết tin tưởng vào UBĐKCG và tờ báo Công giáo và Dân tộc. Câu trả lời như thế có thể bị hiểu lầm là trước đây người ta vẫn tin,  bây giờ mới hết tin.

 

Thứ tư mồng 9 tháng 7-1975, vẫn lại những phụ nữ có chồng đi học tập.

Có một nhóm phụ nữ có chồng đi tŕnh diện học tập cải tạo đă tụ tập trước dinh Độc Lập cũ.  Họ đ̣i hỏi cho biết tin tức về chồng con của họ. Bộ đội đă đến giải tán. Có những tin đồn cho biết, có 4 xe nhà binh chở bọn họ bị giết trên đường đi. Chế độ càng bưng bít, tin đồn càng nhiều. Sự lo sợ càng lúc càng gia tăng. Người ta bắt đầu đặt ra nhiều dấu hỏi về số phận những người đi học tập này.

Sau này, vào năm 1979, Việt Trần đă nhắc lại điều ấy trong cuốn sách của ông: J'ai choisi l'exil. nxb Seuil, 1979.

Hai chị tôi cũng nằm trong số những người đàn bà bất hạnh trên. Anh rể tôi, một sĩ quan đại uư an ninh quân đội. Một thứ sĩ quan bàn giấy mà suốt đời chỉ là đại uư. Chưa hề bao giờ biết bắn súng. Vậy mà anh đi biền biệt ra Bắc hơn mười năm sau mới trở về. Chị  lớn tôi, một nách 7 đứa con, hai đứa lớn nhất c̣n ngồi ghế đại học, đứa út chập chững vào trung học. Chị nhỏ cũng không thua, 6 đứa. Gia đ́nh chị lớn trước đây sống bương chải nhờ có thêm hiệu hớt tóc ở đường Nguyễn Thiện Thuật. Cuộc sống đạm bạc qua ngày, chắt chiu và hà tiện để nuôi các con ra người. Chị tôi cùng lắm là loại đàn bà đảm đang, khéo thu vén như nhiều người khác. Nhưng nay chồng đi học tập. Gánh nặng đè trên hai vai các chị. Bỗng chốc hai chị tôi trở thành những người đàn bà phi thường. Một chị buôn bán kem. Một chị xông xáo, hàng ǵ cũng buôn, buôn đủ thứ. Đă hai lần, hễ cứ buôn bán có tiền là ‘xuất cảng’ quẳng mấy đứa nhỏ ra biển. Hết lớp này đến lớp kia như lên cơn đồng. Hai lớp đă quẳng chúng ra biển đều thoát và không bị hăm hiếp. Nỗi lo, nỗi mừng cứ như sóng dồi. Các chị tôi như mê, như say điên cuồng không c̣n biết sợ là ǵ. Tôi sang trước, năn nỉ, lạy van các chị đừng cho các cháu đi nữa. Vẫn đi. Đi là đi. Đi xong tất cả chừng nấy đứa th́ chị nào chị nấy như cái khăn ướt vắt khô nước, cạn kiệt. Chị nhỏ tuổi gục xuống như cây chuối bị phạng ngang lưng như mẹ tôi trước đây, chưa kịp đi đoàn tụ. Bên này, tôi tức tưởi khóc lén một ḿnh. Chị lớn vừa sang ít lâu, gục theo không kèn, không trống. Gục xuống v́ công việc đă hoàn tất.  Mission accomplie.

In memoriam những ḍng này cho hai chị tôi. Những người đàn bà bất hạnh trong một đất nước mà trời đất nổi cơn gió bụi, mà nước mắt như mưa sa, mà ḷng người độc ác vô tận, mà hận oán như trời đất bao la.

Dù sao th́ các anh rể tôi cũng may mắn hơn nhiều người đi học tập khác. Tôi có người bạn, anh Nguyễn Thanh Ty, anh nguyên là giáo sư biệt phái nên phải đi học tập. Mới đây anh có viết một cuốn sách và gửi tặng cho tôi đọc: Trong lao tù, CS, Trại Đá Bàn và A.30.  Mấy tháng sau ngày đi học tập, anh đă nhận được thư vợ viết như sau:’’ Nếu những ngày tới, em không c̣n cách nào kiếm được gạo nuôi con nữa th́ mẹ con em sẽ cùng uống thuốc chuột chết cho xong. Em và các con đă khổ quá rồi’’‘.  Nỗi bất hạnh của anh không dừng ở đó, sau này anh biết vợ anh đă bỏ lại các con cho bà nội để t́m một bến đậu khác. Nào có thể trách ai bây giờ.

Một trích dẫn cuối cùng. ’Hai mươi năm làm vợ lính thời chiến, 13 năm vợ tù cải tạo thời b́nh, là người con gái ở miền quê Bầu Trai. Tôi có làm ǵ đâu mà suốt đời chỉ sống với nước mắt’’  (Trích Người Bàu Trai. Tháng tư 2004.)

Qua những câu truyện kể trên, hễ mà một chính quyền hành dân, làm dân khổ th́ ta sẽ xếp hàng về phía những người cùng thân phận hay đứng về phía kẻ có quyền lực. Sự chọn lựa hẳn đă là rơ.

 

Một cảnh đời khác đang vẽ ra

Trong khi đó th́ theo tin hăng France-presse cho biết, ở Hà nội nay có nhiều xe Honda từ Sàig̣n chạy trên đường phố. Xe gắn máy dần thế chỗ cho xe đạp. Một nếp sống mới đang thành h́nh. Người ta c̣n thấy nhiều loại nước uống sản xuất bởi hăng B.G.I cũng được bầy bán ở đây. Bát nước chè xanh nay thay thế bằng ly nước xă xị hiệu Con Cọp.

Sàig̣n th́ như một thành phố bị chiếm đóng và có nạn hôi của những người thua cuộc để khuân về Hà nội. Nhiều nhất là salon, tủ lạnh, quạt máy, máy hát, vải vóc, thuốc tây và ngay cả bột giặt. Nghĩa là tất cả những ǵ ở Hà nội không có. Những chiếc xe nhà binh chở lính vào th́ nay đầy nhóc những món hàng của kẻ thua cuộc để lại. Một cuộc vơ vét  thẳng tay và khá trắng trợn.

Hăng giấy Cogido có 8000 tấn giấy trong kho đă được lệnh chuyển ra Bắc.
Tất cả những xe hơi mới của hăng Citroen, Renault, Peugeot cũng được lệnh chở ra Bắc.  Hăng Engineco, có 165 xe được tân trang cũng chờ để được chở ra Bắc. Cách mạng bị mang tiếng nhiều về vấn đề này lắm. Những lời mỉa mai, bóng gió không thiếu qua cái câu chẳng thơm tho ǵ : Miền Nam nhận họ, miền Bắc nhận hàng này.

Hạt gạo miền Nam đă thiếu hụt nay lại phải cắn chia đôi, chia ba cho miền Bắc.

 

11 tháng 7-1975, Tướng Trà: Mắt xích cuối cùng của cánh miền Nam

Tướng Trà bị gọi ra Bắc để trả lời và t́nh bày về những rối ren, về t́nh trạng an ninh và nhất là t́nh trạng tham nhũng hối lộ. Vai tṛ của ông và mặt trận có dấu hiệu không c̣n nữa.

Cho đến lúc này, nạn tham nhũng trong thành phần cán bộ lănh đạo, trong chính quyền bắt đâu lộ dạng. Và kể từ đó đến nay, sau gần 30 năm, không có dấu hiệu ǵ có sự cải tiến. Đă có bao nhiêu nghị quyết ? đă có bao nhiêu lần tuyên bố cương quyết diệt trừ tham nhũng ?

Ở một nước Tự do th́ người dân sẽ có cảm tưởng chính quyền coi thường dân chúng. Có thể thế được chăng? Có thể kéo dài măi chăng ?

 

11 tháng 8-1975, tờ Tin Sáng với nhóm cựu dân biểu đối lập thời VNCH

Một tờ báo tư nhân đầu tiên đă được phép xuất bản. Tờ Tin Sáng mà một số người đứng đầu trước đây đều là những dân biểu đối lập trong chính quyền Ngụy. Đó là các ông Ngô Công Đức, Lư Quư Chung, Hồ Ngọc Nhuận, Nguyễn Hữu Hiệp, Hồ Ngọc Cứ, Nguyễn Văn B́nh, Hoàng Ngọc Biên, Trương Lộc, Phan Ba, Dương văn Ṭng.

Lư Quư Chung tin tưởng rằng với sự có mặt của tờ Tin Sáng cho thấy có sự hợp tác giữa chính quyền mới và những người trí thức chế độ cũ. Ông c̣n nói thêm, xưa  làm báo như thể những người bửa củi, c̣n bây giờ làm báo như một người thợ nề xây cất.

Theo những người chủ trương tờ báo, họ hănh diện đây là tờ báo duy nhất không phải Cộng Sản trong ḷng một chế độ Cộng Sản. Tờ báo tồn tại được bao lâu? Đó là câu hỏi chưa có câu trả lời.
Trong le Nouvel Observateur, mồng 4 tháng 8, 1975, Jean Lacouture viết :

"Ngô công Dức n'est pas un conformiste. Le revoici à pied d'oeuvre. On verra dans la marge de liberté d!expression qui lui sera laissée un test décisif de L'esprit démocratique du nouveau régime "Năm năm sau N. Chomsky trong Guerre en Asie viết :" Cinq années se sont passées. Le Tin Sáng de Ngô Công đức et ses amis parait toujours. Le test est il positif ? Câu hỏi vẫn c̣n đó, câu trả lời th́ có rồi.

Sau này, ông Vơ Văn Kiệt trong một bài phỏng vấn vào ngày 30 tháng 4 năm 1980 cũng coi Tin Sáng như một biểu tượng hợp tác giữa chính quyền CS và trí thức miền Nam..

Nhưng chẳng bao lâu sau th́ tờ Tin Sáng bị đóng cửa, v́ ‘‘ đă hoàn thành nhiệm vụ’’ ( Tin sáng 1975-1980)

 

Tờ Tin Sáng ăn mừng:

Ông Hồ Ngọc Nhuận có ư tổ chức một bữa  ăn *Đoàn Viên* trong nhóm bạn bè của ông, ở địa chỉ số 132, Lê Lai.  Không biết ai trong số những người này đă thay chủ bút mời bữa ăn đó. Có thể là Nguyễn Xuân Lập, Trần Thị Huệ, Huỳnh Tấn Mẫm hay Dương Đầy. Chỉ biết là phường khóm không cho. Cuối cùng chỉ v́ một bữa ăn mà phải cầu cứu đến ông Tạ Bá Ṭng. Ông Tạ Bá Ṭng lại xin ở cấp cao hơn nữa. Nhận được giấy phép ở cấp cao hơn nữa rồi mấy người lu bu, tụ tập đầy đủ ở trên lầu. Phường khóm đă vác súng đến hỏi chuyện. Năn nỉ măi  th́ cũng được thông cảm, sau khi xin lỗi và hứa lần sau rút kinh nghiệm hơn. Ông chủ tịch phường khóm khi ra về không quên nhắc:* Nên nhớ, thủ tướng cũng phải xin phép, nếu muốn làm ǵ ở đây..

 

Thứ năm 7 tháng 8-1975, Học Tập Không Ngày Về.

Nay đă hơn 7 tuần rồi, quá cái giới hạn đi học tập một tháng rồi. Chính quyền cho biết nay những người đi học tập có quyền gửi thư về nhà một tháng một lần. Lại một hứa hẹn nữa nhằm xoa dịu đám vợ sĩ quan ở nhà. Chính sách học tập cải tạo là một lăng phí nhân tài, sức lao động sản xuất và nhất là gây hận oán trong bà con, thân nhân người đi học tập. Việc kéo dài thời gian đi học tập một cách không cần thiết làm buồn ḷng dân Sàig̣n và tạo ra sự mất tin tưởng vào chế độ. Có ai có đủ thành thật để cho biết họ đă học được ǵ ? và đă cải tạo được như thế nào ? V́ vậy mà thành phần những người đi học, dù sau này đă được sang đây vẫn canh cánh bên ḷng nỗi hận oán chế độ ?

Nhân khi đọc bài này, tôi có người bạn là anh Lê Tấn Lộc, giáo sư Triết, nguyên Trưởng Khu Học Chánh 12 tỉnh miền Đông. Với chức vụ đó, anh phải đi tŕnh diện học tập cải tạo. Hai người bạn tù đă chết. Anh có kể rằng có một phái đoàn của Hội Ân xá quốc tế tới thăm trại học tập. Họ đă lùa các anh tù cải tạo vào trong rừng, chỉ để lại một số người làm c̣ mồi. Trong khi đó, trên tờ Tin Sáng, một trí thức tên tuổi có viết rằng: người đi học tập được ăn thịt gà rôti, nghỉ mát và chơi bóng chuyền. Vui và khỏe mạnh. Cũng ông, khi người con trai của ông làm nghĩa vụ sang đánh Campuchia.. Ông đă làm một bài thơ ca tụng những người thanh niên lư tưởng đă từ bỏ gia đ́nh ra đi giúp nước. Sau này, một số trí thức, trong đó có ông, đă kư tên trong một danh sách biện hộ cho đường lối của chính quyền trong vấn đề tù cải tạo, vấn đề người di tản v.v.

Anh Lê Tấn Lộc có quyền bất nhẫn về chuyện đó như kẻ trong cuộc bị phản bội.

Xin nêu danh tánh một số trí thức miền Nam đă đặc biệt đứng tên ủng hộ chế độ mới, ủng hộ chính sách đi học tập cải tạo trong một lá thư gửi ra cho bạn bè người ngoại quốc. Họ không cần thanh minh với 3 triệu người VN di tản, mà chỉ  biện bạch với người ngoại quốc thôi.  Họ là Giáo sư Hồ đắc An, Ông Trương Bá Cần, Ông Vơ Đ́nh Cường, Thượng tọa Minh Châu, Nghệ sĩ Kim Cương, Dân biểu Lư Quư Chung, Bác sĩ Trần Văn Du, Nhà báo Ngô Công Đức, Bác sĩ Nguyễn Ngọc Hà, Nhà văn Vũ Hạnh, Giáo sư Trần V́nh Hiển, Ông Tôn Thất Dương Kỵ, Giáo sư Bùi Thị Lang, Luật sư Trần Ngọc Liễng, Thẩm phán Trần Thúc Linh, luật sư Nguyễn Long, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ, giáo sư Châu Tâm Luân, sư Huỳnh Liên, ông Huỳnh Công Minh, Thẩm Phán Triệu Quốc Mạnh, giáo sư Nguyễn Vinh My, dân biểu Hồ Ngọc Nhuận, giáo sư Nguyễn Quang Nhạc, Giáo sư Chu phạm Ngọc Sơn, giáo sư Phạm Biểu Tâm, giáo sư Trần Kim Thạch, giáo sư Lê Văn Thới, luật sư Ngô Bá Thành, giáo sư Lư Chánh Trung, ông Phan Khắc Từ, kỹ sư Lâm Văn Vạng, kỹ sư Đinh Xa.

Trong số những người này, đôi khi có người  bất đắc dĩ có tên. Họ cũng muối mặt câm lặng, cũng có thể khổ sở lắm.  Nhưng phần tôi, cũng bất đắc dĩ phải hài tên họ ra v́ trong tay tôi có tên tuổi họ và lá thư trên.

Đây là nội dung mở đầu tóm tắt của lá thư đó:’ Nous, intellectuels de l'ancien sud Viet Nam, profondément indignés par la bruyante campagne de calomnie et de dénigrement menée dans certains pays occidentaux contre la République socialiste du VN, notre patrie, estimons de notre devoir de publier la présente lettre’’

Và quan điểm của các trí thức có tên tuổi ở trên trùng hợp với quan điểm của một vài nhà báo:’ Ces camps ne sont ni des clubs de vacances ni des Goulag’’. Ư kiến của R.Pic, tháng tư 1976. J.Lacouture th́ viết:’’ Ce n'est pas le Goulag apparemment- pas l'école des Roches non plus’’ tháng 5, 1976. Nói tóm một chữ: Chúng không phải những trại tập trung. Cũng không có cái bề ngoài của một trại diệt chủng. Đó là ư kiến của phóng viên đă đến thăm trại Nam Hà và đă gặp cựu đại tá Lê Thanh Hoà, cựu Trung Tướng Huỳnh Văn Cao, cựu nghị sĩ Ng. Văn Hàm.

Họ,  những người trí thức có tên ở trên đă tự hạ ḿnh để nói gian dối che đậy cho chế độ.

Phần tôi, xin được phép kiệm lời khi nói đến số phận người tù cải tạo. Bởi v́ tôi không đủ tư cách, đủ lời để nói về điều ấy. C̣n quá nhiều người mà nỗi khổ, nỗi nhục của họ không thể cất ra lời. Chẳng biết văn chương nào có thể chuyển tải những nỗi đau làm người của kẻ thua trận. Tôi cùng lắm chỉ đứng ngoài mà nh́n vào. Chỉ biết rằng khi tôi đọc: Một nửa VNCH nối dài của Tạ Chí Đại Trường nhắc đến đoạn: một người đàn bà ngồi trên xe ba bánh trên một đoạn đường đất đỏ, bụi mù.  Xe vừa lướt qua th́ thấy một đoàn người tù cải tạo đang lếch thếch trên đường về trại. Bà mủi ḷng hất bao bố củ sắn xuống và những người tù xấu số đă chạy xô đến tranh dành như một lũ chó đói. Người đàn bà trên xe Lambretta ba bánh thấy cảnh đó bèn vội ôm mặt khóc. Tôi cũng chẳng làm ǵ khác hơn người đàn bà bất hạnh ấy.

 

Thành lập Hội Trí thức yêu nước.

Bên cạnh việc cho Tin Sáng hoạt động trở lại, c̣n có một biến cố khá quan trọng không thể không nói đến ở đây: việc thành lập Hội Trí Thức yêu nước. Để có được cơ sở hoạt động, chính quyền đă lấy một cơ sở của các cha ḍng Đa Minh. Đó là câu lạc bộ Phục Hưng mà trước đây dành cho sinh viên có chỗ ăn ở. Cư xá này do cha Đỗ Minh Vọng, Cras thiết lập từ 1955. Đây chẳng những là nơi dành cho SV có chỗ ăn ở, nó c̣n là chỗ sinh hoạt của các tổ chức sinh viên công giáo, nơi đào luyện các trí thức trẻ trước khi vào đời. Sau Giải Phóng, như nhiều tổ chức khác tự động tan ră. LM Nguyễn Huy Lịch thời đó đă cho mượn trụ sở này. Người đến tiếp nhận cư xá Sinh Viên là  ông Tạ  Bá Ṭng, một người cư xử rất tốt với đám trí thức miền Nam. Ông Tạ Bá Ṭng đă giao cơ sở này cho Hội Trí Thức yêu nước mà đại diện là các ông Chu Phạm Ngọc Sơn và Lư Chánh Trung.

Tổng Thư Kư Hội trí thức yêu nước là ông Huỳnh Kim Báu, một đảng viên đảng Cộng Sản.  Phần đông c̣n lại là trí thức cũ miền Nam, giới nhà văn và nhà giáo cộng với trí thức đi học tập về. Chẳng hạn như trường hợp Thế Uyên mới được thả ra từ trại học tập. Những người này đến Hội Trí thức như những người trú mưa dưới một cái dù che chắn cho khỏi ướt áo. Họ có mặt mà  như thể vắng mặt, ch́m lẩn vào đám đông.

Trong số những trí thức cũ, có nhiều nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ trước đó đă theo mặt trận hoặc có cảm t́nh với Mặt trận và lúc này họ nổi bật lên như Lư Chánh Trung, Nguyễn Trọng Văn, Hà Thúc Huy, Nguyễn Đ́nh Đầu, Trần Văn Quảng,  Huỳnh Ngọc Chênh, Phạm Hoàng Hộ, Chu Phạm Ngọc Sơn, Phạm Biểu Tâm, Châu Tâm Luân, Nguyễn Tân, Nguyễn Hữu Thái, Trương Th́n, Phạm Trọng Cầu, Hỷ Khương, Hoàng Điệp, Trần Long Ẩn, Miên Đức Thắng, Trịnh Công Sơn, Phạm Thế Mỹ, Đỗ Hồng Ngọc.

Sau này Hội có tổ chức những đêm văn nghệ hát nhạc TCS và được rất nhiều người đi nghe và tham dự. Thay vào tiếng hát Khánh Ly nay có  nam ca sĩ Thanh Hải hát nhạc TCS. Nhiều người đi nghe cho rằng Thanh Hải có thể thay thế được tiếng hát của Khánh Ly.

Trịnh Công Sơn trong đêm Văn Nghệ đầu tiên này đang bận ở Huế đă không vào được. Măi đến năm 1979, TCS mới bỏ Huế vào Sàig̣n. Nhưng anh đă có gửi hai bài hát của anh vào nhờ nhạc sĩ Miên Đức Thắng hát dùm. Hai bài hát của TCS có tên là :

Gánh rau ra chợ và Máy kéo nông trường.

Chị Trần Tuyết Hoa, vợ anh Nguyễn Hữu Thái trong dịp này đă khuyên TCS không nên sáng tác những loại nhạc như thế. Không biết Miên ĐứcThắng hát như thế nào và hát làm sao. Hát gánh rau ra chợ, hát máy kéo nông trường đă hẳn không phải là dễ. Tự nhiên MĐT lại gánh cái trách nhiệm nặng nề này. Đây là hai bài hát lỗi nhịp  nhất trong cuộc đời sáng tác của họ Trịnh.  Biết để mà hiểu, không phải để ghét. Bằng vào hai bản nhạc này, người ta tự hỏi TCS có c̣n là TCS nữa hay không.

Thái Kim Lan, với bài:’’ Trịnh Công Sơn; nơi vùng ưu tư thành tiếng Du ca’’ đă  viết như sau:’’ Cả một công tŕnh sáng tác mười mấy năm đang bị đe dọa phải chối bỏ, kiểm soát, tự phê b́nh…Không có bài hát nào của Sơn trong quá khứ được cho lọt sổ. Nhạc Sơn bị cấm phổ biến..Tôi có cảm tưởng đau đớn là Sơn đang tập đi lại những bước nhạc ấu trĩ trong sự nghiệp sáng tác của ḿnh, như kiểu ḱa một đàn vịt đang bơi dưới ao hồ..’’ Sau này, t́nh h́nh khá hơn, chế độ lỏng tay hơn, TCS sáng tác được mấy bài khác *đỡ hơn* như  Một ḥn bi xanh, Ở trọ,  Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui..  Ḥn bi .. xanh là có vấn đề rồi. Không có lập trường. Riêng bài Ở trọ, tôi nghĩ đấy chỉ là một bài hát rất tôn nghiêm. Tôi nay ở trọ trần gian, mưa nắng cũng ở trọ để rồi khoác áo chân như, bước tới hư vô.  Bài hát rất người, rất tôn nghiêm, rất mùi đạo. Cuộc đời như một ở trọ. Đến bàiTôi chọn một niềm vui. Mỗi ngày, tôi chọn một niềm vui, cùng nhau ca hát.. Tôi chọn nơi này, để thấy tiếng cười rộn ră bay. Tôi chọn một lần thôi, tôi chọn nắng đầy.. Nhưng mỗi ngày, tôi chọn ngồi thật yên để nh́n rơ quê hương, ngồi nghĩ lại ḿnh, v́ sao tôi sống, v́ đất nước cần, một trái tim.  Hay và ngậm ngùi. Nhưng lại bị hiểu xuyên tạc, bị phản bác là đất nước nay đă thống nhất, thiếu ǵ niềm vui, hà cớ ǵ anh lại phải chọn niềm vui. Cắc cớ nữa, tại sao anh lại chọn ngồi thật yên. Anh phải nhúc nhích đi chớ.  Hà cớ ǵ lại chọn ngồi thật yên.. Có vấn đề, có vấn đề rồi.

Nhưng biết được hai bài này và những bài sau mới hiểu được thân phận người trí thức dưới chế dộ CS, hiểu được nỗi ḷng của họ Trịnh. Cũng như sau này, tôi được biết rằng, họ Trịnh than thở với một người bạn thân của ḿnh là làm bài kiểm thảo đưa cho HPNT xem trước, HPNT đọc xong cũng chê là viết chưa đạt yêu cầu, phải viết lại. HPNT đang cố lấy điểm để có được cái thẻ đảng. Tôi vẫn bực ông chưa hết và tôi biết rằng viết những ḍng này những bạn bè chung quanh ông mà tôi được biết họ, một số sẽ không vui. Nhưng tôi đành ḷng trích một bài viết của tôi vào tháng 12, 2002: Về chính sách của Hànội và thái độ của một số nhà văn miền Bắc đối với văn học miền Nam qua cuốn Chân Dung Và Tác Phẩm của TĐK :’’ Trong cuốn kư, chốc lát, thái độ của ông trở thành hung hăn, côn đồ. Ông xách mé gọi người lính Cộng Hoà là thằng lính Ngụy, thằng Diệm, thằng Thiệu. Những người CS thứ thiệt gọi như vậy c̣n nghe được. Nhưng ông, một trí thức miền Nam, được ăn học, được đào tạo, có cái nếp sống văn hoá của miền Nam, thật khó mà chấp nhận cái ngôn ngữ chợ cá như vậy. Chắc không phải là ông quá.’’. Ông vẫn chứng nào tật ấy, trên Nét Cố Đô, 2005, vào cái giờ này của hơn 30 năm sau, qua lời phỏng vấn c̣ mồi của Nguyễn Xuân Hoàng ( Không phải NXH, giáo sư triết, nhà văn) ông cũng vẫn miệt thị gọi: bọn ngụy. Bọn ngụy là ai. Là tất cả bạn bè của ông, là tất cả họ hàng, bà con thân thuộc của ông ở ngoài Huế.

Đấy là nỗi khốn khổ thứ hai của họ Trịnh bị bạn bè ép. Ép mà phải cắn răng chịu.

Viết đến đây, tôi có điều để thưa. Trước hết cám ơn anh chị Nguyễn Hữu Thái, cựu sv kiến trúc, cựu sv tranh đấu Sàig̣n cũ, người đă có cái hân hạnh đứng… bên cạnh tướng Dương Văn Minh, kư giấy đầu hàng CS. Mặc dầu, tôi đă có đôi lần viết hơi nặng lời với anh, anh vẫn không giận, vẫn hỏi thăm rồi gửi cho tôi bài viết của chị Trần Tuyết Hoa, vợ anh và chị đă thẳng thắn tiết lộ hai bài hát sáng tác bất hủ của họ Trịnh. Xin dùng mấy ḍng chữ này cám ơn anh chị thay độc giả.

Phần những người được coi là bạn thân của họ Trịnh. Nhiều người chẳng hề tiết lộ hai bài hát này và những bài sau kế tiếp. Ngay cả mới đây, những người viết kỷ niệm 5 năm ngày TCS mất cũng né tránh. Viết thật mới là yêu mến TCS. Ở trong chế độ CS, đừng ai nói hay. Làm người b́nh thường đă là khó. Huống chi là người hùng.

10 năm sau, Hội Trí thức yêu nước này kể như không c̣n sinh hoạt ǵ đáng kể nữa. Một phần người ta lo sinh kế, lo t́m đường đi nước ngoài. Phần khác cán bộ đảng nhà nước ngoài Bắc vào nhiều ” Sự có mặt của họ kể như những thành phần Indésirable””.

 

Trong số những hội viên hội trí thức yêu nước có Nguyễn Văn Trung. Ông chưa tham dự được bao nhiêu buổi hội họp th́ đă bị bắt vào hồi 18 giờ 30, ngày 14 tháng 6, 1978. Với tội danh được ghi trong biên bản: can tội Phản Cách mạng. Biên bản ghi tiếp. Sau khi bị can bị bắt, vợ của bị can là Trần Thị Minh Chi đă cùng đi với chúng tôi khám xét nhà ở th́ thấy có những vật kê dưới đây, nghi có liên can đến vụ án ( 19.  tội phản cách mạng):

 

-          Một giấy chứng nhận của trường Đại Học Văn Khoa.

-          Một số sách báo, tài liệu cắt báo và chép tay

-          Một máy đánh chữ

-          Một chứng nhận được giữ sách báo cũ.

 

Trên đây là những tang vật liên quan đến tội phản cách mạng. Tôi cũng đọc lá thư của Bà Chi gửi vào cho chồng, đă qua kiểm duyệt của Ban Chấp pháp như sau:’’ Về tả bố,  chẳng khác nào như trong truyện được săn sóc nuôi cho ăn uống mập thiệt là mập, trước ở nhà xanh vàng, mặt có những vết nhăn. Bây giờ thấy tṛn quay, những vết nhăn biến đâu, trắng..

Bà Trung đă phải viết như thế đấy. Không viết không được. Viết như thế rồi cũng lộ ra những chỗ viết thật thà trong một lá thư khác như: Lưng quần tây của anh rộng nhờ ai khâu bớt vào hai bên.

Và trong hoàn cảnh cô đơn, tuyệt vọng như thế, ông Trung có lúc tưởng ḿnh không có hy vọng sống c̣n. Ông đă viết một lá thư như chúc thư để lại ngày 26-11-1978 trong đó có đoạn như sau:’’ Đối với họ hàng. Cho Bố gửi lời thăm chào từ biệt họ hàng nội ngoại. Xin tha cho Bố những điều đă làm mất ḷng và xin hăy thương yêu giúp đỡ nhau, coi những tỵ hiềm là nhỏ mọn. Gia đ́nh Đào chịu khó tiếp tục chăm sóc ông nội. Đối với bạn bè quen thuộc. Chuyển lời Bố xin mọi người tha thứ những điều đă làm cho buồn phiền và cầu nguyện cho  Bố.’’  Nguyễn Văn Trung 26-11- 1978. 

Xin đọc với tâm t́nh chia xẻ về cái khốn khổ trong lao tù Cộng Sản.

Và đến ngày 21 tháng 12 năm 1978, ông Trung nhận được giấy tạm tha với nội dung: Căn cứ kết quả cuộc điều tra. Không ghi chữ nào cả.  Xét thấy: Sức khoẻ bị can quá yếu ( bệnh tim).. Trong khi chờ kết quả cuộc điều tra và quyết dịnh di lư.. Kư tên. TL Giám Đốc Công An, Trưởng pḥng chấp pháp: Ngô Văn Dần.

Tội vẫn c̣n đó. Vẫn thế. Chỉ tạm tha thôi.

Cả hai Lư Chánh Trung, Nguyễn Văn Trung đều là trí thức thành phần thứ ba. Viết cũng nhiều, ảnh hưởng cũng không ít. Người tham gia tích cực bằng hành động, người tham gia chỉ bằng ng̣i bút.  Một dân biểu, một đi tù. Tôi chỉ xin tóm tắt sự nghiệp của các ông bằng cách trích dẫn điều họ viết.

-          Đối với Lư Chánh Trung, sự nghiệp viết lách của ông tóm tắt trong câu này:’’ Về một môn học mà thầy không muốn dạy và tṛ không muốn học’.

-          Đối với Nguyễn Văn Trung, có thể tóm tắt trong lời phát biểu sau đây của ông:’’ Tham gia Cách Mạng là tham gia vào một quá tŕnh tự  tiêu diệt sau này’’.

Về cái hội này, xét về mặt nhân đạo, nó cũng là nơi che dù cho nhiều trí thức miền Nam sau khi đi học tập về khỏi cảnh vùi dập đi kinh tế mới, hoặc khỏi bị phường khóm làm khó dễ, hoặc đỡ đần bao gạo khi túng đói. Sau này, hội trí thức giải tán và dổi ra thành Hội Liên Hiệp Khoa Học Kỹ thuật do Chu Phạm Ngọc Sơn làm chủ tịch. Hội này hoạt động bằng cách mở các lớp dạy sinh ngữ và các sinh hoạt khoa học kỹ thuật. Cuối cùng, ḍng Đa Minh đă làm đơn đ̣i lại cơ sở này qua TGM B́nh chỉ hai tháng trước khi ngài qua đời. Sau nhiều năm chờ đợi, nhà nước đă trả lại cơ sở này cho ḍng Đa Minh ngày 22-12-2003.

Coi như một món quà Noel của nhà  nước.

 

Thứ năm 14 tháng 8-1975 :

Có lẽ cái đụng chạm đến người dân miền Nam nhiều nhất vẫn là miếng ăn.

Cơm áo không biết đùa và không đùa với bất kỳ ai, bất kỳ họ là trẻ con hay người lớn.  Sống trước đă, có cái ăn trước đă.  Không có ăn là không được.

Đời sống mỗi ngày mỗi khó khăn, cái ǵ cũng trở thành khan hiếm, dĩ chí từ một hạt muối, th́a bột ngọt. Các giáo chức được phát một kỳ một gói bột ngọt, sau xuống mười th́a cà phê bột ngọt, nửa kư thịt trong một tháng, một tút thuốc lá(10 bao), sau xuống một bao rồi đến nửa bao Sàig̣n Giải Phóng. Tôi nghiện thuốc lá, nhưng nay một bao thuốc lá mua hợp tác xă bán ra có thể thêm tiền chợ một ngày. Tôi bỏ hút thuốc lá từ đó.

Nhờ Giải phóng, tôi bỏ được tật xấu hút thuốc.

Giá thức phẩm gia tăng. Cái ǵ cũng khan hiếm đến không hiểu được. Muối là một sản phẩm quá rẻ, không đáng nói tới cũng trở thành đắt. Một kílô muối tăng từ 50 đồng đến 500 đồng. Một bao quẹt tăng từ 20 đồng đến 40 đồng.. Giá cả tăng đến 80%. Dân chúng bắt đầu phải xếp hàng để đến các hợp tác xă. Đợi chờ cả nửa ngày cho nửa kư sà bông, nửa kư đường. Có những điều trước đây cứ có tiền là mua được, nay trở thành * chế độ, xin cho* của chính quyền. Chính quyền cho cái ǵ th́ được cái nấy. Nghĩ lại câu nói của một kinh tế Gia Anh nói không sai :"Kẻ nào nắm giữ hầu bao là kẻ đó có quyền".

Gạo bán ở tổ dân phố không ăn được. Hoặc mốc, muối mọt, hoặc có rất nhiều sạn. Chúng tôi bán đi để mua gạo ăn được. Nay tôi có thêm nghề chạy kiếm các mối bán thực phẩm. Lúc rảnh, tôi chạy xe Vespa ra tận Phú Lâm đón các xe hàng về để mua gạo lậu từ các bà buôn lậu. Họ dấu gạo ở bất cứ chỗ nào có thể dấu được, ngay cả chỗ kín bụng dưới. Đó là những xe thồ di động nơi những người đàn bà dị h́nh, dị tướng.

Cả nước nay chỉ lo có một chuyện : Lo ăn.

Về lỗi lầm lịch sử của chính quyền Cộng Sản để dân đói, xin được trích dẫn lời chứng của ông Trần Quang Cơ, trong Hồi ức như sau:’’ Là nhân chứng của lịch sử và cũng là người trực tiếp tham gia các hoạt động ngoại giao này với tư cách là Vụ trưởng Vụ Bắc Mỹ Bộ ngoại giao, trực tiếp tham gia đàm phán về b́nh thường hoá quan hệ với Mỹ ở Paris năm 1977, rồi Nữu Ước 1978, tôi thật sự đau xót v́ ta đă bỏ lỡ mất cơ hội củng cố thế đứng của Việt Nam trong ḥa b́nh.. Trong tập hồi kư của ḿnh From Third world to first, Từ thế giới thứ ba đến thế giới thứ nhất, Lư Quang Diệu đă nhận xét:’’ Năm 1975, TP Hồ Chí Minh có thể sánh ngang với Bangkok. Nhưng nay, năm 1992, nó tụt lại đằng sau tới 20 năm.’’ Là người Việt Nam,  đọc lời nhận xét này của Thủ Tướng Lư Quang Diệu, ai mà không đau xót, v́ Việt Nam đă bỏ lỡ cơ hội.  Chính quyền Carter thực sự muốn b́nh thường hóa quan hệ với Việt Nam qua lời tuyên bố của ngoại trưởng Cyrus Vance:’’ Việc tiến tới b́nh thường hoá quan hệ Mỹ-Việt Nam phù hợp với lợi ích của hai nước.’’ 

Nhưng Việt Nam cương quyết đ̣i Mỹ giải quyết *trọn gói* 3 vấn đề. B́nh thường hóa quan hệ ngoại giao, giải quyết vấn đề MIA và viện trợ 3 tỉ 2 như đă hứa. Mỹ bị quốc Hội bó tay trong vấn đề bồi thường. Đến lúc ta quyết định rút bỏ đ̣i hỏi Mỹ phải bồi thường chiến tranh viện trợ 3,2 tỉ và nhận công thức,’’’b́nh thường hóa quan hệ không điều kiện của Mỹ th́ đă quá muộn’’. 

Việc b́nh thường hóa quan hệ với Mỹ và việc gia nhập khối Asean, măi ngót 20 năm sau, 1955,  chính quyền VN mới thực hiện được một cách khá chật vật. Nếu chấp nhận b́nh thường hoá với Mỹ th́ ta đă có thể Không phải một ḿnh đối đầu với Trung Quốc trong cái chiến tranh *dạy cho một bài học*

 

Đó là cuộc sống bất đắc dĩ.

Ở một góc cạnh khác của đời sống, xin kể  là tôi có người bạn là anh Đặng NgọcThiềm, giáo sư  trường Trần Lục. Không biết có phải v́ phẫn chí, v́ bất măn hay có thể bị điên mà anh đă ra nông nổi này.

Anh có lối sống mà tự bản thân đời sống nó là một lời tố cáo chế độ mới. Đời sống của anh là gián tiếp bôi nhọ chế độ: Chính các anh làm tôi ra nông nỗi này. Từ quần áo dơ bẩn, lôi thôi, từ phong cách thái độ, từ cách ứng xử, từ cách phát ngôn, từ cách thức làm việc, từ chiếc xe đạp cà rịch cà tàng, từ cách cho điểm, từ cách giảng dạy, từ nụ cười châm biếm chế nhạo.

Đến nỗi nh́n qua anh, nh́n ra chế độ. Anh chính là chế độ ấy.

Anh cố t́nh ăn mặc dơ dáy đến hôi hám, đến bẩn thỉu. Một giáo sư tự trọng, dù nghèo không thể ăn mặc như thế trước mặt học tṛ. Mỗi lần lĩnh nửa cân thịt, anh treo ṭng teng ở ghi đông xe cho mọi người thấy. Anh để lên bàn giáo sư cho học sinh thấy. Anh dơ lên khoe với học tṛ anh được nửa kí thịt. Học tṛ im lặng nghe ông thầy làm xiếc, đóng kịch. Anh luôn luôn dùng đủ cách để khen chế độ đến lố bịch.

Anh tố cáo chế độ chỉ bằng những lời khen quá lố. Thông minh và xỏ lá.

Ban Giám hiệu là cấp lănh đạo ở ngoài vào cũng như trên Quận, Sở đều không có một lời phê phán trực tiếp hay gián tiếp về anh. Họ cư xử thật đúng mực. B́nh thường là phải để anh nghỉ việc.

Việc dạy học và cho điểm của anh cực kỳ phi lư và lố bịch. Cột điểm Sử địa của anh bao giờ cũng có ba cột điểm trong một tháng. Hăy coi bằng cách nào anh đă nghĩ ra lối cho điểm quái gở đến như thế. Tỉ dụ học sinh A: Anh cho 3 cột 9 điểm, 8 điểm và 7 điểm. Học sinh B, anh đổi vị tŕ điểm theo thứ tự như: 8 rồi 7, 9. Học sinh C là 7,8,9. Học sinh D là 7,9,8, E là 8,9,7. G là 9,7,8. Rồi anh cứ cho điểm xoay tua như thế.

Anh không chấm bài, anh không cho điểm hay cho điểm đồng loạt là một cách miệt thị nền giáo dục ấy.

Anh Hiệu trưởng xem và không nói ǵ cả. Việc cho điểm của anh rơ ràng ngầm ngụ ư không đánh giá học tṛ, không đánh giá việc dạy học,  phủ nhận vai tṛ thầy giáo và phủ nhận luôn việc dạy học.

Đây là một thứ phản đối tối thượng ( Ultimate protest ). Mang chính bản thân ḿnh ra làm đối tượng diễu cợt.? 

Nếu không có cuộc đổi đời, anh Thiềm sẽ là một giáo sư như thế nào ? Trước đây, anh trịnh trọng, áo sơ mi là ủi dài tay, thắt cà vạt, dáng người to lớn, dềnh dàng, không thiếu trịnh trọng trong đi đứng, ăn nói, xử thế. Vài ba năm sau, tôi ra khỏi nước, được tin anh đă mất.

Tiếc cho một người tính t́nh lúc nào cũng vui cười với óc hài ước rất cao đă t́m cách tự hủy nhân cách ḿnh dần dần một cách cố ư. (Suicide prolongé et intentionnel ) Cố ư tự hủy, cố ư sa đọa hoá nhân cách và con người như thể không c̣n là con người nữa. Đó là lối tự hủy của người có học, của trí thức bầy tỏ một nhân cách lộn ngược, bất cần đời thường thấy nơi một số nhà văn, nhà trí thức, người hiểu đời, hiểu thế sự..

 

Thứ sáu 15 tháng 8-1975, giám mục Seitz, địa phận Kontum-Pleiku bị trục xuất khỏi Việt Nam

GM Seitz cùng với 9 người khác gồm 6 linh mục và ba nữ tu đă bị trục xuất khỏi VN. Các tu sĩ trên đă bị quản thúc tử tháng 3-1975 ở trên cao nguyên. Vài ngày trước đấy, họ được lệnh dời khỏi cao nguyên. Sau khi bộ đội lục soát hành lư của họ, họ được chở bằng xe che mui kín về Sàig̣n và giam giữ ở khách sạn Caravelle, sau đó được dẫn ra phi trường. Đừng quên là sau này vào ngày 7-7-1976, những linh mục ḍng tên cuối cùng cũng đă dời Việt Nam( gồm hai Pháp, 2 Y Pha Nho, một Gia Nă Đại và một Ư.) Ḍng tên c̣n lại khoảng 30 lm người Việt Nam.

Một số người Pháp vẫn tưởng rằng họ được chính quyền mới ưu đăi hơn các người ngoại quốc khác. Thực tế không phải vậy. Giám đốc đồn điền IPH và Chủ nhân hăng Michelin cũng phải cuốn gói. Chẳng những mất tài sản mà chính phủ Pháp qua đại diện c̣n phải đứng ra bảo lănh những món thuế c̣n thiếu của các công ty này. Giám đốc CARIC cũng được phép dời VN để t́m sự trợ giúp tài chánh nơi chính phủ Pháp cho những công tŕnh đóng tầu biển. Nói chung, các công ty này tự dâng hiến toàn bộ cơ sở vật chất, tài sản bất động sản mà vẫn c̣n nợ thuế chưa trả được.

Khi về lại Pháp, GM Kim có viết một cuốn sách nhan đề: « Le temps des chiens muets » ( Thời của những con chó câm). Ông viết: « Les chiens muets, ce sont ceux qui ont peur de dire la vérité, qui n’osent pas aboyer » (  Những con chó câm là những con chó sợ nói sự thật và không dám sủa)

Xin trích bản thông cáo lư do trục xuất các người ngoại quốc như sau: Communiqué du service d!information et de la culture de la  province de Kontum.

Les étrangers qui viennent d!être expulsés le 12 aôut 1975 et dont les noms suivent: Paul Seitz. André Marty. Léon Dujon. Marcel Arnould. Josep Curient. Gabriel Brice. Olivier Deschamps. Edirc Baker. George Christian. Raphaelle Cormier. Marie-Renée Legal. Cécile de Boissy ont commis des crimes suivants:

Họ phạm 8 tội tất cả. Tội nào cũng đáng lănh án chung thân hay tử h́nh như trong bản thông cáo nói: crimes qui méritent l!emprisonnement et la peine de mort. Vậy mà họ chỉ bị trục xuất mà c̣n bất măn phản đối đ̣i ở lại. 

Tội nặng như thế, trục xuất là phải rồi.

Phần tôi, tôi chỉ mong muốn thay thế chỗ của Paul Seitz để được trục xuất sang nước Pháp mà không được.

 

Số phận TGM Thuận đă được an bài

Cũng trong ngày 15 tháng 8 này, Phó TGM Nguyễn Văn Thuận dời thành phố Sàig̣n đi tù suốt 13 năm. Sau này, một trong số những người chống đối việc bổ nhiệm của ĐC Thuận như  ông Nguyễn Văn Chín, đại diện phong trào Công giáo Dân tộc và là LM Thanh Lăng đă viết lời xin lỗi trong một lá thư di chúc vào  ngày 28-11-1988 như sau :* Tôi xin công khai sám hối với Chúa và Hội Thánh Toàn cầu và VN. Lạy Chúa, xin tha thứ cho con mọi lầm lẫn và ban cho con ḷng tin ḷng trông cậy và ơn tha thứ. Tôi xin công khai xám hối xin lỗi đức Cha Nguyễn Văn Thuận, xin Chúa ǵn giữ và trả công cho đức Cha.

 

Ngày 28 tháng 11-1988. Đinh Xuân Nguyên, Thanh Lăng.

LM TL sau đó qua đời ngày 17-12-1988.

Về cái chết của TL, có dư luận nghi ngờ v́ có sự ám toán mờ ám. TL có viết gửi nhà nước một thư ngỏ để bênh vực quan điểm của giáo hội về việc phong thánh. Bức thư được in ra nhiều bản chuyền tay nhiều người. Có một số SV văn khoa đến xin được gửi bức thư ra Hải ngoại để được phổ biến rộng răi. Ông đă tiếp họ trong trạng thái b́nh thường và vui vẻ. Thế rồi Công an quận Tân B́nh mời lên gặp và qua ngày hôm sau, ông bị trúng gió và qua đời trong sự bán tin bán nghi của nhiều người.

Cũng trong cái tinh thần xám hối ấy mà sau này vào tháng 8-1988, một nhóm LM và giáo dân đă họp ở trụ sở báo ĐMHCG thuộc ḍng CCT soạn thảo hai bức thư, một gửi cho TGM Nguyễn Văn B́nh, một gửi cho HĐGMVN vào ngày 15-8-1989 để yêu cầu đ̣i can thiệp cho TGM Thuận trở lại Sàig̣n.

Hai lần họp. Hồi 1975 tụ tập ở toà khâm sứ và toà TGM đ̣i trục xuất TGM Nguyễn Văn Thuận để ủng hộ chính quyền. 12 năm sau, tụ họp đ̣i cho TGM Thuận trở về,  chính thức chống đối chính quyền.

 

Ngày 16 tháng 8-1975, một lá thư chung của Toà Giám Mục.. ra quá chậm

Giáo hội thường được gọi là thầm lặng miền Bắc do TGM Trịnh Như Khuê đợi đến hơn 3 tháng sau, hôm nay mới chính thức ra thông tư, mà nội dung hoàn toàn đạo giáo, không nhắc ǵ đến ngày 30 tháng tư cả.  Người kư thay Giám mục là LM Trần văn Mai.

Nội dung lá thư có những câu như: ‘’cố gắng làm người công giáo tốt, người công dân tốt. Công giáo tốt th́ cầu nguyện cho họ chóng được lên Thiên đàng, công dân tốt th́ mừng Quốc khánh cách long trọng.”

Giọng điệu không có ǵ là hồ hởi,  lại c̣n có vẻ lờ đi cái ngày trọng đại thống nhất 30 tháng tư nữa.

Trong khi đó lá thư trong Nam của cha ĐC B́nh đề ngày 2-9-75 có những đoạn:’’ trong ḷng của tín hữu, cơi trần gian và cơi trời không c̣n cách biệt, không c̣n phân ly, nhưng đă hoà đồng và vươn lên măi dưới sức tác sinh của Thánh Thần Thiên Chúa. Sống niềm tin ấy trong những ngày lịch sử này của dân tộc, chúng ta không c̣n lư do ǵ để không vui mừng đón nhận những giá trị của Cách Mạng.”

Hai lá thư chung của hai TGM ở vào hai thời điểm khác nhau cho biết thái độ của họ đối với chính quyền như thế nào.

Hơn 20 năm sau sống dưới chế độ được mệnh danh là “giáo hội thầm lặng”, h́nh như những vị lănh đạo Thiên Chúa giáo miền Bắc vẫn chưa nuốt nổi món ăn CS và mối quan ngại đối với chính quyền Cộng sản vẫn c̣n.

V́ thế,  không lạ ǵ cuộc an táng ĐC B́nh, khác hẳn cuộc an táng của Hồng Y Trịnh Như Khuê.  Đám tang TGM B́nh vào ngày 3-7-1995 được tổ chức trọng thể. Báo Sàig̣n Giải Phóng ra ngày 4-7-1955 cho biết rơ tên tuổi một số cơ quan và nhân vật tham dự. Đặt ṿng hoa có: Ông Đỗ Mười, Tổng Bí Thư, ĐCSVN. Ông Lê Đức Anh chủ tịch nước CHXHCNVN. Ông Nông Đức Mạnh, chủ tịch Quốc Hội. Đến viếng có ông Nguyễn Văn Linh, Vơ văn Kiệt và các Đoàn Đại biểu UBTUMTTQ. Đoàn Đại biểu Dân Vận trung ương, Đoàn Đại biểu thành uỷ, Hội Đồng nhân dân TPHCM vv..

Cáo phó đăng hai lần liên tiếp trên tờ SGGP vào ngày mùng 2 và 3, tháng 7, trên trang nhất, góc dưới bên phải, chỗ thường chỉ để dành riêng cho các lănh tụ Đảng và nhà nước từ trần mà thôi.

Và đây là một vài lời chia buồn của các viên chức nhà nước. Ông Lê Khắc B́nh chủ tịch UBMTTQ Tp HCM ghi:’’ Vĩnh biệt cụ TGM Phaolồ Nguyễn Văn B́nh, đă góp phần vào việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân’’.  Ông Vơ Trần Chí, bí thư thành uỷ dẫn đầu đă ghi vào sổ tang:’’ Vô cùng  thương tiếc cụ Phao lồ Nguyễn Văn B́nh, TGM giáo phận tpHCM đă tận tụy suốt đời kính Chúa yêu nước, góp phần vào sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc’’Trong khi đo th́ ông Trần Bạch Đằng nói lén nhân một buổi hội nghị. TGM  B́nh là một ông cù lần nhất trong ba ông cù lần.

Có lẽ lời nhận xét trung thực nhất là cụ B́nh là người luôn luôn chịu đựng, đứng mũi chịu sào và đồng thờĩ vừa phải t́m cách hợp tác với chính quyền mới.

Nhưng chẳng nên nh́n mấy cái bề ngoài phô trương của đảng này để xét đoán con người. Hăy nhớ lại những lời phát biểu của TGM trước khi chết như một chúc thư cho người ở lại qua lời phỏng vấn của Trần Bá Cường:Nhưng với tôi, 20 năm qua, cảm tưởng sâu đậm của tôi là đă phải sống một thời gian dài nhất của đời người’.  Hiểu câu này như một lời trối trăn để hiểu nỗi khổ tâm của một người chủ chiên ở trong một hoàn cảnh đất nước đă phải cam chịu trong 20 năm qua.

 

Thứ ba, ngày 19 tháng 8-1975, những món quà ư nghĩa:

Ngày kỷ niệm nắm chính quyền của Việt Minh vào năm 1945. Chính quyền đă gửi đến cấp lănh đạo Thiên Chúa giáo bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng của người có đạo.  Nhưng người ta cũng chưa quên được việc trục xuất mới đây GM Kim và các thừa sai người Pháp.

Món quà thứ hai cho dân thành phố là việc phóng thích 200 người trong các trại học tập cải tạo. Con số quá ít ỏi, nhưng cũng cấy được một chút hy vọng mỏng manh nơi các gia đ́nh có người thân c̣n trong trại học tập cải tạo. Niềm tin đó đă kéo dài lê thê trong nhiều năm sắp tới.

Món quà thứ ba đến từ Liên Xô. Một tầu dầu của Liên Xô đă cập bến Sàig̣n mang theo 31 vạn tấn dầu.

Trong những món quà khác, Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế đă gửi bằng đường biển đến VN thuốc men, dụng cụ y khoa. Điều đặc biệt là Hội Hồng Thập tự đă nhận được một giấy đ̣i thuế cho những món quà tặng đó. Số tiền là 36 vạn đô la mà Hội HTT phải trả. Hai bên đă thương lượng rất nhiều lần mới đi đến được thỏa thuận. Quà đă tới, đă trao làm sao thu hồi lại được. Vấn đề là làm sao trả bớt thuế.  Cho quà mà c̣n phải đóng thuế, họa chăng chỉ có người VN.

Rút kinh nghiệm quà phải đóng thuế, cho phải trả tiền, một chuyến tầu khác của Hội Hồng Thập Tự đang trên đường đến VN đă được lệnh đổi hướng đến một nước khác biết điều hơn.

 

Thứ ba 26 tháng 8-1975, tờ Tin Sáng loan tin 

Tin ở đây là chính quyền đả kiểm soát và làm chủ đến 70% các cơ sở xí nghiệp ở miền Nam. Trong đó có hăng Denis frères của Pháp. Nhân công sau đó bị cho nghỉ việc mà không được bồi thường một đồng xu nào.

Các ngân hàng tư là những nạn nhân đầu tiên. Tiền bạc, tài sản đều đuợc chuyển giao về Ngân hàng Quốc Gia

Ngoài việc chiếm các cơ sở thương mại, các cán bộ cao cấp chính quyền mới c̣n chiếm các biệt thự, các dinh thự cũng như các tài sản ở trong đó. Mặc dầu có thông cáo ra lệnh:*không có bất cứ tổ chức nào, không có bất cứ đơn vị quân đội nào có quyền trục xuất những người  ở trong các biệt thự đó cũng như tịch thu tài sản của họ*

Có lẽ cùng lắm chỉ có dinh thự của ông Hannon, giám đốc CARIC là không ai đụng tới. Cũng v́ vậy, chẳng mấy chốc mà những cán bộ cao cấp trong đảng trở thành triệu phú như ông Lu nhận xét. Ông Lu His-Ying, môt thương gia tiếng tăm và có thế lực của người Tàu, một người theo chủ nghĩa Mao cười nói rằng Trung Quốc rất chú ư đến ư nghĩa cuộc chiến thắng này, đồng thời đến số phận những người Trung Hoa như ông hiện nay. Có tất cả 1 triệu rưởi người Trung Hoa như ông Lu và đó là con số đáng kể.  Sau đó, ông cho rằng những người của Hà nội  ông có thể mua được dễ dàng. Lại cười.

Cái cười của người Trung Quốc.

Lời nói tiên tri của ông Lu phải chăng mở đầu cho một cơ cấu chính quyền tham nhũng như hiện nay.

Trong khi đó báo chí tuyên truyền, rỉ rả cho ngày lễ Độc Lập sắp tới. Để chuẩn bị cho ngày đó, 1000 nhà sư đă tụ tập đến rạp Rex vào ngày 27 tháng tám để học tập. Ngày hôm sau, cũng khoảng con số như thế những tu si Ki Tô giáo đến rạp này cũng để học tập.

Các nhà sư, các ông cha quen làm thày dạy người khác, quen giảng, quen thuyết pháp. Lần đầu tiên trong đời, họ trở thành những cụ, những quư vị LM, tu sĩ, những quư vị Thượng Tọa, đại đức trở thành các * tỳ kheo*, các học tṛ ngoan ngoăn như học tṛ nghe người khác dạy.

Nào trước đây ai đă dạy được các cha, các thày, các thượng toạ, đại đức. Gớm thay cho người Cộng Sản.

Đó là những buổi học tập bất đắc dĩ để mừng một ngày lễ. Kể từ dây, hễ có lễ lạc là phải học tập. Bất đắc dĩ phải nghe, bất đắc dĩ để mừng.

 

Thứ bảy 30 tháng 8-1975, câu chuyện về các nhân vật chế độ cũ:

Ông Trương Vĩnh Lễ, nguyên chủ tịch Quốc Hội VNCH thời đệ nhất, chủ nhân nhà in Sàig̣n ấn quán. Hồi c̣n chế độ Ngô Đ́nh Diệm, mỗi lần có dịp lễ lạc ǵ trên Viện Đại Học Đàlạt, tôi đều nhận thấy ông có mặt. Có thể, ông đă không thiếu một buổi nào. Trông ông hiền lành như ma sơ. Một người như ông, hiền lành như bụt, chắc làm chính trị là phải. Ông có cả hai cái hiền đó cộng lại. Về sau này, những Trương Công Cừu, Trần Văn Lắm chỉ có cái giả vờ hiền. Thua ông Lễ nhiều lắm. Trong những buổi lễ như thế, tôi cứ chú mục nh́n ba người, nh́n ông Lễ, nh́n ông Diệm rồi sau đó đó lại liếc sang nh́n ông Nhu. Thật chả giống nhau tư nào. Ông Nhu có cái nh́n xa vắng, tiết ra cái oai dễ sợ lắm, ngồi đó mà nghĩ đâu đâu, không nhếch mép một nụ cười. Không thèm chú mục tới bất cứ ai. Không để ư tới những bài diễn văn, những lời chúc tụng chung quanh ḿnh. Ông Diệm dễ mỉm cười, hơi tư đỏ mặt, có vẻ người bề ngoài là người phúc hậu, dễ gần, dễ cởi mở.  Sau này, dư luận nói ông ác lắm, tôi cũng không tin. Ông Lễ th́ khép nép từ tốn, chắp tay cúi đầu khi lên chịu ḿnh thánh Chúa. Ông Diệm không c̣n là một Tổng Thống, mà là một ông cha. C̣n ông TVL, không c̣n là chủ tịch QH, mà là một con chiên.

Từ đó, tôi đă biết chọn, ai trong ba người là người làm chính trị. Tự thâm tâm, tôi đâm mê ông Nhu, tôi để ư cái lối ngồi bất động, bộ áo vét hơi nhầu nát, chểnh mảng, mái tóc hoa râm, cứng, thưa và hơi biếng chải, làn da mặt đồi mồi hơi xạm tối, cái vóc dáng trí thức khác người, hơn người của ông. Tôi không lần nào thấy bà Nhu ngồi gần, hay bà ngồi đâu xa xa, lẩn vào đám đông. Chỉ có vậy mà tôi đă nhớ ông suốt đời. Sau này, tôi có người bạn là NTV cũng nhắc lại một tâm trạng giống y như tôi.. chúng tôi đều chỉ ngồi nh́n ngắm ông Nhu.

Kể từ đó, tôi không thấy khuôn mặt chính trị nào đáng nể nữa. Nhưng nhắc tới ông Nhu là nhớ tới ông Lễ như một phụ bản. Tôi nhớ đến ông TVL là v́ thế.  Nay nhà in và toàn bộ máy móc của ông đă bị trưng thu kể từ tháng 7. Được tin ông bị bắt cùng với toàn thể gia đ́nh v́ có ư định trốn đi ra nước ngoài.

Tự nhiên, cả một quá khứ quay trở về. Tôi nh́n ra chỗ ngồi của ông TVL bên cạnh TT Ngô Đ́nh Diệm và cuối hàng ghế đầu, phía tay trái, chỉ c̣n một người ngồi nữa là hết dăy ghế, chỗ của ông Ngô Đ́nh Nhu, chỗ có vẻ khiêm tốn, khuất lấp. Thật ra chỗ của ông Nhu, ông muốn ngồi chỗ nào mà chả được.

Sau này, không biết số phận ông Trương Vĩnh Lễ  ra sao.

 

Danh sách trí thức miền Nam ủng hộ chế độ mới.

Đây là những trí  thức trong thành phần thứ ba và nay ra hợp tác với chính quyền mới. Đây là danh sách cụt và ngắn gọn. C̣n rất nhiều người tham gia hợp tác khác mà chưa đủ nổi, chưa tiện nói.

Cao Thị Quế Hương, Chân Tín, Huỳnh Công Minh, Huỳnh Liên, Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Văn Giáp, Lê Văn Thới, Hồ Ngọc Nhuận, Lê Văn Nuôi, Lư Chánh Trung, Lư Quư Chung, Ngô Bá Thành, Ngô Công Đức, Nguyễn Duy Thông, Nguyễn Hửu Hiệp, Nguyễn Long, Phạm Biểu Tâm, Phan Khắc Từ, Thích Minh Châu, Tôn Thất Dương Kỵ, Trần Ngọc Liễng, Trần Thúc Linh, Triệu Quốc Mạnh, Trịnh Đ́nh Thảo, Trương Bá Cần, Vơ Đ́nh Cường, Vơ Thị Bạch Tuyết, Vương Đ́nh Bích.

 

Phần cụ chủ tịch Thượng Nghị Viện VNCH Nguyễn Văn Huyền 

Cụ đă đứng ngoài danh sách trên. Sau này cụ đau nặng. Nhưng Ủy Ban Trung Ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam đă nhiều lần mời cụ tham gia vào mặt trận. Cụ đă từ chối v́ lư do sức khỏe. Trên tờ Đại Đoàn Kết, người ta nhắc lại với lời tán dương cụ là người đă biện hộ cho luật sư Nguyễn Hữu Thọ ở thời kỳ chống Pháp. Nhưng họ cũng không quên nhắc khéo cụ đừng có làm cao quá về lời mời tham gia vào Mặt Trận.. vậy mà cụ đă vô t́nh lặng lẽ ra đi chưa kịp có một lời giă biệt. Mới đây tờ báo điện tử Chuyển Luân, bên Úc đă cố ư nói không tốt về cụ gián tiếp cho rằng cụ và nhóm Trần Văn Lắm đă làm áp lực lên Thủ Tướng Vơ Văn Kiệt đưa đến cái chết của TT Thích Thiện Minh ở trong tù. Một cái chết c̣n rất nhiều nghi vấn. Nhưng đưa ra một giả thuyết vô bằng như vậy quả là không nên.

Xin nêu ra vài nhận xét của Hồ Ngọc Nhuận về cụ Huyền. Kể cũng trớ chêu thật, chỉ khác nhau một chữ đệm mà mỗi người xét đoán sự việc mỗi người mỗi khác. Hoàng Nguyên Nhuận, trên Chuyển Luân th́ nghi can cho cụ có trách nhiệm vào vụ thảm sát TT Thích Thiện Minh. C̣n Hồ Ngọc Nhuận th́ lại nghĩ rằng, cụ là một  trong những nhà chính trị hiếm hoi của VNCH là người đạo đức. Cụ cũng là người mà Cao Thị Quế Hương, một sv Phật tử tranh đấu hết ḷng bày tỏ sự biết ơn, v́ thời gian ở tù, cô vẫn được cụ tới viếng thăm và giúp đỡ. Hồ Ngọc Nhuận đă viết như thế này:’’ Không biết cụ lấy đâu ra từ trong con người ốm yếu của cụ cái chất giọng trầm, sắc, chắc, khoẻ, to và cái hơi dài như vậy. Hăy xem cảnh cụ Huyền điều khiển Thượng Viện dưới ng̣i bút của Hoàng Ngọc Nhuận:’ Như trên đă nói, tôi muốn nói ǵ cứ nói, tôi muốn đao to búa lớn với hành pháp thế nào cũng được, như trong vụ dân biểu Trần Ngọc Châu bị bắt và trong nhiểu vụ khác..Nhưng khi tôi vừa cất giọng hướng mũi tấn công về cụ Lương coi như đồng lơa của hành pháp..th́ nhanh như cắt, cụ Huyền chộp lấy cái búa gỗ.. Hẳn cụ chủ tịch TV cho rằng cụ chủ tịch Hạ Viện là khách danh dự của cụ, nên cụ phải bảo vệ, không để ai động đến. Nhưng tôi đâu nỡ để cho cụ ’búa’ mất sức lắm.. và cảnh vờn nhau thầm lặng không kém phần quyết liệt giữa một già, một trẻ như vậy tại Hội Trường không chỉ diễn ra một lần, khiến nhiều đồng viện để ư theo dơi cũng phải bật cười.

Sau gần 20 năm sống thầm lặng, cụ bỗng được mời vào Trung Ương MTTQVN. Là người sùng đạo, cụ Huyền cũng là người mực thước, đức độ và rất được cố TGM B́nh hết mực tin cậy. Cụ có người em gái là nữ tu ḍng kín. Đến lúc cuối đời, cụ vẫn sống khiêm tốn, giản dị, hàn vi trong ngôi nhà nhỏ ở gần góc Hồng Thập Tự- Bùi Chu, một phần nhà mặt tiền dành cho một người cháu hành nghề hớt tóc. Yếu nhiều, cụ nghỉ ngơi, làm việc ngay tại pḥng khách, cạnh giường luôn để sẵn cây gậy." 

Một thời gian sau, cụ Huyền lặng lẽ ra đi. Mà không *ai* hay.

Tôi nghĩ viết như thế là đủ, khỏi cần tranh căi với Hoàng Nguyên Nhuận.

 

Thứ ba, mồng 2-9-1975, Kỷ niệm ngày lễ Độc Lập.

Đây là buổi tập trung đông đảo người nhất kể từ 30 tháng tư. Buổi chiều có pháo bông. Tờ Giải Phóng cho biết có 10 triệu người tham dự buổi Mít tinh trên tổng số hơn 3 triệu dân thành phố.

Lại những con số ảo đến lố bịch. Có những con số làm phiền, có những con số ảo lố bịch và có những con số làm ta phát nản.

Cũng trong dịp này, thành phố Hà nội khánh thành khách sạn Thắng Lợi. Cũng là dịp để mừng 30 năm ngày tuyên bố Độc Lập. Khách sạn này là do tiền tài trợ giúp của  nước Cu Ba anh em cho Việt Nam. Vật liệu xây dựng từ bao xi măng đến cái nắm cửa, cho đến thày thợ đều chở từ Cu Ba sang. Ở vào thời kỳ đó th́ khách sạn Thắng Lợi là niềm tự hào của hai nước và chỉ dành cho các khách sang, các nhà ngoại giao từ ngoại quốc đến. Ở đây cũng là kho lương thực cho các nhân viên đại sứ quán có thẻ lương thực mà tiêu chuẩn là một nửa lít sữa cho ba người một ngày và nửa kí lô đường cho một người trong một tháng.

Tiêu chuẩn lương thực như thế cũng chả có ǵ là hấp dẩn, nhưng đối với một người VN b́nh thường th́ quả là không dễ mà có được.

So sánh khách sạn Thắng Lợi với khách sạn Thống Nhất, c̣n gọi là hotel Métropole cũ th́ cũng khác xa nhau một trời một vực. Ṭa Đại sứ Ư ưu tiên có được hai pḥng cho hai cố vấn ṭa Đại sứ với gia đ́nh họ ở khách sạn Thống Nhất. Toà đại sứ Irak th́ chỉ được một pḥng, vừa làm văn pḥng, vừa làm chỗ ăn ngủ cho 3 nhân viên sứ quán. Muốn có máy lạnh th́ nhân viên sứ quán phải tự mang máy lạnh đến và khi dời khỏi khách sạn th́ phải hứa tặng lại cho khách sạn.

Các nhân viên sứ quán th́ bị hạn chế di chuyển và chỉ có chuột là tự do đi lại trong khách sạn. Nhân viên sứ quán Úc Đại lợi nhận thấy nước máy quá dơ bẩn đă nghĩ ra được cách lọc nước máy đơn giản và hiệu quả. Buộc một chiếc bít tất vào ṿi nước. Vậy là xong.

Kỳ tết vừa rồi, tôi có dịp đi ngang qua khách sạn này. Nó chẳng c̣n như xưa nữa mà đi vào sự hoang phế chờ để được đập phá đi.

Tất cả đă thay đổi nhiều lắm.


Có tin bệnh viện Grall đóng cửa.

Bệnh viện tư duy nhất của người Pháp c̣n để lại. Phải đóng cửa, v́ thiếu thuốc men, mặc dầu có một số thùng thuốc được chở đến từ Singapore từ 22 tháng 7. Theo các bác sĩ trong bệnh viện, nhu cầu thuốc men cần cho bệnh viện lúc này là 20 tấn. Chuyện phải đến đă đến, mặc dầu Sàig̣n thiếu trầm trọng các bác sĩ, y tá cũng như thuốc men.

Tốt hơn hết trong lúc này là đừng có ốm đau ǵ cả.

Người ta có thể nhịn ăn, nhịn mặc, nhịn nói, tại sao lại không có thể nhịn ốm được nhỉ ?

 

Thứ sáu, 12 tháng 9-1975,  Hội nghị Hiệp Thương thống nhất tổ quốc

Phái đoàn gần 100 trí thức miền Nam ra thăm miền Bắc đi tham dự Hội Nghị Hiệp Thương Thống Nhất Tổ Quốc.

Trong phái đoàn đặc biệt có Ni sư Trưởng Huỳnh Liên, luôn luôn mặc áo toàn vàng nghệ, theo phái khất sĩ, đầu cạo láng coóng.  Thật chẳng giống ǵ với mấy sư ông miền Bắc toàn một mầu nâu, đầu quấn khăn. Bên cạnh theo phù tá là Nữ nghệ sĩ Kim Cương cũng láng coóng theo kiểu áo dài trong Nam..

Trong phái đoàn có một nhà báo kỳ cựu là ông Nam Đ́nh. Cho đến bây giờ, tôi vẫn  không hiểu được tại sao ông lại có mặt ở đây. Trước đây trong Hồi kư Nam Đ́nh, hồi kư làm báo của ông, ông đă cực lực lên án phe đệ tam đă giết hại những người của phe đệ tứ như Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu. Ông là một trong những nhà báo nổi tiếng có  một thư viện đồ sộ và những tài liệu quư báu ít ai có được. ( Xem thêm, nh́n lại sáu mươi năm tranh đấu cho Việt  Nam. Hồ sơ đệ tứ, tập 3. Nhóm  đệ tứ VN tại Pháp )

C̣n Chân Tín th́ trẻ con miền Bắc tưởng lầm là ông Liên Xô. Với vầng trán hói quá khổ và mái tóc dài thơa xuống ngang vai. Lúc đó, ông làm lớn lắm: Thứ nhất là Ủy viên Trung ương Mặt trận tổ quốc VN và phó chủ tịch Mặt trận thành phố. Mới đây, tôi gặp lại ông ở Sàig̣n th́ đầu tóc đă ngắn không c̣n dài như trước nữa. Chỉ ít lâu sau khi về lại thành phố th́ ông đă nói: Tôi được giải phóng rồi, nghĩa là mất tuột tất cả những chức vụ hữu danh vô thực trên. Lúc này th́ ông kêu gọi người *Cộng Sản phải xám hối*.

Ông bị cô lập và cuối cùng giam lỏng ở Cần Giờ. Những người bị giam tù thời VNCH như Huỳnh Tấn Mẫm, Nguyễn Huy Diễm hay Vơ Thị Bạch Tuyết, giám đốc Sở lao động thương binh và xă hội thành phố cũng thường rủ nhau tới thăm ông. Thăm như một trả ơn nghĩa lúc ông là sáng lập Ủy Ban đ̣i cải thiện chế độ lao tù tại miền Nam VN

Nguyễn Ngọc Lan th́ cân cả quần, cả áo mới nặng được 33 kí lô sau khi ăn cơm xong. Ông tham quan Hà nội, 1975 về viết bài trên tờ Đứng Dậy, trước hồi VNCH là tờ Đối Diện. Bài báo nhằm giới thiệu Hà nội một cách trung thực với nhan đề: Hànội tôi thế đó. Thế đó là thế nào. Nghĩa là nghèo xác xơ. Nói thế đâu có được. Nói thế là chửi xỏ xiên chế độ. Kết qua là Đứng Dạy đóng cửa và ít lâu sau, ông trở thành người đối lập chỉ trích nhà nước Cộng Sản trong: Những tin nhà.

Lại có  thêm Lư Chánh Trung, người nổi bật nhất trong phái đoàn, có thói quen ngậm ống vố rất là cao sang và tự hào. Ông kể cho tôi là đi đến đâu, từ chị lái đ̣ đến anh công nhân đều đă đọc bài viết của  giáo sư trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước. Như thế, tŕnh độ văn hóa của dân miền Bắc kể là cao hơn so với miền Nam. Nghe những truyện ông kể, tôi thật sự không vui. Tôi chỉ biết nói thế. Sau này mới đây gặp lại ông, h́nh như ông đă  bỏ thói quen ngậm ống tẩu. Ông chỉ c̣n giữ lại được nụ cười nhếch mép cố hữu từ thời tuổi trẻ. Cái c̣n lại duy nhất của đời ông lúc tuổi xế chiều.

Bà Ngô Bá Thành và Lư Quư Chung ( cả hai đều đă mản phần) đều coi đấy là một vinh dự hi hữu của cả một đời người. Riêng Lư Quư Chung, trong  Hồi kư không tên của ông cho hay, khi ba ông, ông Lư Quư Phát, bị đột quỵ và lúc tập nói được th́ câu đầu tiên  ba ông đă nói với ông như sau:* Tao không muốn gặp mày nữa, gia đ́nh mày đă ra thế này, cha mày đă ra thế này mà mày c̣n viết báo cho Cộng Sản, cha mày từ mày*.  Ông thú nhận là chưa bao giờ ba của ông đă nặng lời với ông như thế. Ông viết thêm về gia đ́nh ông: Cùng một lúc, tôi *mất* bảy đứa em vào lúc này người vượt biển coi như không có hy vọng gặp người ở lại.

Nhưng câu thú nhận đau ḷng nhất vẫn là: Sau 30 năm, tôi vẫn là « người khách đặc biệt », chưa bao giờ là một thành viên trọn vẹn của chế độ mới.

Sau đó th́ phái đoàn miền Nam được hướng dẫn đi tham quan một xă tiêu biểu là xă : Như Quỳnh, cách Hà nội 20 cây số trên đường đi Hải Pḥng, thuộc tỉnh Hưng Yên. Sau chuyến tham quan về th́ ông Hồ Ngọc Nhuận viết khác Nguyễn Ngọc Lan như thế này:* Nhưng ngày nay th́ đă hoàn toàn khác hẳn. Đồng bào nông thôn của ta ở miền Bắc đă thật sự được giải thoát khỏi áp bức bóc lột. Họ đă hoàn toàn làm chủ đời sống của họ, vận mệnh của họ và do đó thật sự là những người chủ đất nước. Chủ nghĩa xă hội là con đường tiến lên tất yếu.. Và chúng tôi nghĩ rằng, chúng tôi tin rằng Độc lập dân tộc và Thống nhất tổ quốc phải được gắn liền với chủ nghĩa xă hội.

Và sau 25 năm, chính ông Hồ Ngọc Nhuận đă viết lại như thế này:* Và tôi nữa, sau 25 năm, khi đọc lại chính ḿnh, tôi t́m thấy được bao nhiêu phần trăm của tôi hôm nay trong đó.. Trong những ǵ ḿnh viết, suy nghĩ, khẳng định năm xưa.

 

Sau người Pháp, chính quyền nay tính đến chuyện người Việt gốc Hoa.

Đây là bụi cỏ dại lớn nhất, rộng nhất, ảnh hưởng nhất đến nền kinh tế cần phải được nhổ.  Báo chí đồng loạt lên án, tố cáo nạn đầu cơ, tham nhũng. Thực phẩm khan hiếm, giá cả gia tăng đều là do bọn thương gia tích trữ, đầu cơ, tạo ra khan hiếm giả tạo nhờ đó lên giá làm giầu.

Đợt càn quét đầu, nhà nước đă bắt giam hơn 100 thương gia người Tầu có máu mặt trong thành phố nội trong hai ngày. Một quỹ của người Tàu đă quyên được 4 tỉ đồng trong một buổi họp bí mật tại một nhà thương gia trong Chợ Lớn..Người Tàu Chợ Lớn t́m cách phản công bằng cách nhờ cậy đàn anh là Trung Cộng can thiệp và tẩy chay Việt Nam. Đây cũng là đầu mối sau này có nạn đi bán chính thức và nhân cơ hội đó, nước Tàu lấy cớ  để gây hấn và để gây một thứ chiến tranh mới mệnh danh là cho "Việt Nam một bài học".

Đặng Tiểu B́nh đă nói với các nhà báo ở Bắc kinh như thế này :’’ Chúng tôi có thể dung thứ việc Liên Xô có 70% ảnh hưởng ở Việt Nam, miễn là 30% dành cho Trung Quốc.’’. Lần khác, Đặng Tiểu B́nh nói : Trung Quốc là NATO phương Đông, và Việt Nam là  Cuba phương đông

Bài học khá là nặng. 4 tỉnh phía Bắc VN bị phá hủy đến như b́nh địa. Nước uống bị nhiễm dộc. Trẻ con bị rạch mặt,  cắt tai cho nhớ đời đến 50 năm về sau.

Bài học dạy cho Việt Nam một bài học cũn làm cho các nước trong khối A.S.E.A.N như Thái Lan, Phi Luật Tân, Singapo lo ngại. Thái Lan trước đây lo ngại VN xâm chiếm, nay th́ có nỗi lo ngại lớn hơn: Nước Tàu.

Trước khi dạy cho VN một bài học, họ đă dùng đủ mọi biện pháp sức ép trên chính quyền Hà nội như:

-      Ngay từ 1975, cắt viện trợ không hoàn lại. Tất cả những công tŕnh xây dựng ở VN  gần như  ngưng lại.

-     Cắt vi𓀷n trợ và cắt sự giúp dỡ các trang thiết bị, tháng 6-1978

-      Rút Đại sứ Tầu về nuớc với lư do đau ốm. 1978

-      Yêu cầu VN đóng cửa các toà lănh sự tại Quảng Châu vv..

-      Trả về các sinh viên VN đang theo học tại nước Tàu.

-      Cắt đứt đường xe lửa giữa Việ Nam và nước Tàu vào ngày 22-12-1978

-      Sau này, 31-7-1978 ông Hua Kuo-Feng ủng hộ Cam pu chia:’’ Cuộc chiến đấu của các ông là chính đáng và cuối cùng các ông sẽ chiến thắng, chúng tôi ủng hộ các ông’’

Mối bang giao trở nên căng thẳng đến độ đi đến quyết định cho VN một bài học. Thật ra bài học này trở thành một bài học cho cả kẻ cho và kẻ nhận bài học.

Thảm họa đă không tránh được v́ người Tàu đă mang quân sang xâm chiếm nước ta vào sáng sớm ngày 17 tháng 2, 1979. Suốt dọc biên giới 1300 km, 20 vạn quân Tàu theo báo ngoại quốc và 60 vạn theo báo trong nước đă làm cỏ,  phá tan hoang bốn tỉnh biên giới là Cao Bằng, Lào Cay, Lạng Sơn và Móng Cáy. Ngay từ  24 giờ đầu tiên, quân Tàu đă xử dụng chiến thuật biển người. Ở chiến trường Lạng Sơn, đồng chí Lê Canh, ủy viên chính trị tỉnh cho biết: Chiến thuật biển người thật khủng khỉếp. Bộ đội ta đă bắn giết hết lớp người này đến lớp người khác hằng giờ đồng hồ. Cuối cùng th́ quân đội  ta phải rút lui.’’.

Chỉ hai tuần lễ sau của cuộc chiến, tức ngày 5-3, chính quyền VN ra lệnh tổng động viên: tất cả công dân từ 18-35 đối với phụ nữ, 18-45 dối với đàn ông đều phải sẵn sàng tham dự chiến đấu. Cụ thể là mỗi ngày phải dành hai giờ luyện tập quân sự. Cả một dân tộc sẵng sàng chiến đấu.

Và đến ngày 20 tháng ba, tờ Nhân Dân đă chạy một hàng tít lớn: Chiến thắng. Vâng, nhưng với biết bao hy sinh về người và tài sản. Cho đến nay, chưa ai biết rơ thiệt hại nhân mạng người VN là bao nhiêu.

Về phía người tàu th́ Đặng Tiểu B́nh vẫn c̣n cay cú v́ thất bại không dạy nổi cho VN  một bài học đă tuyên bố:’’ Chúng tôi biết rằng cuộc phản công tháng hai vừa qua vẫn chưa đủ để dạy cho VN một bài học. V́ vậy, một phản công mới trong t́nh trạng tự  bảo vệ ḿnh một cách chính đáng không phải là không có thể xảy ra và Đặng Tiểu B́nh kết luận: Chúng tôi dành cái quyền lại có thế bắt đầu.. Họ Đặng c̣n tuyên bố tiếp:’’ Quân đội của Bắc Kinh có thể tiến thẳng tới Hà nội’’ Nói cương vậy thôi. Trên thực tế, người Trung Quốc phải nh́n nhận đây là một cuộc thua trận về mặt quân sự. Không thể nói khác được.

Theo giáo sư Ph. Devillers, trong lúc mà chiến tranh VIệt Nam-Tàu đang ở lúc cao điểm là tháng giêng 1979, bộ ngoại giao chính phủ Tàu đă gửi ít nhất là cho 7 nước Âu Châu một kháng thư như sau:’’ Chúng tôi yêu cầu các ông chấm dứt mọi giúp dỡ cho VN. NướcTàu sẽ coi mọi sự giúp đỡ cho VN là một hành vi gây hấn và  sẽ gây ra những hậu quả ‘’.

Phải chăng, do áp lực của Tàu mà chính Phủ Carter của Mỹ đă thiếu hẳn một đường lối rơ rệt trong việc thiết lập lại bang giao với Việt Nam. Xin nhắc là Chính Phủ Carter đă có ư định thiết lập lại bang giao với Việt Nam vào mùa thu 1978, nghĩa là trước khi quân Tàu tràn sang xâm chiếm VN, sau đó đă bất thần băi bỏ mọi thương thuyết về vấn đề này. Mỹ đă chọn quyết định b́nh thường hoá với Trung Quốc và gác sang bên việc quan hệ b́nh thường với Việt Nam. V́ thế, trong khi gặp Carter ở Washington. Đặng Tiểu B́nh đă tỏ ư sẽ tiến công vào Việt Nam và không gặp phải phản ứng  bất lợi nào từ phía Mỹ. Và sau đó Mỹ đă đưa ra 6 biện pháp xử sự trong trường hợp Trung Quốc xâm lăng Việt Nam. Tuyền là nhựng biện pháp bất lợi cho Việt Nam như bất can thiệp, Việt Nam phải rút khỏi Campuchia, cuộc xung đột không đe dọa lợi ích của Mỹvv.. ( Hồi ức của ông Trần Quang Cơ, thứ trưởng ngoại giao chánh phủ CHXHCNVN).

Ông Phan Hiền đáp lễ lại:’’ Chúng tôi nghĩ rằng nước Tàu phải suy nghĩ lại hằng triệu lần trước khi quyết định tiến hành một cuộc gây hấn mới’’.

C̣n ông Vơ Văn Kiệt đă có lần than thở:’’ Ḿnh bị nó lừa nhiều quá. Tôi nghĩ Trung Quốc chuyên là cạm băy.

C̣n Ông Tô vốn người điềm đạm cũng đă phát biểu:’’ Ḿnh hớ, ḿnh dại rồi mà c̣n nói sự nghiệp cách mạng là trên hết, c̣n được hay không th́ không sao’’

Nhưng theo Alain-Roux trong cuốn Le casse-tête chinois, bộ chính trị Tàu đă phê phán nặng đường lối của Dặng Tiểu B́nh trong một buổi họp tự kiểm thảo vào ngày 14 tháng ba 1979. Nhưng thực tế th́ đường lối cứng rắn của ĐTB đối với VN vẫn được thi hành và thực hiện như người ta đă thấy sau này.

Nói cứng th́ như vậy, nói ngoại giao th́ như vậy. Nhưng thực tế Đại tướng Wu Hsiu-Chuan, Tham Mưu Trưởng của Tàu đă nh́n nhận chúng tôi đă gặp nhiều khó khăn trong việc đánh sang Việt Nam. Ông nói thêm, một trong những khó khăn đó là, chúng tôi cần những tin tức phóng ảnh  địa h́nh, địa lư chính xác hơn.

Không lạ ǵ sau này, chính phủ Tàu yêu cầu chính phủ Mỹ giúp đỡ  kỹ thuật để canh tân quân đội Tàu.

Phiá chính quyền Cộng Sản th́ chỉ rêu rao hai cuộc chiến thắng chống đế quốc Pháp và Mỹ.. Nhưng nể mặt, chưa bao giờ dám xác nhận là đă chiến thắng nước Tàu. Việc đó cũng chẳng khác ǵ cái lễ phải giữ của các vua chúa thời xưa. Tây Sơn, Nguyễn Huệ cũng đă vang lừng truy sát quân nhà Thanh, sau đó đă không quên cái lễ thần phục. Vẫn phải nể mặt.

Dù sao, những diễn tiến cuộc chiến tranh này cũng chỉ là câu truyện sau này để tư đó chúng ta rút ra nhũng bài học.

Cuộc bắt bớ truy lùng gian thương vẫn tiếp tục một cách quyết liệt và mạnh mẽ trong thành phố cũng như tại các tỉnh. Loa Phóng thanh, các đoàn thanh thiếu nhi quàng khăn đỏ đi ngoài đường với biểu ngữ, hô hào, đả đảo gian thương. Nhà nào có xe hơi, có tư máu mặt nay sợ xanh mắt. Trước cửa nhà tôi ở đường Nguyễn Huỳnh Đức, Phú Nhuận, có hai ông bà già mở một quán chạp phô trong một túp lều với mấy mái tôn che nắng. Ong bà cụ là người mua bán, cho mua chịu, có thể cho vay lăi cho các gia đ́nh nghèo túng trong các hẻm Nguyễn Huỳnh Đức. Căn nhà được canh gác ngày đêm, dở trần nhà, đào đất sàn nhà để t́m kiếm vàng. Chẳng hiểu kết quả ra sao? Phần gia đ́nh tôi sợ sanh máu mặt v́ ở đối diện nhà ông bà cụ, lại có phần khá giả hơn nhiều. Phúc tổ bảy mươi đời không sao cả. Chỉ lén lút mang xe hơi của người anh để lại đậu xa nhà. Vậy là xong. Một hai bữa sau,  chiếc xe đă bị làm thịt tanh banh, tách bách. Chỉ c̣n cái khung xe hơi.

Người ta cũng dựng lên một thứ toà án nhân dân đặc biệt để xử những con buôn đầu cơ, trục lợi. H́nh phạt có thể từ ba năm tù đến án tử h́nh cộng với tịch thu toàn bộ tài sản. Cuộc truy lùng bọn đầu cơ tích trữ này kéo dài măi đến tháng 6 năm 1976. Trong một vụ án vào tháng 6, năm 1976. Ṭa án nhân dân đă đem xử 6 thường dân và 6 cán bộ. Trong đó, một trong những người bọn họ bị kết án tù chung thân và tịch thu toàn bộ tài sản. Những người khác từ 8 đến 20 năm tù. Riêng 6 cán bộ th́ bị nhẹ hơn từ 6 tháng tới 15 năm tù..

Tiếp đến là các ông vua xuất cảng lúa gạo, vua thép, vua cà phê, vua vải vóc lần lượt bị bắt. Ở các tỉnh như Bạc Liêu đến lượt các vua nhà máy xay thóc. Có ông có đến 100 nhà máy xay lúa, ông khác cất dấu, nói một cách chính xác là 3740 hạt kim cương. Các ông vua con đó nay lần lượt rủ nhau vào tù. Từ vua vựa cá, vua xi măng, vua thép gai, vua  hải sản v.v..

Không lúc nào mà số phận mấy ông vua khổ sở như lúc này. Nhưng người ta cũng ngại nhấn mạnh đến tên các chú Ba Tàu, v́ ngại sự ḍm ngó của Bắc Kinh.

Các ngả đường vào Chợ lớn bị chặn để ngăn chặn tẩu thoát tài sản, vàng bạc châu báu và tiền bạc. Những rào cản đặt ở một số đường lục soát người ra vào. Quư kim và vàng bạc bị tịch thâu. Tiền bạc không được quá số 50 chục ngàn. Sau Chợ Lớn đến lượt Gia định vào những ngày sau đó.
 

Thứ hai 22 tháng 9-1975, một ngày không như mọi ngày.

Đây cũng là một ngày đáng ghi nhớ. Ngay chiều chủ nhật, người ta đă chờ đợi một thông cáo quan trọng vào lúc 10 giờ tối. Có lệnh giới nghiêm trên toàn thành phố. Bộ đội canh giữ khắp nơi. Thông cáo cuối cùng được dời đến 5 giờ sáng thứ hai.

Hóa ra có lệnh đổi tiền. Mỗi gia đ́nh được đổi tối đa 100.000 đồng. Một đồng tiền mới tương đương 500 đồng tiền cũ. Và chỉ được lănh trước 10 ngàn đồng. Số c̣n lại do nhà nước giữ lại. Để hiểu giá trị tiền mới th́ 100.000 đồng tương đương với số tiền 600 đồng quan Pháp hay hơn 100 đô la Mỹ.
Số tiền thật là nhỏ nhoi so với một gia đ́nh.

Gọi là bần cùng hóa nhân dân. Chữ dùng cũng không xa lắm.

Việc đổi tiền này áp dụng ngay cả đối với các cơ sở thương mại, các hăng xưởng và các ṭa đại sứ như Pháp. Toà đại sứ Pháp có số tiền là 50 triệu đồng cũng chỉ được đổi ra 500.000 đồng.

 

Tự nhiên, trong một ngày, cả nước trở thành trắng tay.

Giá cả ngay từ ngày chủ nhật tăng đến chóng mặt.
Giá một con gà nay là 15 ngàn. Một chiếc xe đạp đang từ 60 ngàn lên một triệu đồng. Một xe máy thành mười lăm triệu đồng. Việc đổi tiền trù liệu trong một ngày phải xong. Nó đă kéo dài đến thứ sáu.. Việc kéo dài này ra ngoài trù liệu của giới chức thẩm quyền, v́ nạn thiếu tiền mới. Họ không thể ngờ rằng nhà nào cũng đổi một trăm ngàn đồng cho mỗi hộ. Những hộ nghèo không có tiền th́ đă có hộ giầu dúi tiền cho để đổi dùm.

Việc đổi tiền này đă tạo ra một cú sốc, một sự oán hận không cách nào bào chữa được. Đây là đ̣n chí tử đánh vào giới tư bản, giới thương gia của chế độ cũ. Nhiều tin đồn nói có người này tự tử, người kia quyên sinh. Cũng có tin đồn là đám tàn quân trốn lánh tại núi Bà đen, Tây Ninh đă đánh cướp một xe bạc mới dùng để đổi tiền cho dân chúng. Người ta cũng nói tới một lá cờ nền xanh da trời, với ba gạch đỏ và một con rồng vẫn bay phất phới trên núi Bà đen. Chuyện chỉ nghe, chẳng biết đâu là thực hư. Chỉ là loại tin đồn.

Vợ tôi thường có thói quen cất dấu tiền chỗ này, chỗ kia. Chỉ sau khi đổi tiền t́nh cờ khám phá ra một gói tiền cũng khá lớn, chẳng nhớ là bao nhiêu ?

Không, nay nó không c̣n giá trị một đồng tiền nữa. Giá trị một mảnh giấy cũng không đáng nữa.

 

Chủ nhật 28 tháng 9-1975, hận quả sau vụ đổi tiền.

Việc đổi tiền đă bị dân chúng ca thán oán hận. Nhà nước qua tờ báo Tin sáng, số ra chủ nhật đă được chính quyền tỏ lời xin lỗi về những bất tiện gây ra cho người dân trong việc đổi tiền này. Lời xin lỗi đó đă chẳng có tác dụng ǵ, v́ ai cũng biết rằng, đây là cách bần cùng hóa mọi người, triệt tiêu tư hữu, triệt tiêu tư sản tư bản, mại bản.

Sau đợt đổi tiền quá tàn bạo vừa qua. Chính quyền h́nh như muốn tạm ngưng các vụ bắt bớ tư sản. Bí thư Lê Duẩn trong dịp này lại tới Bắc Kinh, chẳng hiểu v́ thế mà việc đánh tư sản, mại bản người Việt gốc Tầu có v́ thế giảm bớt đi chăng ?

 

Hậu quả đi kinh tế mới.

Sau cái nạn đổi tiền đến nạn đi kinh tế mới. Theo chính quyền th́ có khoảng ba trăm ngàn người đă dời bỏ thành phố để đi về các vùng kinh tế mới. Nhưng nhiều người cho biết là họ đi cho có, kư giấy tờ xong, lánh nạn ở nhà bà con. Ít lâu sau lại ṃ về.

Kế hoạch đi Kinh tế mới của chính quyền mới kể như hoàn toàn thất bại.

Sau này, hầu như không ai nhắc tới chuyện đi kinh tế mới nữa.

 

Thứ ba, 28 tháng 10-1975, tàu Việt Nam Thương Tín.

Đi mà lại ṃ về là chuyện lạ. Tàu VNTT trở về lại Việt Nam chở theo 1600 người hồi hương. Người ta không biết số  phận nào sẽ dành cho những người hồi hương này. Trước hết họ bị giam tập trung lại để điều tra lư lịch từng người.

Sau vụ đi học tập, đánh tư sản, đổi tiền và đi kinh tế mới. Đây là bốn vố nặng nhất đè nghiến trên người dân miền Nam.. Không nhà nào thoát ra khỏi bốn vố này.

Nhiều gia đ́nh tỏ ra tuyệt vọng với chế độ. Chế độ đă đẩy họ đến con đường cùng, đến ngơ cụt. Nhiều gia đ́nh, trong đó có gia đ́nh chúng tôi đă nghĩ đến chuyện phải trốn đi bằng đường biển. Không ai c̣n thiết tha nghĩ tới chuyện kéo dài thêm chuyện sống ở VN nữa.

 

Dấu hiệu chán nản và tuyệt vọng đă rơ rệt trong các buổi họp dân phố.

Người ta không c̣n muốn đi họp tổ, không c̣n muốn nghe phát biểu nữa. Và để phản đối bầy tỏ sự chán nản, bất măn của ḿnh mà không bị làm phiền hà, người dân có lối phản ứng của họ: cán bộ phường chưa nói hết câu th́ ở dưới bà con vỗ tay tràn lan không để cho cán bộ nói nữa. Cứ như thế mà các buổi họp tổ, khu xóm loăng dần. Người dân đâm chai ĺ, không c̣n biết sợ nữa. Nhiều thành phần dân chúng phát biểu lung tung chỗ công cộng chả c̣n ra thể thống ǵ nữa. Những lời châm chọc, chỉ trích, nói bóng gió đủ kiểu đủ cách đến cán bộ, bộ đội, chính quyền mới mỗi ngày mỗi công khai, mỗi ngày mỗi bạo dạn đến không c̣n kiêng nể ǵ nửa. Cán bộ, bộ đội có nghe thấy cũng giả điếc lảng đi chỗ khác.

Chính quyền với thêm nhiều tệ nạn do cán bộ gây ra đă hầu như không c̣n được dân chúng tín nhiệm nữa..

Cách đối phó của người dân đối với chính quyền là những câu thơ diễu cợt, những câu chuyện hài ước ác ư nhằm nói cho hả dạ..

Như thể mà nảy sinh ra một thứ văn chương truyền khẩu bôi đen chế độ bằng đủ h́nh thức.

 

Thứ năm, 30 tháng 10-1975:

Trên một chuyến bay đi Bang Cốc, có 14 người từng bị bắt cầm tù sau 30 tháng tư. Trong đó có 9 người Mỹ, hai Gia Nă Đại, hai Phi Luật Tân và một Úc Đại Lợi. Họ là người ngoại quốc th́ trước sau ǵ cũng phải để họ ra đi thôi.


Đầu tháng 11-1975, một vài vấn đề tôn giáo như Phật giáo, TCG đối với chính quyền Cộng Sản:

Trước hết, xin rảo qua vài ḍng về hiện t́nh PG VN trước và sau 1975. Sau biến cố Phật giáo 1963, người ta có nhiều hy vọng Phật giáo đang trở ḿnh, dần dần hiện đại hoá, có được những ảnh hưởng trên giới Phật tử về phạm vi tôn giáo và trên lănh vực văn hoá, xă hội và chính trị đối  với chính quyền. Tham vọng một giải pháp Phật Giáo và dân tộc không phải là không có. Ấy là chưa nói tham vọng đó có nên hay không, bới v́ tham vọng thế quyền bao giờ cũng đi ngượi lại yếu tính của bất cứ tôn giáo nào.

Trước mắt, để có được những ảnh hưởng trên, giới Phật Giáo cần tăng cường đội ngũ trí thức PG trong hàng tăng sinh. Theo bản tường tŕnh của Hội tài trợ Á Châu vào năm 1965, trong con số 20 chục ngàn tăng ni ở VN th́ chưa đầy 20 người có đi du học ở nước ngoài trong đó phải kể luôn 12 người đang đi du học. Trong nước th́ có khoảng 30 người có bằng cử nhân. Những con số trên cho thấy giới trí thức Phật giáo không đáng kể và c̣n thiếu nhiều lắm. Phẩm chất cũng chưa dạt đủ.

V́ thế, giáo sư Như Hạnh, giáo sư đại học Harvard đă có những nhận xét thẳng thừng hơn khi cho rằng ngay cả các thày như Thích Minh Châu cũng không thông hiểu đủ về Phật giáo. Chúng tôi ghi nhận lại với sự dè dặt.

Cũng theo Như hạnh th́ không có bao nhiêu hiểu biết về Phật giáo VN v́ thiếu tài liệu, thiếu văn bản Phật giáo như trong bài viết của ông : Vài ghi chú về Tâm Kinh Bát Nhă hay truyền thống Phật giáo VN. Về điều này, Hà Văn Tấn cũng đă nh́n nhận trong bài viết :’’ Vấn đề văn bản trong các tác phẩm văn học của Phật giáo, tạp chí Văn học, viện văn học Hà nội, số 4, 1993. Ngay như tài liệu về Thiền Tông VN với bộ VNPG sử luận của Nguyễn Lang, tức Nhất Hạnh đă được nhiều người ca tụng cũng đầy những thiếu xót. Thiếu xót thứ nhất là thiền sư Nhất Hạnh đă bóp méo lịch sử Phật giáo thành lịch sử Thiền tông. Thứ hai là đă vay mượn thuật ngữ Phật giáo một cách bừa băi, b́nh dân hoá Thiền dưới. Thày Tuệ Sĩ cũng nhận xét không khác xa lắm :’’Đọc kinh bây giờ ít thịnh hành hơn, c̣n học Thiền th́ lại rất rầm rộ. Cái tệ hại của nó, quả thật, là những kẻ quê mùa dốt nát này, sau khi thăm viếng các Thiền viện và nghe các thiền sư giảng pháp, họ thích thú quá cỡ, và ít chịu suy nghĩ về tinh thần của giáo thuyết, tự cho ḿnh là những bậc thầy, không những đă khinh miệt cỡ đức mà c̣n coi nhẹ kinh điển và nội dung của kinh điển với những phát ngôn bừa băi của họ. Quần chúng ngây ngô bị lừa dối và những bậc trọng vọng, nhưng vốn ít học, lại vui thích với những lời rỗng tuếch của các môn đệ Thiền ‘’ Phần tôi chỉ nêu ra mà chẳng dám có lạm bàn. Thày Minh Châu cũng là một bậc trưởng thượng. Ông Như hạnh là người mà tôi có đọc một số bài viết về Phật học th́ cũng là người có chuyên sâu.

Nhưng người Mỹ hơn ai hết đă nh́n nhận ra điều này và trong một bản tường tŕnh mật nêu mục đích rơ việc tài trợ cho Phật giáo :’’ Phật giáo đả đảm nhận một vai tṛ xă hội và chính trị. Có thể biến Phật giáo thành một lực lượng ưu thế xă hội trong ṿng một vài năm. Tài trợ chủ yếu nhằm mục đích đào tạo giới lănh đạo Phật giáo, tài trợ những tăng ni trẻ tuổi khá nhất.. Họ sẽ trở thành những người diễn giải chính yếu của Hoa Kỳ và chính sách của Hoa Kỳ cho Phật giáo.’’( Tài liệu của hội đại diện Mỹ của hội Quakers là Michael và Diane Janes đă trao cho THSV Sàig̣n, 1974)

Sau 75, những dự định của Mỹ và Phật giáo về hiện đại hoá đạo Phật đă tan thành mây khói khi người CS vào miền Nam. Và trước đó, ngay trong nội bộ Phật Giáo đă có sự chia rẽ trầm trọng đến độ có thể thanh toán nhau như trong  bạch thư của TT Tâm Châu đề ngày 31-12-1993.

Sau này, dựa vào tài liệu của đảng Cộng Sản, Lữ Phơng một lần nữa cho thấy có sự hợp tác giữa Phật Giáo và đường lối chính sách của Mỹ như sau trong sách :’’ Cuộc xâm lăng về văn hoá và tư tưởng của đế quốc Mỹ tại miền Nam VN’’. Nxb Văn Hóa, Hà nội, 1981.

Lữ Phương đă vạch ra kế hoạch tài trợ, việc gửi tu sĩ Phật giáo đi du học về giáo dục, y tế xă hội. Những dữ kiện mà Lữ Phương đưa ra đều dựa trên tài liệu của quỹ tài trợ Châu Á.( chương tŕnh phát triển Phật giáo ở VN, tài liệu mật của đại diện VN gửi Giám đốc tổ chức này, trang 228, sách dẫn trên). Những người trong giới tu sĩ hay không phải tu sĩ, nếu đă dược chọn th́ theo « chế độ du học đi thẳng », nghĩa là chỉ qua Hội đồng du học của Bộ Giáo dục để làm thủ tục giấy tờ  hành chánh mà Hội Đồng này không có quyền quyết định chọn lựa ai đi, ai không đi.  Về điểm này, tôi có người bạn có chức vụ trong Hội Đồng du học xác nhận là có như vậy.

Sau này, những trí thức Phật giáo này trở thành niềm hănh diện và một niềm hy vọng cho Phật giáo. Nếu  trong tương lai, Viện Đại Học Vạn Hạnh được mở lại th́ ta sẽ có đủ các giáo sư có tŕnh độ để đảm đương công việc này.

Rất tiếc là sau 1975, tất cả kế hoạch chủ trương trên đă tan ră trở thành mây khói như bất cứ những chương tŕnh nào khác thời trước 1975.

Trở lại sự nứt rạn mà TT Tâm Châu nhắc tới trong Bạch thư th́ vào những năm 1972, nhóm các thượng tọa Thiện Minh và Thích Huyền Quang đă muốn tách ra khỏi chùa những nhóm tranh đấu. V́ thế, cuối năm 1973, Thượng Tọa Thích Thiện Minh và Thích Huyền Quang đă bị các nhóm tranh đấu loại ra đến phải từ chức. Sau ngày giải phóng, Giáo hội Ấn Quang , cũng như Thiên Chúa giáo, đă bắt buộc chuyển cho nhà nước toàn bộ các trường học cũng như các cơ sở xă hội, các nhà nuôi trẻ mồ côi. Thượng Tọa Thích trí Thủ đă hoàn toàn tán đồng chủ trương đó. Nhưng các Thượng Tọa Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ phản đối việc trao trả các nhà nuôi trẻ mồ côi. Mối liên lạc hai bên, chính quyền và nhà chùa thêm tồi tệ đi đến chỗ đối đầu, phản đối. Có việc bắt bớ một số nhà sư. Trong số 4000 chùa rải rác trong toàn miền Nam, người ta c̣n thấy sự giảm sút rơ rệt về số sư săi, từ 3 chục ngàn xuống c̣n 10.000 người. ( toàn bộ sư săi ở ngoài Bắc phỏng chừng 4000 người. Con số đưa ra không có ǵ là thực chứng cả ).

Theo một bài viết của ông Huỳnh Kim Quang:’’ Giáo Hội Phật giáo VN thống nhất, bốn mươi năm hành hoạt’’. Đừng kể sự thống nhất đă có mặt kể từ đời Đinh với Khuông Việt làm Tăng Thống đầu tiên theo Lê Mạnh Thát. Hăy cứ kể từ 31-12-1963, tại chùa Xá Lợi, trong 5 ngày đă thông qua bản Hiến chương và thành lập GHPGVNTN.

Ư nghĩa thống nhất đó đă được minh thị rơ ràng như sau:’’Quan niệm thống nhất Phật giáo Việt Nam được thể hiện theo chủ trương điều hợp, nghĩa là giáo lư, giới luật và nếp sống của các tông phái cũng như của hai giới  Tăng Sĩ và Cư sĩ, chẳng những được tôn trọng mà c̣n phải nỗ lực phát triển trong sự kết hợp có chỉ đạo.’’.

Xin để các giới chức thẩm quyền Phật giáo giải quyết những nan đề này.

Nhưng tôi có một điều thâm tín rằng: Tổ chức nào bất kể, tôn giáo nào bất kể, ở thời kỳ nào bất kể, ở đâu bất kể, hễ có bàn tay của chính quyền CS dính vào, cầm chịch ở nơi đó là có điều chẳng lành. Người nào bênh vực quan điểm thế quyền của tôn giáo, với sự chi phối ( ingérence), ngay dù chỉ là tài trợ vật chất, đă không hiểu rằng, yếu tính của tôn giáo là là Siêu Vượt. Ở trong trần thế mà để thoát ra khỏi trần thế.  Cái mạnh trần thế với quyền lực, với đủ thứ kềnh càng vật chất, thay v́ chỉ là phương tiện như cái thuyền chỉ để qua sông. Nay thuyền là chính, qua sông là phụ. Ấy là chỗ yếu, cái sa đà của tôn giáo vậy.

Theo tài liệu trong bài viết của C. Bonjean, le point, 25 tháng tư, 1977: La résistance vient des pagodes ( sự chống đối đến từ các chùa). Tài liệu tiết lộ cho thấy có một số nhà sư chống đối chính quyền bẳng cách tuyên truyền, chống báng nhà nước, ngăn cản phật tử tham dự các buổi họp phường khóm, chống đối việc chuyển giao các cô nhi viện. Thậm chí tung tiền giả, truyền đơn đủ loại và cả vũ khí nữa, ngay cả giết các viên chức chính quyền như ở Trảng Bom v.v…

Trong một kháng thư của Viện Hoá Đạo gửi cho Thủ Tướng Phạm Văn Đồng ngày 9-2-1977,  Ḥa Thượng Thích Trí Thủ, Viện Trưởng Viện Hóa Đạo đă liệt kê danh sách 19 Tăng Sĩ trên khắp các tỉnh miền Nam đă bị chính quyển CS bắt giữ mà không có lư do chính đáng. Đặc biệt có các TT Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ, Thích Thuyền Ân, Thích Thông Bửu, Thích Thông Huệ, Thích Thanh Thể.

Tôi nghĩ rằng danh sách các nhà sư bị tù đầy phải nhiều hơn thế nữa. Chỉ v́ thiếu thông tin liên lạc mà thôi. Chẳng hạn, tôi không thấy một đại đức tuyên úy Phật giáo nào trong danh sách những người bị đi tù. Họ là những  người đầu tiên bị đi học tạp cải tạo.

Về phía TCG th́ danh sách có vẻ đầy đủ hơn. Có cả thảy 303 linh mục, trong đó 109 là tuyên úy quân đội bị đi tù. Các tuyên úy quân đội sau 10, 15 năm được thả về, họ không có quyền công dân và bị cấm làm mục vụ.

Trong khi đó, tôi cũng rất lấy làm ngạc nhiên là  kư giả Alain Ruscio trong cuốn sách của ông ta Vivre au Viet Nam cho rằng theo TT Thích Trí Thủ th́ Phật giáo VN hoàn toàn tự do truyền đạo và hành đạo.

Trong một bài phỏng vấn trả lời cho đài TF 1, truyền đi ngày 11 tháng 5, 1987 sau này, Thượng Tọa Thích Minh Châu, cựu viện trưởng viện đại học Vạn Hạnh, nhân danh nhóm Ấn Quang cho rằng ở Việt Nam hoàn toàn có tự do theo đạo, và rằng những nhà sư bị bắt là do những hành vi cá nhân của họ, không có liên quan ǵ đến tôn giáo.

Giải thích về lư do số nam tu sĩ Phật giáo giảm đi th́ được cắt nghĩa rằng một số bọn họ trước đây đi tu chỉ là để trốn quân dịch. Có đến 2 chục ngàn người đă trốn quân dịch như thế trong các chùa.  Bằng chứng là số nữ tu sĩ vẫn không giảm.

Dù giải thích thế nào th́ việc đào luyện và tuyển chọn ở các chùa cần được xét lại, v́ t́nh trạng tuyển chọn tùy tiện, thiếu phương tiện đào tạo có thể tạo ra một số tăng ni không đủ tŕnh độ về mọi mặt.

Cho đến hiện nay, tôi đă hỏi ư kiến một vị Thượng Tọa trách nhiệm đào tạo tăng sinh ở một Phật học viện, Vị TT cho biết quả thực có hiện tượng một số tăng ni ở các vùng quê đă gia nhập các tu viện với mục đích chỉ v́  những lư do kinh tế. Điều đó cũng xảy ra tương tự cho các tu tập bên TCG. Tôi đă hỏi một LM bề trên làm thế nào ngăn chặn t́nh trạng các tu sinh từ các vùng quê nghèo khổ vào tu viện. Vị LM cho rằng, việc tu tập kéo dài 6, 7 năm. Thời gian sẽ giúp nhận ra ai là người có thiện chí tu tập, ai không.

Mong là có những chọn lọc trong sáng để tránh t́nh trạng trong hàng ngũ tu tŕ có những người thiếu phẩm chất.

Dù sao, đây vẫn là một cảnh báo thường trực. Chưa kể, người của chính quyền có thể gia nhập các tu hội, giả làm tu sĩ và gây rối, phá nát từ bên trong.

Cách giải thích của TT Thích Minh Châu có điều không đúng hẳn như vậy. Bên TCG, kể từ sau 1975, việc truyền chức lm của TCG bị suy giảm đến tŕ trệ. Theo báo Công giáo và Dân tộc, số 747, ngày 11-3-1990. Năm 1963-64. có 21 lm được truyền chức. Cao điểm năm 1968-1969 có 61 lm. Năm 74-75 chỉ c̣n có 22. Nhưng kể từ 1975 đến 1990,  trong suốt 15 năm, chỉ có 23 tân lm. Trung b́nh một năm có hơn một người được truyền chức lm.

Sự suy giảm trầm trọng như thế ở phiá giáo hội TCG có thể áp dụng tương tự cho phía Phật giáo được không.

Phiá Phật giáo c̣n có một vấn nạn trầm kha là có sự chia rẽ giữa những nhà sư theo GHPGVN và những nhà sư theo GHPGVNTN cho măi đến nay vẫn chưa có cơ hội ḥa giải được. Nhà nước CS đă lợi dụng kẽ hở về tổ chức của GHPG và tạo thêm những rắc rối giữa hai bên nhằm thủ lợi, dùng những thủ đọan vật chất tiền bạc, ngay cả nữ giới để mua chuộc. Rơ ràng là có bàn tay của chính quyền trong sự chia rẽ này.

Trong kỳ Đại Hội Phật giáo VN toàn quốc diễn ra từ ngày 19 đến 23-11, 1998 đă thành công tốt đẹp. 47 tỉnh thành đă tiến hành bầu cử Đại hội Phật giáo ở các tỉnh. Đài BBC, 22-11, đưa tin về Đại Hội này đă lưu ư rằng chính tại Đại Hội này, một lần nữa Hoà Thượng Thích Minh Châu đă lên án một số phần tử lợi dụng Phật giáo để tạo các ảnh hưởng tiêu cực và phá hoại đất nước. Những phần tử này đă và đang bị cô lập’’.

Về phiá TCG giáo: Chính quyền cũng muốn cài nhóm tứ nhân bang  như nói ở trên Và  cho đến năm 1977-1988, người ta thấy có tên mấy LM sau đây cộng tác với chính quyền mới: Nguyễn Đắc Cầu, Lư Quư Phụng, Nguyển Hữu Thanh, Trần Quảng Nghiêm, Lê Ngọc Triệu, Nguyễn Văn Triều, Trần Văn Kim, Mai Đức Long và Phạm Trung Kiên.

Những tu sĩ này bị chỉ mặt, bị cách ly đến độ không được nh́n nhận trong cộng đoàn TCG nữa. Họ trở thành những thứ lm quốc doanh và chỉ với hai chữ đó thôi, họ không  làm được tṛ trống ǵ nữa.

Có hai thái độ của các vị lănh đạo TCG tiêu biểu là Hà nội và Sàig̣n : Ở Sàig̣n và toàn miiền Nam, TGM Nguyễn văn B́nh chọn thái độ hợp tác với chính quyền mới. Sau 1975, toàn bộ hàng giáo phẩm lănh đạo là các giám mục đều chọn ở lại, thay v́ di tản. Điều này khác biệt hẳn với cuộc di cư năm 1954. Trong cuộc di cư năm 1955, có 5 vị Giám Mục và 700 linh mục đi theo giáo dân trong cuộc di cư này.

Ngay từ ngày 19-4-1975, đă có một tuyên ngôn về vấn đề di cư ra nước ngoài, mang 102 chữ kư, ( đợt 1) của nhiều thành phần như linh mục, tu sĩ nam nữ, dân biểu, giáo sư, cán sự xă hội, sinh viên, viên chức, lao động, y tá, nội trợ, thành viên hội đồng giáo xứ, phế binh.. Họ bầy tỏ lo ngại về ư dồ của Mỹ, muốn lập lại phong trào di cư năm 1954. Họ tán đồng thông cáo của TGM Sàig̣n kêu gọi đồng bào TCG không di tản.’’ Chúng tôi xác tín rằng dầu bất cứ việc ǵ xảy ra, chúng tôi sẽ ở lại quê hương để góp phần nhỏ mọn của ḿnh vào việc ḥa giải dân tộc’’.

Trong khi đó tại Hà nội, TGM Khuê vẫn giữ khoảng cách trong tinh thần bất hợp tác. Cho măi đến 16 tháng 08- 1975, ṭa GM Hà nội mới ra một thông cáo mà nội dung hoàn toàn có tính cách đạo giáo, không có nhắc nhở ǵ đến biến cố 30 tháng tư. Sau đó, bản thông cáo để cho một LM thư kư đại diện kư tên là cha Trần văn Mai.

Nên nhớ rằng giáo hội thầm lặng sau bức màn sắt bị nhiều kiểm soát, giới hạn đủ thứ. Người ta chưa quên được những giám mục *chui* ở miền Bắc. Cha Đaminh Đinh Đức Trụ, được ṭa thánh cử làm giám quản giáo phận Thái B́nh, 1955. 5 năm sau được phong giám mục 1960. Ông phải giả làm phu xích lô đạp, đến toà GM Hà nội để được GM Trịnh Như Khuê tấn phong chui, sau đó ông lại sang Bùi Chu tấn phong chui cho GM Phạm Năng Tĩnh. Giám mục Phê rô Phạm Tần, được phong gm năm 1960, nhưng 21 năm sau, ngày 26-6-1975 mới chính thức được thụ phong gm. Giám mục Phạm Văn Dụ được chính thức phong gm năm 1960, tại Lạng Sơn, nhưng măi đến năm 1979, do quân Tàu lấn chiếm sang VN, bắt buộc chạy về Hà nội và bị kẹt lại Hà nội cho đến 1990 mới được quay trở lại Lạng Sơn, nghĩa là sau 31 năm ẩn dật.

Trong Hồi kư Tôi phải sống, lm Lể kể lại có đi dạo với Hồng y Trịnh Văn Căn trên sân thượng, ông Hồng y có chỉ cho ông thấy một đường h́nh quả trám khổng lồ trên sân thượng như có ai mài rửa, chà sát trên đó. Và cho biết đó là dấu tích vết chân của Hồng Y Trịnh Như Khuê, trong suốt 20 năm bị quản chế, ngài đă chỉ đi bách bộ trên sân thượng này. V́ đi bộ nhiều năm nên những bước đi của Ngài đă tạo thành đường ṃn h́nh quả trám như vậy. Nghe câu truyện này, tôi quá thương cho hoàn cảnh Đức Hồng Y tiên khởi của Việt Nam và cho Giáo Hội miền Bắc lúc bấy giờ.

Cho măi đến năm 1974, sau 20 năm, giám mục phó Trịnh Văn Căn mới được phép sang Rôma họp Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới. 20 năm bị trói, bị bưng bít, bị kiềm chế đối với thế giới bên ngoài.

Hiểu hoàn cảnh giáo hội miển Bắc trong bối cảnh đó. Sẽ hiểu được cách ứng xử của lănh đạo tôn giáo hai miền.

Và sau đây xin tóm lược hoàn cảnh của hai giáo hội Phật giáo và TCG về bức tranh tôn giáo trên đất Bắc như biểu tượng. Ông Đỗ Trung Hiếu, một cán bộ tôn giáo cao cấp của chính quyền Cộng Sản đă vẽ lại như sau:’’ Hầu hết chùa, nhà thờ ở miền Bắc mà tôi đến thăm đều rêu phong tàn tạ. Các nhà sư lẩm cẩm sợ sệt, một bá cáo cụ, hai bá cáo cụ. Các linh mục, giám mục đóng kín cửa lạc hậu với thời cuộc. Phật giáo gần như không c̣n ǵ nữa, chỉ ẩn hiện dưới dạng mê tín, cúng bái linh tinh và rất e dè trước khách lạ. Tín đồ Thiên Chúa giáo th́ khổ cực, hằn sâu trong mắt họ những nét u uất thâm-nghiêm, nhưng rực lửa và sẵng sàng bốc cháy khi có mồi…( Đỗ Trung Hiếu: Thống nhất Phật giáo, trong hồ sơ : Hồ sơ Phật giáo thống nhất- Thống nhất Phật giáo).

Những nhận xét của ông Đỗ Trung Hiếu thật sự không xa với thực tế bên ngoài. Nó là vậy đấy.  Cứ ra Hà nội  sẽ thấy điều đó là thật.

Và sau cùng đây là danh sách những vị đă  lên tiếng cho tự do tôn giáo xếp theo thứ tự A, B, C như sau, đặc biệt lưu ư không có trong danh sách TT Trí Siêu, người từng bị kết án tử h́nh với Tuệ Sĩ. Danh sách này do ông Nguyễn Chính Kết thực hiện ở trong nước, tôi chỉ xin chép lại.

Gm Nguyễn Kim Điền. Hoà thượng Thích Quảng Độ. Lm Nguyễn Hữu Giải. Ḥa thượng Thích Thiện Hạnh. Giáo sĩ Trương Chí Hiền. Thượng tọa Thích Chân Hỷ, Ông Nguyễn Chính Kết. Gs Nguyễn Ngọc Lan. Ông Lê Quang Liêm. Lm Phan Văn Lợi. Lm Nguyễn Văn Lư. TT Thích Thiện Minh. Mục sư Phạm Đ́nh Nhẫn. Ḥa thượng Thích Huyền Quang. Mục sư Nguyễn Hồng Quang. Thượng tọa Thích Tuệ Sĩ. Thượng tọa Thích Không Tánh. Lm Chân Tín vv và cuối cùng có cụ bà Nguyễn Thị Thu của Phật giáo Hoà Hảo đă tự thiêu để phản đối chính sách đàn áp tôn giáo của chính quyền CS….

 

15-1-1976, bức tượng Thương Tiếc không c̣n thương tiếc nữa..

Thêm một ngày, thêm một tuần, thêm một tháng... Có điều ǵ thay đổi không ? Có, vẫn có. Người ta xác nhận với nhau rằng: Bức tượng Thương tiếc ghi lại h́nh ảnh một người lính VNCH trầm ưu giữa 16 ngàn người lính tử trận, trên một ngọn đồi nay đă bị giật xập. Đây là một tin làm buồn ḷng rất nhiều người. Bức tượng đó biểu tượng cho những cái chết đủ kiểu trong một cuộc chiến. Đối với người chết, không có kẻ thắng người bại. Trong một nghĩa trang quân đội, cái chết đều b́nh đẳng đối với mọi người, không c̣n biên giới của thù nghịch, không c̣n phân biệt niềm kiêu hănh hay sự tủi hổ. Rơ ràng chỉ c̣n một thứ t́nh cảm thương tiếc, nhớ thương. Họ, những người lính, những đứa con đó không bao giờ trở về. Nhất là đối với những bà mẹ, người chị, người em gái, người vợ, những đứa con thơ. Đối với người vợ hay người mẹ tử sĩ, không có lư tưởng tốt hay xấu, không có lằn ranh thù địch mà chỉ có người chồng, người con đă mất. Nhất là bức tượng Thương Tiếc nay đă đi vào huyền thoại của t́nh nhớ thương, biến bức tượng trở thành linh thiêng sống dộng và  gần gũi.

Chỉ có điều đó là đáng kể. Ta đă lấy đi sự sống của chồng con họ, nỡ nào dập tắt một chút t́nh cảm nhớ thương Từ nay, họ không có chỗ đễ thăm hỏi người đă mất. Chẳng bao lâu, có thể nghĩa trang sẽ được san bằng và ta sẽ xây cái ǵ trên mảnh đất đó ? Hận thù Chăng ? Cố t́nh xóa bỏ để quên, v́ tự nó biết quên đă là một điều thắng lợi ? Như Jules Roy viết sau trận chiến Điện Biên Phủ:’’ Đối với một bà mẹ, không có lư tưởng tốt xấu, mà chỉ có những đứa con đă mất. Ở đây, trước những ngôi mộ phần, cái biên giới thù nghịch không c̣n, sự kiêu hănh cũng như cay đắng không c̣n, có chăng chỉ c̣n là niềm thương nhớ của một người đối với một người đă khuất’’

Xin ghi lại đây về lịch sử bức tuợng ‘’Thương tiếc’’ do kư giả Lô Răng viết:’’ Anh ngồi đó một ḿnh, sau lưng là bao nhiêu người đă chết. Chiếc mũ sắt lỏng dây quai, súng nằm nghiêng một bên, dáng ngậm ngùi, mắt ngó mông về khoảng trước mặt. Anh đang thương tiếc ai. Bao nhiêu đồng đội vừa nằm xuống, những dăy mộ chí dài dằng dặc sau lưng anh biết bao giờ chấm dứt. Hay anh đang tiếc cho sức xuân của dân tộc đang chết dần đi trong cuộc chiến này. Pho tượng như có mang chứa linh hồn của người đă chết ở trên khắp mọi miền đất nước nên thiêng lắm. Người ta đồn rằng có những lúc trời chạng vạng tối, âm dương hỗn độn, người lính từ trên cao đi xuống ngồi bên vệ đường. Hoặc những lúc đêm khuya trăng lạnh, có tiếng hát thê lương từ bức tượng bay đi’’.

Vậy mà nỡ ḷng nào dẹp bỏ đi. Bức tượng đă bị giật xập, đầu người lính chúi mũi xuống đất và cứ nằm ở vị thế  tủi nhục như thế ngót nghét khoảng hai tháng trời. Sau đó được kéo về Dĩ An, Biên Ḥa. Nơi đây, người ta đúc để lấy đồng đem bán. Hồn linh thiêng của gần 2 chục ngàn chiến sĩ theo những miếng đồng đó phát tán đi khắp nơi, tha phương cầu thực. Bây giờ có hối tiếc cũng không kịp. Có đắp bức tượng khác y như cũ cũng không được. Bởi v́ bức tượng mang chứa linh hồn của người đă chết nên thiêng lắm. Cái hồn của bức tượng không c̣n nữa, phiêu diêu nơi nào, trôi dạt nơi đâu. Làm sao thay thế được ?

Thiêng lắm nên không có cái ǵ có thể thay thế được. Phải nói lại một lần nữa. Cho dù sau này có dựng lên một bức tượng Thương Tiếc khác cũng vô ích. Dựng ở đâu cũng thế thôi. Chả có ư nghĩa ǵ, v́ nó thiếu cái linh hồn của gần 2 chục ngàn người lính đă nằm xuống nhập vào bức tượng. Bức tượng không phải chỉ là dồng, là sắt, là xi măng nữa. Nhưng là vong linh của những người lính VNCH.

Trong trí nhớ nhỏ nhoi, trong tâm địa nhỏ nhoi muốn quét sạch quá khứ, kỷ niệm, tâm t́nh người miền Nam, ta trông chờ được ǵ nơi họ. V́ thế, bài viết này là một cuộc hành tŕnh đi lại dĩ văng, bằng cách chống lại sự quên lăng, mong mỏi mọi người nhớ lại. Hăy nhớ và đừng quên.

 

Tết đầu tiên, sau Ngày Giải Phóng. Thứ bảy 31-1-1976

Tết năm nay lặng lẽ khác thường. Thiếu hẳn cái nhộn nhịn, xôn xao, nôn nóng đón tết. Đúng ra là thiếu không khí tết. Mọi người  như gượng gạo vui, gượng gạo cười. Tôi có nuôi một đàn gà vài chục con nay vừa biếu tết các anh, các chị hai bên, vừa để nhà dùng.

Xe cộ ngoài đường cũng thưa vắng. Nay th́  phương tiện chính là xe dạp. Cũng không có  nhiều tiếng pháo nổ.

Thay vào đó, khoảng 1 giờ, 1 giờ 30, một chuỗi tiếng nổ lớn làm dân thành phố tự nhiên vui mừng. Cứ mỗi lần có tiếng nổ là ngưởi ta lại nuôi hy vọng. Nếu lên sân thượng sẽ nh́n thấy những cột khói den bốc lên từ hướng Biên Ḥa. Nhiều người cho rằng kho đạn Long B́nh bị đốt cháy. Kết quả là trong dịp đầu năm có 180 người chết v́ các vụ nổ và 200 người bị thương.

Tất cả cũng chỉ là phỏng đoán. Nhưng sau này, tôi hỏi những người bị giam ở trại cô nhi Long Thành vào thời điểm này.. Không thấy có kho đạn nào bị nổ cả.

Tôi cũng được nghe kể, một số lớn viên chức chính quyền cũ từ giám đốc trở lên bị giam giữ ở đây. Trong những buổi học tập, người duy nhất có can đảm đứng lên phát biểu là luật sư Trần Văn Tuyên. Nhưng thường người ta kéo ông ngồi xuống. Sau này ông bị đưa ra Bắc và chết trong tù.

Trong giai đọan này, có hai khuynh hướng khác nhau đối với tù cải tạo. Đám ít quá khích trong mặt trận th́ nghĩ đến giải pháp thả một số tù cải tạo vào dịp tết và sẽ thả phần lớn vào dịp tháng tư, kỷ niệm một năm  giải phóng miền Nam, đồng thời kỷ niệm ngày bầu cử Quốc Hội. Vả lại, phần đông những người của mặt trận thường có anh em, bà con thân thích phải đi học tập cải tạo nên cũng mong giải cứu sớm họ hàng của họ. Chẳng hạn con trai của ông Mai Văn Bộ và con trai của chủ tịch Huỳnh Tấn Phát đều là những sĩ quan trong quân đội Sàig̣n cũ.

Nhưng có một điều chắc chắn và rơ rệt là nếu Ủy ban quân quản c̣n tồn tại, nếu người của mặt trận giải phóng miền Nam c̣n có cương vị và năm quyền hành trong tay th́ việc đi học tập cải tạo đă không kéo dài như sau này. Rất tiếc, việc đó đă không xảy ra.

 

9-1-1976

Như có tin đồn trước đây, Nghiệp đoàn nhà thương Grall đă đứng lên đ̣i trục xuất bác sĩ giám đốc là đại tướng Fourré. Ông bị nhân viên bệnh viện tố cáo là lăng phí tài sản của nhà thương nay cũng là tài sản của chính quyền Việt Nam. Từ việc tố cáo này dẫn đến việc phải trục xuất  giám đốc bênh viện vào trước thứ năm tuần sau. Với việc trục xuất này, chỉ c̣n duy nhất một bác sĩ người Pháp c̣n ở lại.. Việc đó cũng sẽ bắt buộc chính phủ Pháp phải đóng cửa nhà thương Grall. Trong khi đó th́ như thương thảo giữa hai chính phủ, chính phủ Pháp sẽ vẫn duy tŕ quản lư nhà thương Grall cho đến tháng 6 năm sau.

Nhà thương Grall đă có một thư viện đồ sộ với 7 chục ngàn cuốn sách chuyên môn về các bệnh nhiệt đới và sẽ được chuyển giao cho chính quyền VN vào ngày 25 tháng 5, 1976.

Và sau này, một thánh lễ đă được cử hành lần chót tại nhà thương này vào ngày 23 tháng năm  1976 sau  gần một thế kỷ hoạt động.

 

12 tháng hai, năm 1976, một lần nữa, lại có chiến dịch truy quét tàn dư văn hoá Ngụy

Chiến dịch đó được đăng trong mục Diễn đàn của tờ Tin Sáng, trong đó vạch ra 56 tác giả nhà văn, nhà báo, nhà thơ mà nội dung sách vở của họ cấm không được đọc.

Cứ mỗi lần có chiến địch truy quét tàn dư văn hoá ngụy, tôi có cảm tưởng con người tôi bị xúc phạm. Tôi đă lớn lên ở đây. Tôi đă ăn miếng cơm miền Nam. Thở không khí này, được đào tạo ở đây. Tôi đă thích nhà văn này, đă mê đọc những nhà văn kia, đă say mê nghiền ngẫm triết lư của tác giả ngoại quốc này, tác giả kia. Nay tất cả những thứ đó, sản phẩm tinh thần cao quư đó bỗng dưng bị xếp lọai tàn dư Mỹ Ngụy. Phải tịch thu, phải đốt. Tàng trữ là phản động.

Công việc càn quét này lại giao vào tay các em bé 10 đến 15 tuổi.

Tôi có cảm tưởng chính quyền lợi dụng tuổi thơ mà đáng nhẽ tuổi các em được miễn trừ. Tuổi các em là để vui đùa, ca hát, để nhởn nhơ, để chỉ biết yêu mà không biết ghét, không biết oán hận.

Thế giới của các em là thế giới trẻ, không biết việc người lớn làm.

Các ông chính quyền kể như tàn ác. Các ông bắt trẻ con đi đánh tư sản mại bản, đi càn quét văn hoá Mỹ Ngụy đồi trụy. Nào phải công việc của các em. Tại sao các ông không làm ? Tại sao cứ xúi trẻ con ăn cứt gà ? Tại sao biến học đường thành một xưởng đào tạo những người mày Robot về chính trị ? Hăy trả học đường về cho thầy giáo, cô giáo. Tại sao những bàn tay non nớt đó châm lửa đốt sách ? Có khác ǵ ngày nay, người ta bắt các bé gái đi làm điếm? Mỹ- Ngụy biết ǵ về Hermann Hesse, về Kierkergaard. Ông Nguyễn Văn Thiệu, Kissinger biết ǵ về những tư tưởng cao quư đó?

Đó là sản phẩm tinh thần của cả nhân loại liên quan ǵ đến Mỹ Ngụy. Tức muốn chết.

 

Thứ hai 12 tháng 2-1976, vụ Vinh Sơn: mở đầu cho một biến cố

Ngày đầu năm mới đă nổ ra vụ Vinh Sơn. Nốt nhạc hợp tác giữa địa phận Sàig̣n và chính quyền đang có vẻ là trơn chu th́ nổ ra vụ Vinh Sơn. Vụ Vinh Sơn do chính LM Nguyễn Quang Minh, chính xứ và một vài người lẻ loi chủ xướng, dùng vũ lực chống lại chính quyền. Nó không có bất cứ một liên quan xa gần nào đến thẩm quyền Giáo Hội cũng như vụ Cha Nguyễn Văn Vàng, ḍng CCT sau này vào năm 1970-1980. Ngay khi vụ việc xảy ra, TGM Nguyễn Văn B́nh đă phát biểu như sau tại Hội Trường Ủy Ban NDCM quận X ngày 14-1-1976 :”Tôi rất buồn trong cái t́nh trạng thật là đau khổ của tâm hồn tôi, tôi thấy không biết dùng lời nói nào để tỏ ra cái tâm t́nh của tôi trong lúc này’

Vụ nhà thờ Vinh Sơn được báo chí cho nổ bung ra. Tờ Sàig̣n Giải Phóng, số 177 đưa tin:  đă phá vỡ một ổ phản cách mạng, đội lốt tôn giáo. Nó chẳng đội lốt tôn giáo ǵ cả. Người chủ chiên của họ đă xác nhận chỉ là cá nhân ông lm làm phản.

Tờ Tin Sáng, số 161 th́ đưa tin:’’ Những bằng cớ tịch thu được của bọn phản cách mạng chứng tỏ bọn họ muốn phá bỏ những thành quả của nhân dân ta rrong suốt 100 năm nay.’’ Người ta được biết rằng, đây là một âm mưu phản loạn có vơ trang vũ khí đầy đủ, được che dấu trong nhà thờ Vinh Sơn. Báo chí cũng phanh phui một ổ phản cách Mạng khác được ngụy trang công giáo tại khu công giáo Tân hiệp, Biên Ḥa. Nguời ta cho hay rằng, bọn phản động đội lốt tôn giáo do bàn tay CIA Hoa Kỳ nhúng vô với sự trang bị đầy đủ điện đài, Radio và phát tuyến.

Bọn họ tung ra những tin đồn thất thiệt, gây hoang mang trong dân chúng. Người chủ động là LM Nguyễn Quang Minh, chánh xứ nhà thờ Vinh Sơn.. Báo Sàig̣n Giải phóng cũng đưa ra những tin tức nóng hổi vừa ra ḷ tố cáo LM Nguyễn quang Minh chỉ là LM giáo gian. Ban đêm, ông này thường dẫn gái vào nhà thờ để làm bậy.

Tờ báo c̣n cảnh báo giới công giáo cần thay đổi thái độ và thay đổi lập trường đă lỗi thời của họ. Đồng thời cần gia nhập vào quần chúng, mạnh dạn tố cáo những thành phần phản động c̣n ẩn náu trong ḷng các cơ chế của Giáo Hội.

Trong vụ Vinh Sơn này, những người chống đối chính quyền đă cầm cự và cố thủ bên trong nhà thờ Vinh Sơn. Chính quyền đă tỏ ra khách quan bằng cách mời mấy người đại diện TCG như quư ông Huỳnh Hữu Đặng, Nguyễn Đ́nh Đầu và LM Nguyễn Huy Lịch đến chứng kiến vụ vây bắt những người cố thủ bên trong nhà thờ. Sau đó chính quyền đă dùng biện pháp mạnh.’’ Dầu trong khi dùng biện pháp mạnh đó, chính quyền c̣n tế nhị muốn tránh được chừng nào hay chừng đó sự thiêt hại cho nhân mạng, sự thiệt hại cho cơ sở nhà thờ và chính tôi thấy khi năy những vết súng bắn vào tường bất đắc dĩ như thế, nhưng cố tránh những tượng thánh. Tôi rất cảm động’’ . Đó là lời phát biểu của cụ TGM Nguyễn Văn B́nh về vụ Vinh Sơn, tại hội trường UBNDCM quận 10, ngày 14-2-1976.

Sau này, trong dịp nói chuyện với Vũ Sinh Hiên, Đức TGM Nguyễn Văn B́nh đă tâm t́nh:’’ cho đến giờ này, tôi vẫn c̣n ngờ ngợ..’’ Năm bắt được ư của ông, Vũ Sinh Hiên đă không hỏi thêm nữa.

Kết quả, LM Nguyễn Quang Minh bị kết án tử h́nh.

 

Sau khi biến cố hồ Con Rùa trên đường Duy Tân bị phá hoại, Nguyễn Thụy Long cùng nhiều trí thức, văn nghệ sĩ và nhà văn đă bị bắt v́ vụ này. Sau đó, ông bị giam cạnh pḥng các tử tội là LM Nguyễn Quang Minh. Xin nghe lại lời nhân chứng là nhà văn NTL trong vụ này :’’ Những câu chuyện vặt trong pḥng giam bỗng im bặt, khi tiếng nói thật lớn thật to ở pḥng giam tử tội cuối hành lang cất lên: Chào tất cả các anh em bạn tù, chúng tôi ba người mang án tử h́nh, sẽ bị xử bắn vào sáng sớm ngày mai, chúng tôi có lời chào vĩnh biệt tất cả các anh em c̣n ở lại. Tôi là Nguyễn Xuân Hùng, tự Ali Hùng, hai người bạn tôi, một là linh mục, một là chiến sĩ. Tôi là một người Việt Nam lai da đen, xứ Phi Châu Sénégalais, mẹ tôi là người Việt Nam, vậy tôi xin nhận nơi này làm quê hương, v́ mẹ Việt Nam của tôi đă nuôi tôi khôn lớn và thành người. Trong pḥng giam của tôi, vị linh mục đang quỳ dâng ḿnh cho Chúa, người bạn chiến sĩ th́ đang huấn nhục. Tôi có giọng khỏe, xin được hát thân tặng lại tất cả những anh em c̣n ở lại. Những bài hát thấm đượm t́nh quê hương của Phạm Duy mà tôi rất ngưỡng mộ..’’Chúng tôi đă mất Sàig̣n thật rồi’’ .

Sau này thày Tuệ Sĩ ( Thầy Tuệ Sĩ tên thật là Phạm Văn Thương, sinh ở Pakse, bên Lào bị bắt giam hai lần, lần đầu 1978-1981, lần hai ngày 1-4-1984, nhưng măi đến năm 1988, trong một phiên xử kéo dài ba ngày 28, 29, 30-9-1988, Thầy TS bị kết án tử h́nh. Nhưng nhờ Uỷ Ban Bảo Vệ quyền làm người VN, Liên Hiệp Quốc, chính quyển phải giảm án xuống 20 năm khổ sai. Ngày 2-9-1998, thầy TS được trả tự do sau 14 năm khổ sai) và  thầy Trí Siêu, tức Lê Mạnh Thát, cũng âm mưu làm phản, có vơ trang, với khoảng 30 người đồng bọn, cũng bị bắt, cũng ra ṭa cùng với ni sư Trí Hải, cũng lănh án tử h́nh, sau giảm xuống chung thân, rồi cuối cùng được thả ra. Hiện nay, thày Lê Mạnh Thát làm phó viện trưởng Học Viện Phật Giáo VN và được giao trọng trách xây dựng một Đại học Phật Giáo trong tương lai. Sắp tới đây, ông sẽ tổ chức một buổi hội thảo về Phật giáo vào các ngày 14-15 tháng 7.

Hai giai đoạn, hai biện pháp.

Có lẻ niềm mong mỏi thâm sâu của người Phật tử là có được một Khuông Việt như một giải đáp cho những vấn nạn hiện nay.

 

Thứ tư 17 tháng 3- 1976, thanh niên xuống … đường làm vệ sinh.

Thường mỗi khi sinh viên học sinh xuống đường là có chuyện. Xuống đường là để đi biểu t́nh, để đ̣i hỏi, để phản đối một điều ǵ. Ngay cả khi xuống đường ủng hộ một điều ǵ th́ cũng gián tiếp chống đối một điều ǵ.

Đó là truyền thống của SV, học sinh.

Nay theo báo chí nhà nước, có hơn một triệu thanh niên, sinh viên xuống đường làm sạch thành phố chuẩn bị đón cuộc bầu cử sắp tới với sự có mặt của các nhà báo ngoại quốc. Tôi không tin vào con số  đó. Tôi cũng có mặt trong thành phố này và  không có ǵ cho phép tôi cả quyết có một triệu sinh viên, học sinh xuống đường trên tổng số 3 triệu dân thành phố. Tôi cũng đang dạy một số lớp học và tôi cũng không thấy ai điều dộng cho công việc xuống đường này. Cái thói quen thổi phồng th́ ai cũng biết rồi. Ừ th́ cứ cho là một triệu đi th́ điều đó thay đổi được ǵ diện mạo tthành phố.

Cho dù có thay đổi một chút về diện mạo thành phố th́ làm thế nào thay đổi được diện mạo 3 triệu khuôn mặt của thành phố ấy. Những khuôn mặt xanh xao mất máu, ủ rũ và buồn nản là diện mạo dân Sàig̣n.

Các Sinh viên nay đă đi vào nửa năm học, nhưng h́nh như họ cũng chưa bắt đầu công việc học, qv́ c̣n nhiều nhiệm vụ trước mắt phải làm và kể từ nay, để được nhận vào các trường đại học, họ phải có giấy chứng nhận là " đă tham gia vào những hoạt động chống Mỹ và tay sai "

Phải chăng, việc xuống đường làm vệ sinh thành phố là cái giấy chứng chỉ đầu tiên cho mỗi sinh viên nhập học.

 

Thứ tư 31 tháng 3-1976, những người con của đảng.

Có 50 vạn người đă dự cuộc mít tinh để đưa 25 ngàn thanh niên lên đường đi về các vùng kinh tế mới.

Cũng lại vấn đề những con số. Những con số làm phiền.

50 vạn người tiễn đưa 25 ngàn người thanh niên lên đường đi kinh tế mới.

Cũng như mới đây, cũng đă có những buổi lễ tiễn đưa những người con của đất nước lên đường đi nghĩa vụ quân sự .

Đất nước vừa ra khỏi chiến tranh chưa đầy một năm. Việc tuyển quân mang ư nghĩa ǵ. Con trai của một dân biểu cũng đă gia nhập quân đội trong những dịp ra quân này. Nhân dịp này, ông đă làm bài thơ bầy tỏ nỗi ḷng của người cha vui mầng khi thấy con ḿnh đi làm nghĩa vụ cho tổ quốc. Sự bầy tỏ làm nhiều người quen biết ông đến ngạc nhiên. Có phải thật sự là ông không ? Xưa nay, con nguời ấy có cần bầy tỏ công khai về một việc là con ḿnh đi thi hành nghĩa vụ quân sự. Nếu là một nhiệm vụ b́nh thường của một xă hội mà đến tuổi trưởng thành, thanh niên có bổn phận nhập ngũ, hà cớ ǵ ông bầy tỏ một cách hồ hởi như vậy ? Sau này,  các con trai ông đều trở thành đảng viên đảng Cộng Sản, đi học các lớp sĩ quan của quân dội nhân dân..

 

Những con số làm phiền

Tôi nhắc lại đây như một điều chẳng nên nói như thế nữa. Những con số làm phiền, những con số quấy nhiễu,  những con số ảo, những con số  mà Tờ Sàig̣n Giải Phóng, số 234, nghĩa là sau gần một năm ngày 30-4 cho tin đến ngạc nhiên, không phải miền Nam mà chính miền Bắc cứu trợ miền Nam :* Hà nội đă vắt ruột gửi vào Nam 1.600.000 triệu tấn vật liệu hàng hoá và lương thực như gạo, đường, xăng dầu, trang thiết bị và phân bón cũng như thuốc men. Thêm vảo đó 32 triệu mét vải đủ loại cũng được gửi vào Nam cho dân chúng may mặc. Trong khi đó, miền Bắc chỉ nhận được một con số nhỏ nhoi là 80.000 tấn sản phẩm của miền Nam*.

 

Vụ nổ ớ tháp con rùa đưa đến việc bắt bớ giới văn nghệ sĩ

Thứ sáu, mồng 02 tháng tư. Đây là chuyện có thật, không phải là tin đồn nữa. Một vụ nổ lớn, dữ dội, vang động cả thành phố. Ngă tư tháp con rùa, sau nhà thờ đức Bà vẫn là điểm hẹn ḥ của trai gái trên đường Duy Tân. Nhiều người c̣n nhớ bài hát của Phạm Duy: Con đuờng Duy Tân, cây dài bóng mát Trả lại em yêu, con đường học tṛ. Tiếng nổ chắc có gây thương tích và người chết nên có xe cứu thương chạy qua chạy lại.

Dù sao vụ nổ này chẳng gây được tiếng vang ǵ. Báo ra ngày thứ bảy quy kết tội cho bọn phá hoại muốn gây rối trong ngày bầu cử sắp tới. Một trong những người phá hoại đă tử thương và một số người khác đă bị bắt.

Sau vụ nổ ở tháp Con Rùa, hơn 200 trăm văn nghệ sĩ, nhà văn, giáo sư đă bị bắt đi tù. Chẳng hạn như các ông Nguyễn Sỹ Tế, Vũ Hoàng Chương, Hồ Hữu Tường. Sau này ông HHT th́ chết trong tù, riêng ông Vũ Hoàng Chương được thả về nhà mấy bữa th́ đă qua đời.

 

Thứ bảy 17 tháng tư 1976.

Kết quả cuộc bầu cử sắp tới th́ như ai nấy đều biết cả rồi. Nhưng người ta vẫn làm như thể không ai biết và báo chí, loa phóng thanh vẫn làm công việc cổ vơ tuyên truyền cho việc đi bầu cho đông. Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ trong một buổi họp vào ngày thứ ba đă trả lời một câu của một thính giả: Tại sao không có ứng cử viên đối lập. Trả lời: Quyền hành ở trong tay nhân dân, nhân dân là những thợ thuyền, người nông dân, nghĩa là nằm trong tay đa số. Vậy đối lập là đối lập với ai. Không lẽ nhân dân lại đối lập với chính ḿnh. Nhân dân sẽ đi bầu và xác lập cái quyền làm chủ đất nước ( ses droits de maitre du pays).

Trong khi đó, ṭa đại sứ Nhật chính thức đóng cửa. Ṭa Đại sứ Pháp th́ kiên nhẫn hơn. Thư từ ngoại giao bị lục tung và bị kiểm soát. Phản đối cũng chẳng ăn thua ǵ.

Bộ đội th́ được thưởng một ngày thứ ba đi coi chiếu bóng miễn phí. Kết quả là trên đường Trần Hưng Đạo có vụ nổ bom với 25 người chết và 80  người bị thương. Rạp Đại Nam gần đó cũng lănh một vụ nổ Plastic.

Tờ SGP, số 262 hiển nhiên không đăng tải những tin về những vụ nổ này. Nhưng đă chạy bốn cột báo với nhan đề:’’ Dân chúng thành phố đă vui mừng tham gia vào  việc giữ ǵn an ninh bảo đảm an ninh  nhân dịp cuộc bầu cử Quốc Hội sắp tới’’.

 

Kể từ ngày 30 tháng 4-1975, nay đă gần được một năm. Để kết thúc một năm sau ngày giải phóng, chính quyền quyết định một cuộc bầu cử trên toàn quốc. Danh sách 44 ứng cử viên của thành phố Sàig̣n đă được niêm yết. Phần lớn là người trong đảng, điều đó là dĩ nhiên rồi. Có một vài người của MTGPMN, một vài trí thức tiêu biểu của thành phần thứ ba và để tỏ ra dân chủ, có thêm một ứng viên là thợ làm cho công ty CARIC của Tây.

Trong danh sách cử tri, người ta nhận thấy có điều ǵ không ổn. Ở Hà nội, có 43 vạn đàn ông đi bầu so với 44 vạn đàn bà. Chênh lệch là 10 ngàn người. Một tỉ lệ chênh lệch hiểu được v́ số đàn ông đi lính, tử trận. Riêng tỉ lệ cử tri đi bầu ở Sàig̣n có khoảng cách khá lớn giữa hai phái. Có một triệu cử chi phái nữ, nhưng lại chỉ có 75 vạn cử tri đàn ông.  Có một khoảng cách tỉ lệ giữa hai phái khá xa làm nhiều người thắc mắc, đặt thành câu hỏi. Vậy con số 25 vạn đàn ông ít hơn này, họ đi đâu ? Trong các trại cải tạo ? 

Hay là do không được phép đi bầu ? Điều đó vẫn không ai biết được một cách rơ ràng tại sao 

 

Thứ tư mồng 7 tháng tư 1976

Thành phố chăng đầy các biểu ngữ về ngày bầu cử sắp tới. Nhiều biểu ngữ có nội dung ca ngợi đảng Lao động muôn năm. Báo chí th́ viết đầy các tiểu sử các ứng cử viên. Tất cả đều là những cựu kháng chiến không chống Pháp th́ cũng chống Mỹ.

Người ta ghi nhận một điều là trong tiểu sử bà Nguyễn Thị B́nh không có ghi ngày sinh tháng đẻ. Truyền thống của Tây là không nên nhắc đến tuổi của phụ nữ chăng ? Tiểu sử chỉ ghi một cách rất mơ hồ là bà đă chống Pháp ngay từ khi c̣n ngồi trên ghế nhà trường trung học. Chống thế nào th́ không ai được biết.

Cũng có trường hợp một ông bác sĩ tên Nguyễn Ngọc Hà, ông này tham gia phong trào những người Việt Nam yêu nước ở nước Pháp từ năm 1948 cho đến hôm nay. Ông về nước lúc nào và tham gia cuộc bầu cử này dưới danh nghĩa  ǵ.

Trong dịp kỷ niệm một năm ngày Giải Phóng, các báo cũng đăng tải hồi kư của Tướng Văn Tiến Dũng. Đây là một hồi kư đánh bóng ḿnh không ít. Đồng thời làm giảm vai tṛ của tướng Vơ Nguyên Giáp trong cuộc chiến kết thúc chiến tranh ở miền Nam.

Sau này, hồi kư đă bị đánh giá là thấp, thiếu trung thực, nhiều chỗ thổi phồng. Theo cụ Trường Chinh, chủ tịch Quốc Hội, cuốn sách này có khá nhiều điều viết không trung thực.

Cũng trong dịp đặc biệt và hiếm hoi này, người ta lại thấy xuất hiện cờ Mặt Trận Giải phóng miền Nam ở dinh cựu Tổng Thống Thiệu.

 

Thứ sáu, 16 tháng tư 1976.

Để đánh dấu một năm sau ngày Giải Phóng, người ta có một hai thống kê về chỉ số sinh hoạt kinh tế như sau để người đọc tiện việc theo dơi :

- chỉ số về giá sinh hoạt thực phẩm từ tháng tư 1975 đến tháng tư 1976 tăng 183,44 %.
- Chỉ số về giá sinh hooạt không phải thực phẩm tăng cũng cùng thời gian trên là 401%.

Những con số thống kê gia tăng như trên chẳng nói được ǵ và cũng chẳng phản ánh thực tế đời sống của người dân. Nó làm ra có vẻ khoa học mà chẳng có ǵ khoa học.

Cuối cùng th́ dân vẫn có cảm tưởng là đói đến nơi rồi. Đó là tín hiệu rơ rệt nhất về sinh hoạt đời sống của người dân. Cái ǵ cũng khan hiếm như thể biến đâu mất..

Cũng trong dịp này, theo báo Tin Sáng của ông Ngô công Đức, do nguồn tin của dân chúng, chính quyền đă tịch thu 2700m3 các ấn phẩm, tương đương 2 triệu cuốn sách và hàng tấn sách vở tịch thu tại 5 địa điểm được dấu sau đây: 237 đường Điện Biên Phủ, 127 Nguyễn thị Minh Khai, 193 Nam Kỳ Khởi Nghĩa và tại số 28 và 62 Lê Lợi. Kho sách này của ai ? Thưa một phần của ông Khai Trí.

Vậy mà bằng cách nào sau này, ông có tên trên một bảng đường thành phố ngay từ lúc c̣n sống như đă tŕnh bầy ở trên ?

 

Thứ năm 22 tháng tư 1976:

Các em tiểu học được chỉ dạy để về nói với cha mẹ bầu cho ai và không bầu cho ai. Ở quận ba, có chuyện rỉ tai không bầu cho các ứng viên số 1, số 3 và số 13.  Những ứng viên này chỉ có mặt cho có h́nh thức. Họ là những người thuộc thành phần ứng cử viên tôn giáo và tư sản cũ. Có một số cán bộ phường đến từng nhà khuyên dân chúng nên bầu cho ai.

Cái điều chính yếu mà  người dân quan tâm trong cuộc bầu cử này là họ sẽ có được tờ giấy chứng nhận đă đi bầu. Tờ giấy có giá trị như tấm căn cước hay một thứ chứng minh nhân dân. Tất cả chỉ có chừng đó là quan trọng, c̣n ai đuợc bầu, ai không được không phải việc của họ.

Cũng trong dịp này, báo chí cho biết theo thống kê th́ ở miền Nam có 1328 bác sĩ cho 24 triệu dân. Nghĩa là 18000 dân, có một bác sĩ. Số bác sĩ này bao gồm cả bác sĩ từ miền Bắc vào? Người ta ước lượng có từ 300- 500 bác sỉ di tản theo Mỹ. Vậy số c̣n lại ở đâu ? Có thể c̣n ở trong các trại học tập cải tạo.

Thứ sáu, ngày 23 tháng tư: Tờ Tin Sáng loan tin :* dân chúng sẽ đi bầu đông đảo, đúng cách và nghiêm chỉnh *. C̣i báo động của thành phố với những hồi thật dài mở màn cho cuộc bầu cử tại các pḥng phiếu vào đúng 7 giờ. Đảng uỷ thành phố cũng không quên yêu cầu dân chúng ăn mặc tề chỉnh, quét dọn nhà cứa phía trước cho sạch sẽ. Một vài hăng thông tấn c̣n sót lại như hăng AFP đă đi một công điện như sau, mặc dầu đă có sự kiểm duyệt :"  Người ta vẫn theo thói quen bàn đến vụ nổ lớn ở khu vực Long Khánh vào ngày 24 tháng 4 vừa qua.. Vụ nổ lớn kéo dài đến tận Sàig̣n cũng nghe thấy tiếng nổ. Chung quanh khu vực đó, có nhiều trại cải tạo tập trung, không biết v́ lư do thiếu an ninh mà sau này các trại đó đă chuyển dần ra phía ngoài Bắc."

 

Chủ nhật, ngày 25-4-1976: ngày bầu cử, kết thúc một năm Sàig̣n sau 30-4-1975

Hôm nay là ngày lịch sử. Toàn quốc đă đi bầu. Ngoài đường cấm xe cộ lưu thông. Đường phố vắng vẻ, chỉ trừ các xe phóng thanh đi tuyên truyền. Những người đi xe đạp hoặc xe gắn máy th́ có các người gác các nút chặn yêu cầu xuống xe dắt bộ.

Trên đường phố, chỉ c̣n những đoàn người, phần lớn là phụ nữ thanh niên, thiếu nữ, do các tổ dân phố hay phường khóm hướng dẫn đến các địa điểm bỏ phiếu. Mọi sinh hoạt đ́nh chỉ. Ngay cả những ngưởi buôn bán lẻ dọc đường phố cũng phải tạm nghĩ, tạm lánh mặt.. Không khí vui vẻ và tấp nập.

Có nhiều nơi, như trong Chợ Lớn, 10 giờ toàn thể dân chúng trong các khu phố đă làm xong nhiệm vụ đi bầu.

Một vài máy bay phản lực bay lượn trên không vụt qua vụt lại, tiếp theo là hai trực thăng kêu phành phạch trên trời làm tăng thêm cái vẻ nghiêm trọng trong ngày bầu cử. Đến xế chiều, kể như công việc bầu cử đă hoàn tất từ lâu. Thành phố Sàig̣n như một thành phố ngủ, không một bóng người hay xe cộ qua lại. Ngoài đường chỉ c̣n lại xe cộ qua lại của Công An, Cảnh sát. Những người giữ trật tự an ninh, đeo băng dở tên xe phóng lướt nhanh,  dáng vẻ khẩn trương của một màn kịch sắp đến hồi kết thúc.Trật tự đạt mức độ an toàn tuyệt đối và hầu như không có một sự cố nào xảy ra, dù nhỏ thôi. Không có phá hoại, không có mất trật tự, tranh dành.

Sau một năm, thành phố Sàig̣n đă đổi diện mạo. Sàig̣n không c̣n là Sàig̣n năm  trước nữa.

Đối với người dân thành phố, vấn đề không phải là bầu ai, v́ đó là nhiệm vụ của chính quyền. Đối với họ, điều quan trọng là tấm giấy chứng nhận đă đi bầu. Vậy là đủ.

Nếu có điều ǵ đáng nói trong chuyện bầu cử này như một câu chuyện bên lề. Đó là chuyện  "Big Minh" đi bầu. Ông này vừa được chuyển về từ miền Bắc về lại miền Nam cách đây hai tháng. Big Minh đă đi bỏ phiếu tại trường Tây cũ Saint Exupéry trước mặt một số phóng viên ngoại quốc như báo L'humanité của Pháp và L'Unita của Ư.

Cũng tin đồn cho hay Nhân vật số 1 là ông Phạm Hùng đă bị hai người ngồi xe gắn máy nhắm bắn về phía ông ở góc bà Huyện Thanh Quan, khi ông vừa dời khỏi nhà ở đường Tú Xương, vào lúc 6 giờ 45 sáng để đi bầu. Người tài xế của ông bị thương, phần ông không sao cả. Sau đó hai người trên xe gắn máy đă bị bắt ngay. Những ngày sau đó, trước dinh của ông Phạm Hùng, luôn luôn có 4 người an ninh gác cửa.

Xin lưu ư mọi người là các đường Tú Xương, bà Huyện Thanh Quan, nhất là Trương Định là nơi trú ngụ của các nhân vật cao cấp đảng Cộng Sản bây giờ. Mỗi khi vào Sàig̣n là họ ở đấy. Nó cũng giống như ở Hà nội, dọc đường Hoàng Diệu đều là dinh thự của các cấp lănh đạo đảng và nhà nước. Tôi đă đến thăm nhà bà quả phụ Vũ Đ́nh Liệu ở số 28 đường Trương Định và lúc ra về, bà đă chỉ cho biết bên kia đường, xế phía tay phải là nhà ông Phó Thủ Tướng Dũng, một  nhân vật có nhiều dấu hiệu sẽ dành được chức vụ Thủ Tướng trong kỳ sắp tới đây.


 

Thứ tư ngày 28- 4-1976.

Báo chí cho hay chỉ có khoảng 95% dân chúng miền Nam đi bầu, so với 99,82% cử tri miền Bắc đi bầu. Nhưng riêng các tỉnh Minh Hải, bao gồm Cà Mâu và Bạc Liêu, số người đi bầu là 100%. Một tỉ lệ tuyệt đối không đâu sánh bằng.

Ở Sàig̣n, có 9 người không đắc cử, trong đó có 6 phụ nữ. Trong số 35 người đắc cử, có 8 phụ nữ, hai nhà sư, một linh mục Thiên Chúa giáo và 6 người thuộc Mặt trận Giải Phóng miền Nam. Mặc đầu kết quả được sắp đặt, người ta vẫn thấy sự sắp xếp có phần lộ liễu. Có thể nào có một sắp đặt ít lộ liễu hơn được không ? Chúng ta muốn lộ liễu hóa một điều mà tự nó đă lộ liễu rồi ? Con số nhiều nơi 100 phần trăm đi bầu, bất kể những trường hợp ốm đau, sinh đẻ hoặc có những lư do bất khả kháng.

Tưởng những con số trên là phi thực lắm rố, vậy mà gần một phần tư thế kỷ sau, 3 tháng trước ngày bầu cử 14-11-1999, thủ tướng Phan Văn Khải đă tuyên bố:’’ Phải tổ chức bầu cử thật dân chủ’’ ( SGGP ngày 24-8-1999). Dân chủ thật. Số cử tri đi bầu HDNDTP HCM  đạt tỉ lể 99, 84%, bầu đủ số 85 đại biểu. 

Nhân tiện đây cũng nhắc đến nhà văn Tô Hoài, Ông là nhà văn đi công tác nước ngoài nhiều lần nhất ở ngoài Bắc trước 75.. Ông kể truyện, mỗi lần đi công tác nước ngoài là phải đi mượn quần áo của Bộ tài chánh:’’...giày không có dây, cả thành phố không đâu bán dây giày và hộp kem. Tôi lại phải đi xin dây giày và mượn cái cà vạt của Nguyễn Văn Bổng’’. Nói về người bạn cũ di cư vào Nam, ông viết với giọng khinh miệt như sau:’’.. c̣n cái thằng Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, làm báo Tự Do ở Sàig̣n.. Tôi được biết nó ở lại Sàig̣n. Có lẽ cũng không ai buồn xách cái tă ấy đi di tản’’. Và viết về bầu cử, ông đă trơ chẽn tả lại một cách tự nhiên như sau:’’ Chỗ nào cũng tíu tít.. có người đi bầu hộ cả nhà..Khi mọi người đă ra về, chúng tôi bóc miếng giấy dán niêm phong, đổ cả thùng phiếu ra mặt bàn. Hai chúng tôi mở từng cái phiếu rồi lại bỏ vào thùng. Cả phiếu không gạch tên- phiếu trắng cũng bỏ lại vào. Chỉ để riêng ra cái phiếu nào viết vẽ nhảm nhí hay viết phản động. Những phiếu này gói lại, tự tay trưởng ban đem nộp lên khu. Trong những năm nay tôi làm việc, mấy lần bỏ phiếu thành phố hay toàn quốc đều làm như thế theo kế hoạch mật của khu’’. Đặc biệt nhà văn này, chúng tôi giới thiệu tài liệu trích dẫn ở trong cuốn hồi kư Chiều Chiều, của ông do nxb Hội Nhà Văn, dày 562 trang. H́nh như ông vào ngụ ở Đàlạt th́ phải.

Đó là sản phẩm của những đầu óc chính trị quá mẫn. Người ta vẫn chưa t́m được một sự dung ḥa giữa ảo và thực, giữa sự nghiêm chỉnh và sự đùa nghịch. Sự nghiêm chỉnh ( esprit du sérieux mà theo Voltaire cái nghiêm chỉnh th́ thiếu cái duyên dáng, đối lại với esprit du ridicule) mà dấn đến mức quá độ, tuyệt đối, nó không chừa cho bất cứ kẽ hở nào của thực tế th́ nó biến thành sự khôi hài, kệch cỡm. Tỉ lệ đi bầu 99,82%, đắc cử ở mức độ tín nhiệm tuyệt đối 99.76% là một chuyện quá nghiêm chỉnh trở thành chuyện khôi hài.

Phải có một đầu óc lăng mạn chính trị ghê lắm mới đưa ra được kết quả trên.

Ở Sàig̣n, bà B́nh dẫn đầu với 97% phiếu bầu. Đáng nhẽ cần minh định rơ hơn tư nữa. Bà B́nh đă được tín nhiệm với 97% phiếu trên tổng số 95% số cử tri đi bầu. Nguyễn Hữu Thọ 95% và Vơ văn Kiệt 94%, Huỳnh tấn Phát 92%. Một vài ghi nhận là ông Phạm Hùng, nhân vật số 1 ở miền Nam chỉ đạt tỉ lệ đắc cử là 92% ở quận 3. Ngôi sao Phạm hùng đang đi xuống. Bà Dương quỳnh Hoa, bộ trưởng y tế, không phải đi xuống mà có vẻ bị thất sủng chỉ đạt được 81% phiếu bầu ở quận hai. Tỉ lệ 81% là quá thấp như một rẻ rúng.

V́ vậy, có thể xem kết quả bầu phiếu để biết được số phận tương lai chính trị của các nhân vật lănh đạo nhà nước.

Ít ra th́ một cuộc bầu cử về mặt này cũng tỏ ra có ích lợi, nhờ đó người dân biết được ai c̣n, ai mất.

Có vẻ như bộ máy bầu cử ở trong Nam có điều chi trục trặc. Nó không tuân thủ một t́nh tự sắp xếp tính toán từ trước.


Ngoài Bắc, riêng ở Hànội, nghiêm chỉnh hơn nên khôi hài hơn. Số người đi bầu là 99,82. Trong khi đó, nhân vật số 1 miền Bắc ông Lê Duẩn, Tổng bí thư dẫn đầu với 99%76, Thủ tướng Phạm văn Đồng 99%73, Trường Chinh 99%60. Tất cả 6 nhân vật cao cấp của  chính phủ đều đạt tỉ lệ 99,35% số phiếu bầu. Nhưng theo kết quả công bố, ngay cả những ứng viên không được bầu, nghĩa là rớt không trúng cử, cũng đạt được tỉ lệ 50% số phiếu. Làm sao có thể người trúng cử đạt tỉ lện hơn 90% số phiếu đi bầu và người rớt cũng đạt được 50%  số phiếu bầu.


Ở một mặt khác, người ta để ư thấy tỉ lệ số phiếu của bà B́nh phải thấp hơn so với tất cả các vị lănh đạo miền Bắc. Tỉ lệ của Bí thư phải cao hơn Thủ Tướng và cứ thế, cứ thế, sự cao hơn đến độ vô nghĩa cũng cần phải được tôn trọng.

Tin tức báo chí về kết quả bầu cử nghiêm chỉnh,  đứng đắn như thế nên ông Hồ Ngọc Nhuận đă có nhận xét như sau về hai nền báo chí Sàig̣n trước và sau giải phóng. Ông nhận xét khá chính xác khi nói: Báo chí ngày nay ít dành chỗ cho biếm họa. Mà nếu có cũng ít khi thấy *đă*. Có lẽ là v́ báo chí bây giờ* ngay ngắn, đứng đắn* hơn chăng. Người ta nhớ thuở nào làng báo Sàg̣n có những họa sĩ ‘’Ớt’’, tức Huỳnh Bá Thành cùng với các họa sĩ Chóe, Diệp Đ́nh vv.. Sau 30 tháng tư, họa sĩ Ớt mới lộ diện là một cán bộ chỉ huy điệp vụ cách mạng. Ông Hoàng Ngọc Nhuận cho biết tiếp như sau về câu chuyện hoạ sĩ Ớt:’’ Chiều 28-4-75, sau vụ ném bom của Nguyễn Thành Trung, chúng tôi thấy nhóm ông Minh bị cô lập, tôi liền thực hiện ư định. Tôi gặp anh Hồ Ngọc Nhuận và tự xưng là điệp báo của Mặt trận, truyền đạt lời yêu cầu của cách mạng đến ông Minh, rằng ông nên giao chính quyền lại cho cách mạng’’.

 
Thứ sáu 30 tháng tư- 1976, kỷ niệm một năm sau ngày Sàig̣n giải phóng
Sáng nay, tờ Sàig̣n Giải Phóng đă chạy một tít lớn như sau :"Cũng ngày nay năm, quân đội chúng ta gồm năm binh đoàn đă tiến vào Sàig̣n, trong khi hằng triệu người đă nhất tề đứng lên hưởng ứng cuộc cách mạng thành công".


Ngày kỷ niệm diễn ra một cách êm ả. Không có mít tinh mà cũng không có biểu t́nh. Trên trời, có hai nhóm máy bay, mỗi nhóm ba chiếc máy bay chiến đấu, có thể là máy bay phản lực A 37 của quân lực VNCH cũ bay lượn nhiều lần và bay sà trên thành phố.
Chỉ có điều con số 5 binh đoàn, nay đổi ra là 15 binh đoàn. Đối với người dân, chẳng ai thắc mắc cái chuyện 5 hay 15 binh đoàn. Đó là công việc của nhà nước.

Văn pḥng báo chí AFP sẽ đóng cửa vào ngày mồng 8 tháng năm sắp tới loan tin c̣ có 30 vạn người c̣n bị giam giữ trong các trại học tập. Bản tin này đă bị nhà cầm quyền kiểm duyệt từng chữ một. Dầu vậy, cũng đánh động được Amnesty International, hội Ân xá quốc tế và các cơ quan bảo vệ nhân quyền trên thế giới để can thiệp.                  

Ngô Công Đức đă tổ chức một bữa ăn để kỷ niệm ngày 30 tháng tư 1976, tại nhà nghỉ mát Thanh Đa của ông. Ông đă mời tất cả các bạn bè đă từng sát cánh tranh đấu vớii ông trong thời kỳ đệ nhị cộng hoà. Không có danh sách những người bạn cũ là những ai. Nhân dịp này, đám khách khứa, bạn bè cũng kiểm điểm xem ai mất, ai c̣n, ai là người đă đi xa.

Buổi họp mặt vui thật, nhưng đă có người bá cáo về những câu chuyện bàn tán trong bữa tiệc. V́ thế có kiểm điểm, cảnh cáo. *dư âm* nghe nói măi tận ngày 30-4 năm sau vẫn c̣n.

Và kể từ đó, Hồ Ngọc Nhuận thề không dám mời những lần hội ngộ như vậy nữa. Và nếu có ai mời, cũng không dám tham dự nữa.

 

Một vài con số về t́nh trạng giáo dục đại học sau 75.

Trước 75, số sinh viên ở các đại học miền Nam là 131.500 người. Cho măi đến cuối tháng 12, 1975, một số Đại học mới bắt đầu mở cửa học lại. Và sau 4 tháng học, người ta ghi nhận chỉ có 29000 sinh viên tham dự kỳ thi cuối năm nay. Nếu tính số dân miền Nam là 29 triệu dân th́ chỉ có 3976 sinh viên ở tŕnh độ cao học.

Cho đến nay, Sàig̣n thiếu trầm trọng các bác sĩ. Trường Y khoa chỉ thu nhận 349 sv trên số 5558 ứng viên ghi danh. Trường Nha 100 sv và dược khoa 79. Thời trước 75, số sinh viênn Y nha dược là 15000 sinh viên, Cộng thêm 883 sv Đại Học Sư Phạm.

Cũng ghi nhận là nay tất cả các trường từ trung học đến đại học đều thuộc trường công lập của nhà nước. Không có hệ thống các trường tư thuộc giáo hội TCG, Phật Giáo, trường Tàu hay tổ chức nào khác. Chương tŕnh giáo dục kéo dài 12 năm, thay v́ 10 năm như ở ngoài Bắc.

Chương tŕnh trong các  trường có một số đặc điểm như:

· Ưu thế hàng đầu cho chính trị trong các bài về văn chương, sử kư, địa lư và ngay cả toán học.

· Ưu thế cho các bài học đạo đức chính trị về vô sản, đề cao đảng, tôn sùng cá nhân bác Hồ kính yêu

· Tinh thần ái quốc cực đoan, sô vanh đề cao sức mạnh của đất nước và quân đội, gieo rắc sự nghi ngờ và hận thù.

· Các giáo chức phải luôn được giáo dục cải tạo để thấm nhuần tư tưởng chủ nghĩa xă hội. Các bài học đưuợc phân phối mỗi hai tuần một lần và giờ làm việc của giáo chức trung b́nh ngày 12 tiếng với số lương khoảng 20 chục ngàn đồng tiền cũ.

Sau một năm, người dân tự hỏi Tương lai sẽ ra sao ? Thấm thoát mà đă hơn 30 năm rồi.

Câu hỏi vẫn chưa có câu trả lời trọn vẹn.

 

Theo Dương Thu Hương, sau 30-4-1975, nó c̣n những chiều kích đau khổ khác. Và chính những chiều kích ấy mới là tổn thất khủng khiếp nhất. Một năm sau ngày giải phóng, miền Nam là một xă hội tan ră và hủy diệt về mọi phương diện: phá sản về đạo lư con người, một xă hội băng hoại mất hết mọi giá trị đạo đức, luân lư cổ truyền. Chính sách đi học tập cải tạo vô hạn định có thể lừa được người dân trong ngắn hạn, nhưng sau này trả rất đắt, nói không ai nghe, không ai tin nữa, mất hoàn toàn tín nhiệm nơi dân chúng. Giải thể MTGPMN và thống nhất đất nước vội vă là một phản bội miền Nam, một sai lầm chiến thuật, bất cập. Đi kinh tế mới là một chính sách đầu voi đuôi chuột, đem con bỏ chợ, nhằm trả thù hơn là lợi ích kinh tế hay xă hội. Nó thất bại ngay từ đầu đến nỗi sau này không ai c̣n muốn nhắc tới nữa. Rồi đánh tư sản mại bản, chính sách đổi tiền, chính sách bài trừ và xua đuổi người Hoa ra khỏi nước, việc mang quân sang xâm chiếm Campuchia. Tất cả dẫn đưa đất nước vào ṿng lao lư, tù tội hận oán măi đến bây giờ chưa hết. Một xă hội bị xoá trắng về Văn Học nghệ thuật, phá sản về tư hữu, một nền kinh tế kiệt quệ lâm vào cảnh đói nghèo báo hiệu nguy cơ sụp dổ toàn diện.

Về đối ngoại, đóng cửa các ṭa đại sứ, nhất là ṭa đại sứ Hoa Kỳ trục xuất các người ngoại quốc, chiếm hữu tài sản của các công ty người Pháp là tự ḿnh cô lập chính ḿnh. Hủy bỏ mọi cam kết, kư kết, các thương ước thương mại, các khoản cho hoặc vay mượn, các cơ quan từ thiện quốc tế, các tổ chức nhân đạo, các quỹ tiền tệ Quốc tế, các ngân hàng ngoại quốc.. mà VNCH đă nhiều năm xây dựng là một việc làm ngu xuẩn. V́ thế, phải nhiều năm sau này chính quyền CS mới khôi phục và nối kết lại bang giao với các cơ quan Quốc Tế vừa kể trên.

Chúng ta đă bịt tai không thèm nghe về tư thế và lợi ích chiến tranh của Việt Nam giữa hai đại cường, nên đại sứ Mỹ tại Liên Hiệp Quốc André Young đă nói rơ như sau :’’ Chúng tôi coi Việt Nam như một Nam Tư ở Châu Á. Không phải một bộ phận của Trung Quốc hay của Liên Xô, mà là một nước độc lập. Một nước Việt Nam mạnh và độc lập là phù hợp với lợi ích quốc gia của Mỹ’’ ( tháng 01-1977)

Như thế, Việt Nam đă bỏ mất nhiều cơ may đưa đất nước tiến lên và phát triển. VN đă tụt hậu gần 20 năm trong sự tŕ trệ và ngu dốt. Đă có một lịch sử đứt đoạn phân chia rạch ṛi trước 1975 và sau 1975. Đă có một giai đoạn mất mát, cắt đứt với cộng đồng quốc tế và đất nước rơi vào t́nh trạng nghèo đói, lạc hậu và chậm tiến.

Đó là một lỗi lầm lịch sử lớn lao mà trách nhiệm là đảng cầm quyền CS.

Cả một tập đoàn cán bộ cao cấp đều thiếu một cái nh́n viễn kiến, một chính sách hợp tác quốc tế ngay từ đầu. Cái tư thế chính trị, quân sự của ta lúc bấy giờ là lớn lắm nếu có một chính sách ngoại giao cởi mở, mềm dẻo, biết điều, không hỗng hănh quá lố đến lố bịch sẵn sàng hợp tác với cộng đồng quốc tế. Ta đă ngu dại, ngủ quên với những chiến thắng, coi trời bằng vung.

Và cho đến bây giờ, cái đảng cầm quyền đó vẫn vấp phạm những sai lầm lớn nhỏ với t́nh trạng tham nhũng hầu như vô phương cứu chữa.

Một nhận xét cuối cùng của tôi sau một năm ngày giải phóng là: 

Họ đă làm mất ḷng dân mà họ không cần biết.

 

Sau một năm giải phóng, Tất cả mọi người từ già tới trẻ, từ đủ mọi thành phần xă hội đều mất tin tưởng và thấy rằng đất nước này không khá dược nếu c̣n đảng CS.

Xu hướng này đến nay càng rơ nét. Phải thay đổi, phải dẹp bỏ đảng CS nếu muốn đất nước đi lên.

Cho đến nay, những ǵ họ tuyên truyền để phá huỷ, chuỳ dập, phỉ báng, bôi nhọ, kết ánvv th́ sau thời kỳ đổi mới kể từ 1986.. Họ làm cuộc cách mạng trở về với cái cũ, cái mà họ từng phỉ nhổ, lăng nhục. Và một biểu tượng hết ư hết lời về đất nước ḿnh, ấy là h́nh ảnh những cột xi măng thay v́ phải là cột xi măng cốt sắt, nó lại là những cột xi măng cốt tre.

Đất nước này chỉ toàn là những cột xi măng đúc bẳng cốt tre thay v́ cốt sắt. Chúng ta hăy tự chọn cho ḿnh một thái độ thích hợp.

 

Nguyễn Văn Lục

 

______________________


Chú thích của người viết:

Bài viết này mà tính chất là kư như một truyện kể . Để đạt được tính sinh động, nhẹ nhàng và bớt nặng nề của một bài khảo luận. Người viết xin không làm foot note dưới mỗi dẫn chứng và xin chỉ liệt kê một số sách, số tài liệu chính mà người viết đă xử dụng trong bài viết này. Nhiều chỗ, nhiều đọan đă lấy nguyên văn để cho có được độ chính xác và nghiêm túc. Sau nữa cũng không liệt kê vô số các tài liệu rút ra từ các báo ngoại quốc, các  bản tin hay tiếng Việt như Tin nhà, Đi Tới, Sàig̣n giải phóng..

Tài liệu ngoại quốc được trích dẫn từ cuốn:

La mousson de la liberté của Brigitte Friang.
Vivre au Viet Nam của Alain Ruscio 
L'aigle et le dragon của Claude de Groulat.
La guerre d'Indochine của Lucien Bodar.

Le temps des chiens muets. Mgr Paul Seitz. Flamarion.

 

Cũng xin cám ơn các bạn Nguyễn Trọng Văn đă cho tôi có dịp in Cuốn Đời của HNN mà tôi đă xử dụng nó rất nhiều trong bài viết này. Cám ơn đặc biệt bạn Đỗ Hữu Nghiêm đă gửi cho tôi cuốn: 30 năm công giáo VN dưới chế độ CS, 1975-2005 mà tôi đă dùng để trích dẫn nhiều tài liệu quư giá về TCG của những tác giả như Đỗ Hữu Nghiêm, Trần Ngọc Báu, Vũ Sinh Hiên, Lê Thiên và giáo sư Nguyễn Chính Kết. Sau chót, không quên Nhận Định 10, trong nước, ngoài nước của Nguyễn Văn Trung.

Về phía Tây th́ tôi chẳng có cách ǵ để liên lạc để cám ơn họ cả, dù có muốn cám ơn.

 

 

Trang Nguyễn Văn Lục

art2all.net