30-4-1975

30-4-1976

30-4-2006

 

Đi t́m thời gian đánh mất

 

Nguyễn Văn Lục

 

 

 

Sàig̣n không c̣n ngày
 
Buổi tối, tôi leo lên sân thượng. Trời tối đen, có một sư im lặng sâu thẳm. Nhưng trong bóng đêm, tôi đă nghe rơ được tiếng của im lặng. Cái im lặng của cơi đêm,  của một trống rỗng,  của  một hố thẳm, của một mảnh đời đang sống đă khép lại. Chỉ mới hôm qua, những chiếc trực thăng c̣n lập ḷe trên các mái nhà và biệt tăm ngay sau đó vào đêm tối. Rồi chốc lát đă mất hút. Niềm hy vọng như cạn ṃn.

 

Một triệu, một trăm mười ngàn (1.110.000) binh sĩ VNCH đâu rồi? Và 50 binh sĩ Hoa Kỳ c̣n sót lại ? Mà Neil Sheenan trong Innocence perdu đă từng nói: “Cette guerre que nous n’aurons jamais gagné’’ (Trận chiến mà chúng ta đă chưa hề bao giờ thắng). Mà nay chúng ta chuẩn bị một cuộc hành tŕnh qua sa mạc (une traversée du désert) với khô héo cạn kiệt hy vọng, một hành tŕnh gian khổ với đầy bất trắc đe dọa, hiểm nguy.

 

Trưa 30-04-1975, ngồi một ḿnh thấy tương lai vô định. Ḷng buồn vô tả. Nước mắt tuôn trào không ngăn được. Bụng tự nhiên nhói lên từng lời. Vui chưa thấy, lo th́ như ứa tràn. Chẳng hiểu chính quyền mới đối xử ra sao ? Đó cũng là mối lo của tất cả mọi nguời. Chiến tranh đă chấm dứt. Đáng nhẽ phải vui mà hóa buồn.


Hết rồi cảnh chạy đôn chạy đáo t́m đường thoát thân. Có sự im lặng nặng nề như một con vật chờ chết trong nỗi tuyệt vọng. Ván bài chơi đă xong. Ngoài đường, 8 chiến xa T-54 đă vào thành phố trên đại lộ Thống Nhất. Nhiều nhà đóng cửa rồi từ trong nhà ngó ra xem động tĩnh. Chỉ có một thiểu số người dám ra đường đứng thản nhiên nh́n đoàn xe cộ đi qua. Bộ đội tỏ ra ngơ ngác và kỷ luật. Họ dơ tay vẫy chào ngượng ngập.

 

Măi vào lúc 16 chiều ngày 30-4-1975, ba vị thuyết khách của ông Dương Văn Minh, thuộc thành phần thứ ba là luật sư Trần Ngọc Liễng, giáo sư Châu Tâm Luân và Linh Mục Chân Tín mới từ trại David Tân Sơn Nhứt ra về. Các ông là những người được tướng DVM cử làm đại diện vào trại David chiều ngày 29-4-1975 để thuyết phục những người của Mặt trận với lời yêu cầu họ đừng đánh phá Sàig̣n. Các tướng Nguyễn Anh Tuấn và Đại tá Vơ Đông Giang đă hứa chỉ pháo chút ít để làm áp lực với tướng DVM mà thôi. Quân Bắc Việt đă tiến quân vào TSN nên các ông bị kẹt lại cho đến chiều 30 tháng tư mới ra về được.

 

21 năm sau, ngày 28-1-1996, Chân Tín trả lời phỏng vấn đài VNCR đă nói khác:’’ Chúng tôi ngồi yên nh́n cái ngu dốt và cái sa lầy của một chế dộ đang trên đà tan ră’’. Nay, mới đây nghe tin ông ra tờ báo chui. 82 tuổi đầu tưởng đă tự cho phép ḿnh hưu tranh đấu. Ông vẫn chưa ngưng nghỉ. Điều ǵ khiến một nguời đă tạm quay mặt với Chúa để theo Cách mạng, nay trở thành kẻ đối đầu với chính những điều xác tín của ḿnh ?

 

Ngoài phố, chỉ c̣n nghe tiếng xích sắt khô khan của bánh xe nghiến trên mặt đường nhựa. Mặt đất như rung lên bần bật. Sàig̣n như oặn ḿnh dưới làn xích sắt đi qua. Tiếng xích sắt như nhắc nhở gợi về tiếng xích sắt của mùa xuân Praha năm nào. Cái mùa xuân nát úa. Cái mùa xuân hy vọng của tuổi trẻ Prague chưa kịp nhú lên th́ đă bị xích sắt xe tăng của Hồng quân Liên Xô đè dập nát khi tiến vào Prague, trên những dường phố lát đá gồ ghề, thẫm màu đen thuở nào. Praha, Sàig̣n, ngạo nghễ và tủi nhục.

 

Những chiến xa trên có cắm cờ của mặt trận Giải Phóng miền Nam như niềm hy vọng nhỏ nhoi của người Sàig̣n. Niềm hy vọng mong manh mà đằng kia là cuối đuờng.

 

Những chiếc chiến xa đang chạy trên đường Tự Do, Catinat cho nguời ta có cảm tưởng đường Tự Do của

miền Nam là đại lộ Champs-Élysées của Paris…  Nhưng Champs-Élysées của Paris vào tháng 8-1944 là cả một biển người đón tiếp De Gaulle. Biển người đó là nỗi vui mừng giải thoát, chỉ có tiếng cười và nước mắt hoan lạc.

 

Nhưng Champs Élysées th́ không phải đưởng Tự Do ở Sàig̣n. Đường Tự Do không có nỗi vui hoan lạc mà chỉ có những ánh mắt lo âu và sợ sệt. Ở một góc phố cạnh hotel Majestic,  người ta thấy một nhóm nhỏ người đứng nh́n chiến xa đi qua. Bên kia đường, có một thanh niên mặc quần tây áo trắng bỏ ngoài quần, chắp tay đứng

nh́n. Không có biển ngựi mà cũng không có tiếng vỗ tay reo ḥ. Và 125 nhà báo ngoại quốc đứng ở đâu đó.

Họ c̣n ở lại để chứng kiến cảnh tháo chạy, cái cảnh mà Bảo Ninh đă mô tả trong truyện ngắn Ba lẻ một: chen chúc, xô lấn, giày đạp, chà xéo, đánh nhau, giết nhau, cưỡng hiếp và cướp bóc và cảnh tiến tới ồ ạt của những T54 và K63, như một cơn lốc bẳng thép xé mặt lộ lướt tới với thần tốc kinh hồn, là phẳng mọi chướng ngại trên đường, nhắm hướng Nam truy kích…

 

Đài phát thanh Sàig̣n mở đầu bằng tiếng hát Trịnh Công Sơn. Tiếng hát một thời. Tiếng hát của một đời ngựi.

Anh  cất tiếng hát không phải khúc ca da vàng, nhưng lạc lơng với bài : Nối Ṿng tay lớn  bên cạnh đám bạn bè anh, trong đó có Nguyễn Hữu Thái, một SV tranh đấu.

 

Dân Sàig̣n đă đón tiếp quân Giải Phóng như thế. Một nhúm người người dân ngơ ngác, 125 nhà báo và TCS  với Nối Ṿng Tay Lớn. 8 chiến xa có trang bị kính nhắm hồng ngoại tuyến dùng cho những cuộc đánh nhau ban đêm? Chả c̣n ǵ để dấu diếm nữa. Những chiến xa Liên Xô từ ngoài Bắc chạy thẳng vào chứ đâu phải của mặt trận giải phóng miền Nam ? Trên chiến xa có cắm cờ MTGPMN. Nhưng cắm một lá cờ th́ không lẽ đủ để thay đổi nguồn gốc một lịch sử.

 

Trong khi đó, ông Minh và toàn bộ chính phủ ông đă chờ sẵn tại dinh độc lập để trao quyền hành lại cho những người chủ mới. Người ta không thấy có một đại diện nào của MTGPMN. Nhiều người chê trách ông Minh hèn "bán đứng miền Nam". Nếu ông Minh hèn th́ những kẻ chạy vắt gị lên cổ từ những ngày cuối tháng tư phải gọi bằng tên ǵ ? Kẻ trốn chạy và kẻ ở lại lănh thẹo, ai hèn hơn ai ? Sài g̣n lúc đó như một băi rác với đủ thứ rác: rác Mỹ, rác quân đội với súng ống, quân trang, quân dụng vứt bừa băi, rác chính quyền tham nhũng. Cùng lắm, ông Minh chỉ là người không thức thời cúi ḿnh xuống nhặt cái danh chính quyền bị người ta vứt lại từ đống rác đó.


Lại c̣n vấn đề trao cái chính quyền đó vào tay ai ? Chẳng biết nữa, người nói ông Bùi Tín, người nói Chính ủy Tùng. Theo Stanley Karnov, trong Viet Nam viết : "Ngồi trên một chiến xa vào dinh độc lập, Ông Bùi Tin chuẩn bị đóng hai vai tṛ một lúc: Là nhà báo, ông muốn là nhân chứng cho cuộc đầu hàng. Nhưng là sĩ quan cao cấp trong đơn vị của ông, ông muốn chính ông tiếp nhận sự đầu hàng này.Tôi chờ các ông từ sáng nay để trao quyền hành lại cho các ông, đại tướng Minh đă nói như thế khi ông Bùi Tín vào đến đại sảnh. Bùi Tín đáp lại, không có vấn đề trao quyền hành. Quyền hành của các ông c̣n đâu để mà giao. Ông không thể giao một cái mà ông không có." ( Pénétrant à bord d'un char dans la cour du Palais, il se préparait à jouer un double rôle: journaliste, il désirait être témoin de la capitulation, officier le plus élevé en grade de son unité, il avait pour devoir de la recevoir. J'attends depuis ce matin pour vous remettre le pouvoir, annonca le général Minh, quand Bui Tin entre dans le salon. Il n'en est pas question, répliqua le colonel. Votre pouvoir s'est écroulé. Vous ne pouvez donner ce que vous n'avez pas.)

Nhưng có lẽ  câu nói quan trọng nhất của Bùi Tín vẫn là câu sau đây :"Cùng là người Việt Nam cả, sẽ không có kẻ thắng người bại. Chỉ có người Mỹ là kẻ bại trận. Nếu ông là người yêu nước, đây là lúc để vui mừng, v́ chiến tranh đă không c̣n nữa trên quê hương của chúng ta "  (Entre Vietnamiens, il n'y a ni vainqeur, ni vaincus. Seul les Américains ont été battus. Si vous êtes patriotes, c'est le moment de vous réjouir. La guerre pour notre pays est terminée"

 

Từ đó đến nay, đă hơn 30 năm, người ta vẫn chờ đợi câu nói của Bùi Tín được thực hiện.

 

Cũng trong tháng 9 năm 1975, các ông Lê Đức Thọ và Xuân Thủy c̣n nhắc nhở mọi người rằng: Ai c̣n nói ngụy là nguy…

Hồi mất Điện Biên Phủ, cuộc chiến giữa Pháp và Việt Minh phải mất 56 ngày đêm.  Mất Sàg̣n nhanh hơn,  chỉ có 55 ngày. Ít hơn một ngày. Hồi ĐBP, chỉ mất một nữa. Lần này mất tất cả. 

 

 

Phía những người thua trận

 

Không kể những người đă tháo chạy, không kể những người c̣n kẹt lại trong gọng ḱm lịch sử oan nghiệt. C̣n có những người cất lên tiếng nói cuối cùng.

 

Thiếu Tá Long, Cảnh sát Quốc Gia đă đến đứng trước tượng TQLC trước ṭa nhà Quốc Hội ở Sàig̣n rồi rút súng tự sát. Ông đă nằm chết ngay dưới chân pho tượng.

 

Trung sĩ Quân Cảnh Trần Minh, thuộc đại đội một quân cảnh phụ trách an ninh khu vực Bộ Tổng Tham Mưu. Lúc 10giờ 30, sau khi nghe tin đầu hàng, trung sĩ Trần Minh đă dùng súng lục tự tử dưới chân cột cờ Bộ TTM.

 

Thêm vào đó là những cái chết của Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ, tư lệnh sư đoàn 5 bộ binh. Chuẩn tướng Trần văn Hai, sư đoàn 7 bộ binh. Thiếu Tướng Phạm văn Phú, tư lệnh quân khu 2. Thiếu tướng Lê Văn Hưng, Tư lệnh phó quân đoàn 4. Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, tư lệnh quân đoàn 4. Những cái chết anh dũng. Nhưng đă thay đổi được ǵ và có thể đại diện cho những vị khác đă bỏ chạy không ? Đó là những cái chết bằng ngàn lời ca, bằng vạn tiếng nói.

 

Và kẻ chết cuối cùng vẫn là kẻ có lư.


Và tự sát bao giờ cũng cần được hiểu là một sự hy sinh cuối cùng ( Ultimate sacrifice ) đáng được trân trọng.

 

Không có cái chết vô ích mà chỉ có những cái sống vô ích.

 

Đó là số phận những người đă tự chọn cái chết.

 

C̣n số phận những người c̣n lại ?

 

Tôi ghi lại đây h́nh ảnh một anh lính VNCH, đi chân đất, hai tay áo rách, đầu gối rách, chắp tay. Đằng sau anh là một bộ dội mặc đồ đen, cầm súng lăm lăm và sau chót là đám đông dân làng, khoảng 6, 7 chục người khoanh tay bất lực với lời ghi chú của nhiếp ảnh viên:* Un avenir qui ne s!annonce pas vraiment radieux pour ce soldat de Thiệu: pendant combien d!années sera-t-il rééduqué.. ( ảnh của Abbas. Gamma). Một tương lai không mấy sáng sủa cho người lính này của Thiệu: Người lính này sẽ bị đưa đi học tập cải tạo trong bao lâu?

 

Thật ra người lính lúc đó chỉ có 3 chọn lựa: di tản ra  nước ngoài,  nhẫn nhục để đi học tập cải tạo hoặc t́m đến cái chết. Cạnh đó là bức h́nh của kẻ chiến thắng. H́nh một anh bộ đội chống nạng, cụt hẳn một gị đến háng, đi bên cạnh một xe tăng đă bốc cháy với lời ghi:* Après les vingt- cinq années de guerre, une photo qui résume tout  (ảnh của Leroy-Gamma). Sau 25 năm cuộc chiến, một bức h́nh nói lên tất cả..


Cũng khoảng 2 giờ rưỡi trưa hôm ấy, những chiến xa  đă từ trong dinh Độc Lập chạy dọc theo đại lộ Catinat-Tự Do, từ nhà thờ Đức Bà ra hướng bờ sông.. Có tới mười người dụt dè dơ cánh tay vẫy chào. Nhiệm vụ của người chiến thắng không phải là dễ. Chiếm được Sài g̣n rồi, nhưng làm sao thay v́ chỉ có 10 cánh tay dụt dè dơ lên, phải nhân lên bao nhiêu triệu lần ? Phải chờ xem vậy thôi.


Vào cái giờ này của ngày chiến thắng. Toàn bộ báo chí đă ngưng xuất bản. Gần 50 chục báo hằng ngày của Sàig̣n sáng nay vắng mặt. Họ đâu cả rồi ? Tất cả liên lạc viễn thông với thế giới bên ngoài cũng bị cắt. Họa chăng c̣n lại đại diện của các ṭa đại sứ sau đây: Pháp, Bỉ, Nhật, Khâm sứ ṭa thánh, Thụy Sĩ và lănh sự Ấn độ.  Chế độ mới hầu như tạm thời cắt đứt với thế giới bên ngoài. Cho măi đến ngày 23 tháng năm, liên lạc với thế giới bên ngoài mới được nối lại và chuyến bay đầu tiên ra nước ngoài vào ngày 24 tháng năm. Chuyến bay này chở một số người ngoại quốc c̣n kẹt lại trong thành phố mà phần lớn là người Pháp.

 

Theo Ngũ Giác Đài, có khoảng 50 ngưởi Mỹ bị kẹt lại VN sau ngày 30 tháng tư, cộng thêm 26 người VN  là vợ con của những người Mỹ này. Sát cạnh nhà tôi, có hai vợ chồng người Việt cũng ra đi theo diện quốc tịch Pháp. Trong t́nh huống này mới thấy người Pháp là những người tử tế. Chị họ con ông bác tên Diệp, làm y tá nhà thương Grall cũng được đi và sang Pháp cũng làm y tá lại, lương bổng ngạch trật như cũ. Chẳng bao lâu sau, có vợ chồng một đại tá, đă đến cư ngụ ờ căn nhà đó. Sau này, suốt vài năm ở cạnh nhà như hàng xóm, ra vào đụng mặt nhau, ông bà chưa bao giờ nói chuyện, hoặc chào hỏi chúng tôi lấy một lần. Điều này phải được hiểu là thế nào ? Không dễ dàng ǵ để những người dại diện đó được nh́n nhận. Họ không có trong mắt của người Sàig̣n.

 

Chiến thắng th́ đă xong, nhưng chinh phục th́ chưa tới.


 

Phía trí thức miền Nam: Mặt trận Giải Phóng, ảo tưởng và  ảo ảnh.

 

Xin ghi lại dây h́nh một bé gái chừng 12 tuổi, đầu quấn một khăn trắng đang đi trên một bờ ruộng với lá cờ MTGPMN, hai mầu, ở giữa có ngôi sao với lời tiên đoán:* le drapeau du FNL flotte sur le Sud-VietNam. Il sera sous peu remplacé par le drapeau du Nord, devenu celui du Viet Nam réunifié  { ảnh của JC Labbé-Gamma}. (Lá cờ MTGPMN tung bay ở miền Nam VN. Nhưng chẳng bao lâu nữa, nó sẽ được thay thế bằng cờ của miền Bắc, trở thành cờ của VN thống nhất).


Cuộc chiến tranh giữa hai miền Nam Bắc đă để lại một di sản thừa như một cục bướu ung thư cần nhổ. Đó là MTGPMN. Mặt trận này đối với trí thức thành phần thứ ba hay đối với sinh viên VN hải ngoại chỉ dẫn đưa họ đến một kết quả là: những ảo tưởng vĩ đại ( grandes illusions) và đối với toàn thể thế giới là một âm mưu lừa bịp trắng trợn.

 

Xin nhắc để mọi người cùng nhớ: những trí thức đi theo Mặt trận hồi đó gồm có các ông luật sư Trịnh Đ́nh Thảo, Chủ tịch LMCLLDTDCVHBVN, phó chủ tịch HĐCV CPLTCHMNVN, chủ tịch UBTUMTTQVN và vợ là Ngô Thị Phú, ở Sóc Trang. Lâm Văn Tết, Phùng Văn Cung, Trần Kim Bảng, bút hiệu Thiên Giang, vợ nữ sĩ Vân Trang. Nguyễn Văn Ch́, Chánh án Phạm Ngọc Thu, dược sĩ Đỗ Thu, Kỹ sư Cao Văn Bổn, Kỹ sư Tô Văn Cang, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, chức sắc Cao Đài Nguyễn Văn Ngưỡi, kỹ sư Trương Như Tảng,  bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, bà Nguyễn Thị B́nh, Huỳnh Tấn Phát,  luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Lữ Phương,  bà Bùi Thị Nga, Trần quang Long, Trần Triệu Luật, nhà vănThanh Nghị Hoàng Trọng Quỳ và vợ ca sĩ Tâm Vấn. Thêm vào đó gs Lê Văn Hảo theo vào năm 1968, chủ tịch LMCLLDTDCVHBVN, thêm chủ tịch UBKNHTT. Trong dịp tờ Quê Mẹ phỏng vấn ông năm, 1999 ở Pháp, ông Hảo giải thích: dư luận gán cho ông  về cuộc rhảm sát Mậu Thân ở Huế là không đúng. Thứ nhất, lúc quân đội CS đánh Huế, tôi không có mặt trong thành phố. Trước tết 5 ngày, tôi được dẫn lên núi, nói là mời họp rồi giữ tôi ở lại luôn, không về thành phố lần nào. Cùng với tôi có Hoàng Phủ NgọcTường. Chỉ có Hoàng Phủ Ngọc Phan và Nguyễn Đắc Xuân đă theo bộ đội về Huế và tôi được biết Phan và Xuân đă từng ngồi xét sử nhiều người có quan hệ với chính quyền Sàig̣n, trong những phiên xử của cái gọi là Toà Án Nhân Dân.

 

Sau này, các ông Trần Quang Long, Trần Triệu Luật đă chết v́ bom Mỹ. C̣n lại là những người sống sót trở về..

 

 

Sau 30 tháng 4, đám trí thức trên vỡ mộng. Họ không có một vị trí nào trong  chính quyền Cộng Sản tương lai và danh xưng MTGPMN cũng không ai muốn nhắc tới. Chẳng bao lâu sau ngày giải phóng, cờ của Mặt trận bị cuốn gói, xếp một chỗ.

 

Có thể bà bác sĩ Dương Quỳnh Hoa là người đầu tiên xin ra khỏi đảng CS và không tham dự phái đoàn nhân sĩ trí thức miền Nam ra ngoài Bắc. Lư do chính là hai vợ chồng chính thức phản đối việc thống nhất hai miền như một thứ bội phản đối với miền Nam. Đơn xin rút tên ra khỏi đảng đă được Thủ tướng Phạm Văn Đồng ra một điều kiện: Phải 10 năm sau mới được quyền công bố chính thức rút tên ra khỏi đảng. Sau này, trong bài phỏng vấn trả lời trên tờ Far Eastern economic review (Feer) ngày 17-10-1996, Dương Quỳnh Hoa đă trả lời câu hỏi: « Quel est l’évènement le plus marquant pendant les 50 années passées?» bằng một phán quyết: « L’effondrement du mur de Berlin qui mit un terme à la ‘grande illusion’. » ( Biến cố nào được coi là nổi bật nhất trong 50 năm đă qua? Trả lời: Sự sụp đổ bức tường Bá Linh chấm dứt một thời kỳ cuả ‘ảo tưởng lớn’).

 

Và nói như ông Hồ Sĩ Khuê: “Thành viên Mặt trận thực sự chẳng có bao nhiêu. Nhưng ở Sài G̣n, sao mà ai cũng có vẻ là người của Mặt trận quá.”  Nhưng bên trong, họ chỉ làm bù nh́n. H́nh nộm” ngồi chơi xơi nước” như theo lời tường thuật của kỹ sư Trương Như Tảng. Ông Tảng vốn là một sinh viên du học bên Pháp, có dịp gặp Hồ Chí Minh, coi HCM như khuôn mặt lănh tụ sáng chói nhất để chống lại người Mỹ, và trước mắt, chống lại chính quyền Ngô Đ́nh Diệm đă viết: Hồi kư của một Việt cộng (A Viet Cong Memoir) cho thấy MTGPMN chỉ là một sự dàn dựng, họ được đưa vào bưng để làm bung xung, đánh lừa cả thế giới. Họ bị bịt mắt, dẫn đi quanh co trong rừng. Những buổi họp, để giữ bí mật, các thành viên mặt trận đều bịt mặt, v́ thế chẳng biết ai vào với ai. Ai là thật, ai là giả? Đó là kinh nghiệm đau xót của một số ít trí thức miền Nam. Trong The Myth of Libération, Trương Như Tảng tố cáo sự dàn dựng giả dối của chính quyền Cộng sản Hà Nội: “Trong nhiều năm, họ đă nghe Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa long trọng tuyên bố cam kết”, qua lời Tổng bí thư Lê Duẩn, rằng “Miền Nam cần có chính sách riêng của miền Nam”.  Hay như lời Thủ tướng Phạm Văn Đồng tuyên bố với phóng viên nước ngoài: “Chẳng ai lại có cái ư nghĩ ngu xuẩn và tội lỗi là thôn tính miền Nam”. 

William Shawcross, trên tờ Washington Post, nhận xét:*  “He became the Viet Cong’s Minister of Justice, but at the end of the war, he fled the country in disillusionment and despair. He now lives in exile in Paris, the highest level official to have defected from Viet Nam to the West. This is his candid, revealing and unforgettable autobiography. (Tạm dịch: “Ông trở thành Bộ trưởng Tư pháp trong chính phủ Việt cộng, nhưng sau khi chiến tranh chấm dứt, ông đă trốn thoát khỏi Việt Nam với tâm trạng bị vỡ mộng và thất vọng. Nay ông tỵ nạn ở Paris. Ông là một trong những viên chức cao cấp nhất đă đào thoát ra khỏi Việt Nam sang Tây Phương. Đây là cuốn tự truyện đáng nhớ, phơi bày (nhiều chuyện) và thành thật.”)

Vai tṛ bù nh́n của MTGPMN cũng được đề cập đến trong hồi kư của Vũ Thư Hiên. Ông viết: “Trẻ con miền Bắc cũng biết Mặt trận Giải phóng là do miền Bắc dựng nên”.

Người trí thức miền Nam một lần nữa bị lừa gạt .

Riêng Nguyễn Hữu Thọ, sau 1975 được làm phó chủ tịch nước. 1981, phó chủ tịch quốc hội, 1988, chủ tịch Mặt Trận Tổ Quốc… Nhưng cuối cùng th́ ông cũng phải thốt ra một câu như sau: “Dân chủ không thể có bằng sự ban ơn, mà bằng sự đấu tranh”.

Sau ngày miền Nam bị mất vào tay Cộng sản, nhiều người trong bọn họ trước đó mang ảo tưởng sẽ có vai tṛ, sẽ được dùng, sẽ được lănh đạo miền Nam, bị gạt ra bên lề một cách thảm hại, có chức mà không có quyền. Màn lường gạt, tráo trở này chắc chắn không phải lần đầu mà chắc chắn cũng không phải lần cuối. Những người trí thức này chỉ quên một điều: Người Cộng Sản bao giờ cũng ăn thịt trước tiên những đứa con đẻ của ḿnh.

Niên lịch mới, Sàig̣n thời của những tiên tri giả.

Bộ đội chính quy, cán bộ miền Bắc đă đành là có mặt. Nhưng đám 30 tháng tư, bọn cách mạng 30 cơ hội nhố nhăng th́ đầy đường, đầy ngơ. Không biết ở đâu ra mà họ đông thế. Chúng là những tiên tri giả, bán rao thời cuộc. Gọi theo một thứ ngôn ngữ chuyên dùng hơn th́ đó là bọn tiêu bạc giả, vốn liếng là sự bịp bợm, sự tráo trở và tư cách vô liêm xỉ. Có thể bọn họ tuần trước, tháng trước, năm trước c̣n "đả đảo Cộng Sản" nay th́ hoan hô… Bên cạnh đó, có một số trí thức đă có dính dáng, hoạt động bí mật trong Mặt Trận nay xuất đầu lộ diện. Trong số này, có Giáo sư Lư Chánh Trung, sau làm đại biểu Quốc hộI, Nguyễn Ngọc Lan trên tờ Đối Diện nay đổi là Đứng Dậy. Đổi tên tờ báo đă khéo, chơi chữ đă khéo. Nhưng Đứng Dậy có  thể  hiểu lầm là  nổi dậy. Hăy coi chừng. Một số người khác như Nguyễn Đ́nh Đầu, luôn luôn dấu mặt sau hội trường dật giây và em rể, giáo sư Trần Đức Quảng, gs Châu Tâm Luân,  LM Chân Tín,  Trần Bá Cường v.v.

 

Và nếu nói như người Pháp: « Il n’ y a que le premier pas qui compte »,  có nghĩa chỉ bước đầu tiên mới quan trọng, th́ những người trên là những người đầu tiên ló mặt sau ngày Giải Phóng t́m một vị trí quan trọng?

 

 

Ngày 4-5-1975, xung đột với Cam phu chia

 

Nhũng tin tức nóng hổi sau đây nhiều bạn đọc, sau hơn 30 năm, có thể đây là lần đầu tiên đuợc nghe nói tới. Điều đó không lạ, v́ tin tức thông tin nằm trong mạng lưới tuyên truyền của chế độ CS. Vào ngày 4-5-1975, có nghĩa là chỉ bốn ngày sau khi miền Nam thua trận, quân đội Khờ me của Pol Pot đă đổ bộ xâm chiếm đảo Phú Quốc. Ngày mồng 8, quân đội trên bộ của Pol Pot đột nhập vào tỉnh Tây Ninh. Ngày 10, chiếm đảo Thổ Chu và bắt hơn 500 thường dân. Để trả đũa, bộ đội VN chiếm đảo Poulo Way, sau đó th́ rút lui. Tất cả những biến cố trên xảy ra dân chúng đều không hay biết v́ các báo bị đ́nh bản. Nhưng đài phát thanh cũng không thông báo cho dân chúng biết.

 

Ṇng súng của bộ đội Bắc Việt chưa kịp nguội th́ đă chuẩn bị cho một cuộc chiến khác. Hai cuộc chiến trước đây là chiến tranh chống chủ nghĩa Đế quốc thực dân, vậy th́ sẽ gọi tên cuộc chiến sắp tới là ǵ ? Cho đến nay,  có hai cuộc chiến đă xảy ra, một phía Nam và một phía Bắc VN. Vẫn chưa có một tên gọi thích đáng. Chúng vẫn chưa có một giấy khai sinh hộ tịch. Phải gọi đó là những cuộc chiến tranh ǵ ? Cũng không ai nhắc tới nửa lời về lẽ thắng thua của hai cuộc chiến ấy. Mọi chuyện được bung bít dấu nhẹm như thường lệ. Nói gian dối là cái lệ của người làm chính trị chẳng khác ǵ rỉ  sét là cái đương nhiên của vỏ tầu biển. Nói gian dối riết rồi bị lộ, bị ch́m chẳng khác ǵ rỉ sét lâu ngày đục vỡ sàn tầu.

 

Quân đội Khờ Me Đỏ mới vào Nam Vang hôm 17 tháng 4, th́ ngay ngày hôm sau đă chuyển quân về hướng biên giới VN. Và như đă tŕnh bày ở trên, đă chiếm đảo Phú Quốc. Theo ông Phan Hiền th́ sau đó, nhiều cuộc thương thuyết đă diễn ra từ tháng 4-1976, nhưng kết quả không đi tới đâu và hai bên đă ngưng mọi thương thuyết vào ngày 18 -5-1976... Sang đến tháng 4-1977 th́ tranh chấp giữa hai bên càng trở nên ác liệt. Các tỉnh biên giới của VN như Tây Ninh, Hà Tiên phải di tản dân chúng. Tây Ninh th́ một phần dân chúng phải bỏ nhà, Hà Tiên đến ba chục ngàn người phải di tản đi nơi khác. Phóng biên Roland-Pierre Paringaux đă nh́n thấy hàng đống thây người bị giết, bị cắt cổ ở các ruộng thuộc tỉnh Hà Tiên. Francois Nivolon cũng đă nh́n thấy những cảnh chém giết, dốt nhà tàn bạo như thế ở làng Mỹ Đức, cách biên giới Cam Pu Chia chỉ 4 km. Có gia đ́nh cả bố mẹ, 4 anh chị em đều bị giết, trừ một người con gái sống sót kể lại như một nhân chứng. Sau này, Ông Ngô Diên tố cáo có cố vấn Trung Quốc trong các binh đội quân Khờ me đỏ. Phải chăng, đằng sau Pol Pot là kẻ thù cố cựu của VN ? Thật vậy, do sự xúi dục của Bắc kinh, chính quyền Căm bốt mới dám gây chiến tranh biên giới với Việt Nam và cắt đứt quan hệ ngoại giao với ta ngày 31-12-1977.

 

Ông Trần Văn An, một cán bộ tỉnh, cho biết từ 1975, tại tỉnh Tây Ninh, tỉnh giáp ranh với Cam bốt, có một 1090 thường dân bị giết do quân đội Pol Pot gây ra. 70.000 dân chúng phải dời bỏ ruộng vườn đi nơi khác. 15000 mẫu hoa mầu bỏ không canh tác. Tuy nhiên, đây cũng chỉ là những con số đưa ra, sự thẩm định độ chính xác cần được dè dặt.

 

Trong một tài liệu sau này VN thu nhặt được cho thấy Pol Pot coi cuộc đối đầu giữa Cambốt và VN là một đối đầu giữa Sống hoặc Chết. Sự thù ghét của Pol Pốt đă rơ ràng và minh bạch trong cuốn Sách đen ghi nhận:’’ Dân tộc Cam Bốt nuôi một mối hận quốc gia đối với Việt Nam, một kẻ hiếu chiến đi xâm lược, nuốt chửng đất đai của Cambốt. Người Cam Bốt biết rơ ràng tính xảo trá, mưu mô quỷ quyệt và giả h́nh của VN. VN hành động như một Hitler đối với Cambốt một cách man rợ và Phát xít. Chúng ta phải bằng mọi cách giết người VN, một đổi 30.’’

 

Cũng sau này, trên mặt báo Le Figaro đă cho chạy một hàng tít lớn, phóng viên Yves-Guy Berges xác nhận: « Hà nội đang tiến hành một cách khoa học một cuộc diệt chủng lớn nhất trong lịch sử » (Hanoi procède scientifiquement au plus grand génocide de l’histoire). Điều này xem ra có vẻ không đúng sự thật. Le Figaro tỏ ra thiếu ngay thẳng và trung thực. Hà nội đă không đến mỗi ngu dại như thế, v́ họ có cách xử lư khôn ngoan và khéo léo hơn. Nhưng mặc dù Pol pot gây hấn trước đă mang quân sang chiếm đóng Phú Quốc, việc VN mang quân sang chiếm đóng Campuchia đă bị cộng đồng thế giới lên án khiến uy tín ngoại giao của VN bị suy giảm,  nhất là đối với các nước Đông Nam Á. Về phía người Mỹ, Ngoại trưởng Mỹ Cyrus Vance nói :’’  Các cuộc nói chuyện Mỹ-Việt Nam về b́nh thường hoá đă tan vỡ do cuộc xâm lược Cam pu chia của Việt Nam.’’

 

Ông Trần Quang Cơ, nguyên thứ trưởng ngoại giao CHXHCNVN, trong Hồi ức và Suy nghĩ đă đặt câu hỏi :’’ Việc ta từ chối  b́nh thưởng hóa quan hệ không điều kiện của Mỹ, làm cao trước việc Asean ngỏ ư muốn VN tham gia tổ chức khu vực này, theo tôi, đă đưa lại những hệ quả vô cùng tai hại cho nhân dân và đất nước. Liệu Trung Quốc có dám tiếp tay cho bọn diệt chủng Pol Pot khiêu khích ta và dám đánh ta năm 1979 nếu như VN sau chiến thắng 1975 có một chiến lược * thêm bạn bớt thù* thực sự cầu thị hơn không?

 

Ngày 5-5-1975, Thông cáo của ṭa Tổng Giám Mục Sàig̣n.

 

Sau tiếng hát của TCS trên đài phát thanh Sàig̣n, dấu hiệu thứ hai đón tiếp chính quyền mới là vị đại diện của Thiên Chúa giáo.

 

Chưa đầy một tuần sau ngày Giải phóng, TGM Nguyễn văn B́nh gửi tâm thư kêu gọi giáo dân phải ḥa ḿnh vào nhịp sống mới, nỗ lực đón nhận trong tinh thần hoà hợp, ḥa giải dân tộc. Lá thư có đoạn như sau:” Một trang sử mới đă mở ra cho dân tộc VN.. Đây là một niềm vui chung của cả dân tộc, và với cái nh́n theo đức tin của người tín hữu, đây cuĩng chính là một hồng ân của Thiên Chúa.. Hơn mọi lúc, giờ đây người công giáo phải hoà ḿnh vào nhịp sống của toàn dân, đi sâu vào ḷng dân tộc.. người công giáo chúng ta phải phải sẵn sàng thi hành một cách tích cực mọi nghĩa vụ công dân do Chính phủ cách mạng lâm thời chỉ dẫn.”

 

Nội trong năm 1975, có cả thảy ba lá thư chung như thế. 12 tháng 6 một lá thứ hai và nhân dịp Hội nghị Hiệp thương thống nhất tổ quốc diễn ra tại TP Sàig̣n, một lá thứ ba mà nội dung nhằm thứ nhất trấn an người TCG, linh mục, tu sĩ trong toàn địa phận. Thứ hai bảo đảm với chính quyền CM về sự sẵn sàng hợp tác trong hoàn cảnh mới. Theo tinh thần hiến chế: Gaudium et Spes. Anh em ơi, hăy vui mừng.  Một vài Kitô giáo trí thức cấp tiến như Nguyễn Ngọc Lan đă dùng thánh kinh để gọi Ngày Giải Phóng: đó là tin mừng cứu độ đă được gửi đến.

 

Bảo Hăy đừng sợ th́ c̣n nghe được. Bảo hăy vui mừng th́ quả thực không dễ.

Một số khác th́ tỏ ra lo ngại về đường lối ḥa giải của Tổng Giám Mục Nguyễn Văn B́nh. Sài g̣n có khoảng 600 linh mục, trong đó có hơn 100 vị đă du học nước ngoài và 2000 tu sĩ phần đồng khép ḿnh đưới sự chỉ đạo của đức cha B́nh. Tất cả những cơ sở trường tư thục TCG như đại học, đại chủng viện như cơ sở ḍng Tên, Đồng Công, Chúa Cứu thế, học viện thánh Piô 10, Đàlạt, các cơ sở thương mại như nhà in Nguyễn Bá Ṭng, trại gà Đàlạt, thương xá Eden, nhà sách, cơ sở nhà in Tân Định đều phải giao nạp cho chính quyền mới. Theo Georg Evers, Missio 2003, CHLB Đức trong bài T́nh trạng nhân quyền tại CHXHCNVN, tự do tôn giáo, bản dịch Việt ngữ của Liên Đoàn công giáo Việt Nam tại Đức th́ Giáo Hội miền Nam có 226 trường trung học, 1030 trường tiểu học. Ngoài ra theo niên giám 2004, vào năm 1962-1963, giáo hội TCG miền Nam có có 58 cô nhi viện nuôi hơn 6000 trẻ em, 48 bệnh viện, 35 viện dưỡng lăo, 8 trại phong và 159 pḥng phát thuốc phát thuốc cho khoảng gần 2 triệu lượt người. Tất cả đều bị trưng thâu, nộp cho nhà nước.

 

Sự chọn lựa của Tổng Giám Mục Nguyễn Văn B́nh đă hẳn không phải dễ. Một tháng trước ngày qua đời, phóng viên Hải Nam, tức Trương Bá Cần, báo CGVDT đă phỏng vấn cụ trong 20 năm  ‘‘sống phúc âm giữa ḷng Dân tộc’’, cụ là người đứng đầu CGVN, xin cụ cho biết cảm tường của cụ trong 20 năm qua sống dưới chế độ VNDCCH, cụ c̣n thấy sợ không. Trả lởi ‘‘vẫn c̣n sợ ” và cụ nói tiếp: "Đời con người giống như một cuộc leo núi. 50 năm đầu là thời gian leo núi và những năm c̣n lại sau này là xuống núi. Khi leo lên núi th́ thời gian kéo dài và khó khăn, c̣n khi xuống núi th́ dễ dàng và nhanh hơn. Nhưng với tôi, 20 năm qua, cảm tưởng sâu đậm của tôi là đă phải sống một thời gian dài nhất của đời người ".

 

Sau này, tác giả Tuệ Không, trong một bài viết vào 10-5-1995, cho rằng tất cả bài phỏng vấn trên là ngụy tạo của Uỷ Ban Tôn giáo chính phủ dựng đứng lên. Toà TGM Sàig̣n cũng xác nhận cụ Nguyễn Văn B́nh đă quá suy yếu, kiệt sức để có thể trả lời một bài phỏng vấn như thế. Bài phỏng vấn từ  câu hỏi đến câu trả lời là của ông Trương Bá Cần dàn dựng viết ra. Ông có đưa tới tŕnh Đức Cha vẫn đang đau yếu, chỉ đọc mấy câu, câu được, câu mất và yêu cầu đừng đăng. Nhưng ông Trương Bá cần đă viện cớ là bài đă lên chữ rồi, ở nhà in, để rồi xin cứ đăng.

 

Theo tôi, có lẽ tâm trạng và ḷng mong ước của cụ Giám Mục B́nh thể hiện rơ nhất trong câu trả lời lúc 80 tuổi của báo Iregno Attualita, đăng lại trên Église d’ Asie là: ‘‘Lúc này đức cha ước vọng ǵ nhất. Trả lời: Sau những biến cố Đông Âu, tôi hy vọng mọi sự sẻ tiến triển tốt đẹp.’’

 

Phía Phật Giáo, cả hai vị lănh đạo của hai khối đều không có tiếng nói. Thượng toạ Thích Tâm Châu chọn lựa ra đi như nhiều người. Thượng toạ Trí Quang th́ tịnh khẩu suốt hơn 30 năm nay. Phật tử như rắn không đầu. Người cần lên tiếng và  đáng nhẽ phải lên tiếng là TT Trí Quang. C̣n ai uy tín hơn ông trong lúc này, người đă từng được nước Mỹ qua phóng viên James Wilde và Frank Mc Culloch trên tờ Time mệnh danh ‘‘politician from the pagoda’’ hay ‘‘a most extraordinary man’’ (người phi thường nhất). Tôi chỉ muốn đổi một vài chữ như sau. Trước 1975, ông là một politician outside the pagoda và sau 1975, một politician inside the pagoda.

 

Nhưng ông Diệm, ông Thiệu không c̣n, Thượng toạ Trí Quang không có giá nữa. Ông chỉ có thể là * người của thời cuộc* dưới một chế độ kiểu ông Diệm, ông Thiệu mà thôi. Trong suốt hơn 30 năm quy ẩn và ngồi dịch rất nhiều kinh sách, ông chỉ làm được một thứ chính trị inside the pagoda, một điều hữu ích cho chính ông và cho những kẻ thù của ông ở bất cứ phía nào. Đó là: Ta bảo cho các người hay, ta không bao giờ là người Cộng Sản như các người nghĩ, nhưng ta là nhà tu thật trong chế độ Cộng Sản. Và TGM B́nh th́ có thể nói: Ta bảo cho các người hay, có người chê ta ba phải. Nhưng trước sau, ta là nhà tu thật dưới thời ông Diệm, ông Thiệu. Nhưng ta trở thành nhà chính trị bất đắc dĩ dưới thời Cộng Sản.

 

Và có lẽ, tôi thích nhất câu nói để đời sau đây của nhà tu thật: ‘‘Nó giết ḿnh hôm trước, hôm sau nó đem ṿng hoa đến phúng điếu ḿnh.’’

 

Có lẽ chính nhờ hiểu cái lẽ quyền biến của câu trên đă giúp ông không phải nhận một ṿng hoa phúng điếu.

 

Sau 1975, chúng ta có chủ nghĩa CS và có  thêm chủ nghĩa bất đắc dĩ. Bất đắc dĩ để Thượng toạ Trí Quang phải quy ẩn trong chùa và bất đắc dĩ, Tổng Giám Mục Nguyễn Văn B́nh phải làm chính trị. Kẻ làm chính trị phải đi tu và kẻ đi tu phải làm chính trị.

 

Và cả miền Nam đều làm những công việc bất đắc dĩ như thế.

 

 

Ngày 6 tháng 5-1975, bộ mặt thứ hai của Sàig̣n sau Giải Phóng

 

Bộ mặt thứ nhất là những tiên tri giả ở trên, bộ mặt thứ hai là những người buôn bán giả. Chỉ sau một tuần, cái điểm nỗi bật của một thành phố chết vừa mới trỗi dậy là sự xuất hiện rất nhiều những người buôn bán lẻ. Họ ngồi dọc theo các đường, từ đầu phố hay đầu con hẻm. Bán đủ thứ và mua cũng đủ thứ.

 

Người buôn bán phần đông là những người chưa bao giờ buôn bán. Đây là lần đầu họ làm nghề buôn bán bất đắc dĩ. Sự buôn bán này là một bài toán trắc nghiệm người chủ mới trong thế chờ đợi thời thế, nghe ngóng động tĩnh.

 

Nghĩ đến hoàn cảnh bất đắc dĩ của cả miền Nam, xin mượn lời hát của TCS:

 

Hăy sống dùm tôi

Hăy nói dùm tôi

Hăy thở dùm tôi…

 

Nhiều người không muốn sống, không muốn thở và đă hẳn không muốn nói nữa.

 

 

 

Cuộc truy diệt văn hóa, sách vở miền Nam.

 

Người ta kể trường hợp ông NL, một cán bộ vào tiếp thu văn hoá miền Nam có dịp đọc cuốn Loan Mắt Nhung của nhà văn Nguyễn Thụy Long. Ông thích cuốn sách đó, mang về Bắc tŕnh ông Tố Hữu. Ông TH đọc xong nói:"miền Bắc đă không thể có người viết văn như thế này .."

Vậy mà lần đầu tiên người dân Sàig̣n phải đốt sách vở.

 

Nhà văn Bùi NgọcTấn trong cuốn viết về Bè Bạn cũng đă từng trải nghiệm việc phần thư như thế ở ngoài Bắc: « thế là tất cả các thư từ đều được đem ra đốt. Dưới bếp nhà anh chị tôi, vắng vẻ. Tôi nhớ là mùa nắng hanh. Những bức thư bắt lửa. Đây mới thật là lễ Hiến tế.. Tôi đưa từng lá thư vào lửa. Khuôn mặt của ntừng người bạn hiện ra trong ngọn lửa lem lem. Tôi và Nguyên B́nh cùng im lặng. Không ai nói một lời trong suốt lễ hóa vàng. Không cả tiếng thở dài nữa. »

 

Trong cuộc truy lùng sách vở Ngụy, bị đánh giá đồi trụy và phản động này, th́ ông LM Trương Bá Cần, nguyên giáo sư sử học, hay Trần Bá Cường tỏ ra biết lợi dụng thời cơ nhất. Trần Bá Cường đă yêu cầu địa phận, nhà xứ, nhà in nộp tất cả tài liệu ấn phẩm tôn giáo. Từ đó cho người sàng lọc tài liệu nào không cần th́ đem bán ki lô, tài liệu nào xử dụng được hay có giá trị lịch sử th́ ông cất giữ cho riêng ḿnh. Người viết bài này biết rằng riêng địa phận Sàig̣n và nhà in Tân Định c̣n tàng trữ rất nhiều tài liệu quí giá từ thời Pháp thuộc. Các văn kiện liên quan đến ṭa thánh, các phúc tŕnh địa phận, các thư từ giao dịch của các vị giám mục tiền nhiệm, các sắc chỉ, bài sai, các sách cũ quư và hiếm không đâu có, các sách đạo như kinh bổn, hạnh thánh, báo chí như tờ Nam Kỳ địa phận trong suốt hơn 40 năm… Không biết ông Cường đă cướp được những tài liệu ǵ và cất giữ ở đâu. Điều chắc chắn là cả một di sản văn hóa tinh thần có giá trị lịch sử đạo TCG bỗng chốc trở thành tiêu ma.

 

Sau này, cái tội dối với lịch sử đó, ḿnh ông gánh vác lấy.

 

Trách chính quyền CS truy diệt văn hóa miền Nam đă là một lẽ, ngay một số nhà văn miền Bắc cũng có cái nh́n khinh miệt, đánh giá thấp văn học cùng văn nghệ sĩ miền Nam, dù đă sau nhiều thập niên. Trong truyện ngắn Rửa tay gác kiếm xuất bản vào năm 2002 mới đây, ta c̣n đọc được những đoạn văn như sau của Bảo Ninh: ’’Chỉ mỗi ḿnh Tú, một tay mọt sách, nguyên sinh viên trường Tổng Hợp là không ngại rúc vào đó, ngụp lặn lục t́m trong bụi tha về pḥng một bao tải nặng chịch những cuốn tiểu thuyết chưa bị mối xông. Nhưng tất cả đều rặt một ṇi thối tha mục nát văn chương chống Cộng, chữ nghĩa tối tăm, mờ ám, nội dung láo toét, ít ai kiên nhẫn đọc nổi quá nửa trang, chất giấy lại không hợp để vấn thuốc và khổ th́ quá nhỏ để gói bọc một thứ ǵ, thành thử đống sách của Tú chẳng mấy ai buồn ngó, dù rằng nó cứ vơi đi. Người ta thấy các mẩu vụn của những Chu Tử, Xuân Vũ, những ǵ đó nữa quanh chỗ dựng điếu cày và trong nhà bếp, trong nhà cầu…’’

 

Họ đă cố hủy diệt văn học miền Nam mặc dù đă  không hiểu ǵ về Văn học ấy. Càng không hiểu được sức sáng tác từ  tinh thần tự do sáng tạo của các nhà văn miền Nam cũng như  hệ  thống tự  do xuất bản so với miền Bắc. B́nh Nguyên Lộc viết 820 truyện ngắn vào năm 1966. Đến 1975, số lượng đă hẳn trên  1000 truyện. Truyện dài của ông gần 100 cuốn. Nhà văn Duyên Anh có khoảng 60 tác phẩm.  Phạm Duy đă  sáng  tác gần 1000 bản nhạc đủ loại. Hay có, dở cũng có. Trịnh Công Sơn trên 600 bài, nhiều bài thuộc loại nhạc vượt thời thời gian đi vào bất tử cả tử lời ca đến nhạc điệu. Chỉ xét về lượng sách xuất bản,có nhà văn nào ở miền Bắc có thể so sánh bằng ?

 

Nguyễn Tuân, nhà văn hàng đầu miền Bắc, trước tiền chiến có 10 tác phẩm nổi tiếng như Vang Bóng một thời, Tàn đèn dầu lạc, từ 45-75 có 10 tác phẩm đều tầm thường như Hà nội Ta Đánh Mỹ giỏi... Những Tô Hoài, ngoài một vài cuốn kư, Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyên Hồng, Vũ Ngọc Phan, nhất là Nam Cao đă viết được ǵ ?

 

Văn Cao bất hủ thời tiền chiến nay để lại được ǵ ? Có bằng  số lượng 2% phần trăm so với Trịnh Công Sơn? Có đi được nhiều thế hệ tuổi trẻ như  Trịnh Công Sơn ? Hay như Huy Cận với những bài Cướp súng giặc, Giết giặc, Tăng gia sản xuất, hoặc Lưu Trọng Lư với Cái mũ nồi, Tươi đẹp mầu cờ. Nhà văn Thanh Tịnh với Bài trừ hàng xa xỉ phẩm, Chống tư tưởng sợ Mỹ…

 

Xin trích dẫn nhà thơ Lưu Trọng Lư nổi tiếng với Lá Thu Vàng để chúng ta có dịp ngậm ngùi:

 

Đứa nào rẽ thúy chia uyên.

Bắn cho nổ con ngươi, ḷi con mắt

Chặn bàn tay, trói giật bàn tay.

 

Và đây là thi sĩ Tố Hữu, nhà thi sĩ đứng thứ nh́ ở miền Bắc:

 

Thảm lắm anh à lũ ác ôn

Giết cả trăm người trong một sáng

Máu tươi lênh láng đỏ đường thôn

Có những ông già nó khảo tra

Chẳng khai, nó chém giữa sân nhà

Có chị gần sinh không chịu nhục

Lấy vồ nó đập thai ra

Có em nhỏ nghịch ra xem giặc

Nó bắt vô vườn, trói gốc cau

Nó đốt, nó cười.. em nhỏ hét:

Má ơi nóng quá, cứu con ra.

 

 

Ngày 15 tháng 5-1975, giáo chức được lệnh phải tŕnh diện tại Bộ Giáo Dục.

Một trong những sai lầm của chế độ mới là để giáo sư cũ đi dạy trở lại.

 

Bởi v́, tất cả không trừ một người, đều không đủ tư cách làm một thày giáo trong chế độ mới. Không phải chỉ đi học hai ba tuần lễ chính trị đă đủ để biến họ thành một giáo viên của mái trường xă hội chủ nghĩa. Việc dạy và học trở thành một màn kịch lừa đảo, tráo trở và ngô nghê. Thày đóng kịch c̣n tṛ mất tin tưởng. Con người sống bất đắc dĩ, sống hai mặt, nói một điều nghĩ một điều. Đi dạy mà  sợ học tṛ, nhất là học tṛ lớp nhỏ. Đối với học tṛ lớn, dễ có sự thông cảm hơn. Không tin nhau th́ c̣n dạy dỗ ǵ được. Cái tồi tệ nhất của học đường không phải là thiếu trường sở, cơ sở vật chất, thầy giỏi, phương pháp giáo dục năng động, cho bằng sự mất niềm tin nơi giới trẻ đánh mất niềm tin ở thầy.

 

Chính trị hóa học đường là điều xúc phạm nhân phẩm thầy giáo.

 

Trong Nam, trước 30-4-1975 người thầy chưa hề bị xúc phạm như thế. Sau 30-4-1975, đi dạy học là một dằn vặt khổ sở đối với thầy v́ cảm thấy ḿnh hèn, không nhân cách. Mỗi ngày, ông thầy phải tranh đấu với chính ḿnh, vật lộn với cái đầu của ḿnh, phải t́m cách chiến thắng những tư tưởng bất đồng cứ  ngo ngoe muốn ngóc đầu dậy để phản đối cái này cái kia. Có nhiều thứ để phản đối, để không đồng ư. Vai tṛ nhà văn, nhà giáo quả không xa nhau lắm ở chỗ biết nói sự thật. Xă hội phải tin vào người thầy và trả lại vai tṛ truyền đạt kiến thức và nhân phẩm.

 


Bộ mặt thứ ba của Sàig̣n sau Giải Phóng: bộ mặt của kẻ chiến thắng?

 

Có cuộc diễn binh ăn mừng chiến thắng. Chiến thằng ǵ, ai chiến thắng ai? Đă nói rằng cuộc chiến này không có người thắng, kẻ thua. Vậy ăn mừng chiến thắng là bỉ mặt đối với người Sàig̣n. Người Sàig̣n muốn quên, c̣n họ muốn nhớ. Họ muốn phô trương sức mạnh, họ muốn người Sàig̣n nh́n nhận thua cuộc. Họ muốn xác nhận một điều không cần xác nhận nữa. Và mỗi năm, họ tái diễn lại cảnh này.

 

Tôi tự hỏi khi thống nhất nước Đức th́ dân chúng Tây Đức ứng xử thế nào, nhà cầm quyền Tây Đức đă hành xử ra sao ? Đă bắt đi học tập? Đă đầy đi kinh tế mới? Đă tịch thu tài sản, nhà cửa dân Đông Đức? Đă truy diệt đốt phá sách vở bên Đông Đức? Đă bắt các nhà văn, nhà bao Đông Đức vào tù ? Đă dựng nên những bức tường ô nhục ? Đă gọi dân quân Đông Đức là bọn Ngụy, bọn phản động ? Đă xua đuổi người ta ra biển ? Đă có bao nhiêu người dân Đông Đức phải trốn ra khỏi nước họ? Và một câyu hỏi chót: Dân Tây Đức đă hy sinh bỏ ra bao nhiêu tỉ để thực hiện việc thống nhất nước Đức ?

 

Các anh em đồng bào, những thanh niên trí thức từng du học, từng đi làm bên các nước Đông Âu, hăy làm nhân chứng viết lên điều này. Các anh đă thấy ǵ, nghĩ ǵ và so sánh ǵ khi nghĩ tới hoàn cảnh thống nhất đất nước sau 1975 so với nước Đức ?

 

Bài học thống nhất nước Đức là bài học lớn mà người CS khi nh́n lại đă không học được, chỉ v́ việc thống nhất này xảy ra sau 1975. Nhưng ngay cho dù xảy ra trước 1975, vị tất đă học được ǵ? Bằng chứng là sự tan ră  chế độ CS Đông Âu, nào họ đă rút ra được bài học ǵ? Bộ mặt thứ ba này cho thấy một điều: Họ luôn luôn cư xử với người Sàig̣n như kẻ thắng cuộc, như kẻ đô hộ với người bị trị. Đó là một thứ thực dân kiểu mới.

 

Người ta thấy trên đường phố diễn hành những đại bác 130 ly của Sô Viết, hoả tiễn Sam 2 Sô Viết xuất phát từ Thủ Đô Hà nội. Một lần nữa xác quyết rằng, đấy là thành quả chiến thắng của Hà nội chứ không của một ai khác. Một thành quả mà Hà nội đă trả  một giá không rẻ. Trong Les gens de la C.I.A, 1980, Guérin đă cho biết một cán bộ CS ở B́nh Dương, vào năm 1963-1965, nhóm của ông này có cả thảy 75 người, đến ngày giải phóng, chỉ c̣n ḿnh ông sống sót. ‘‘Des soixante-quinze membres des années 1963-1965, je suis le seul survivant’’. Dương Thu Hương nhắc lại số học sinh trong 4 lớp Trung Học cùng  thời với bà, sau chiến tranh, chỉ có hai người sống sót trở về.

 

Đó là cảnh mà một thi sĩ Trung Hoa đă ngao ngán viết:’’ Nơi vó ngựa chiến đi qua, mười năm sau, cỏ chưa mọc và gió thổi c̣n mang mùi máu..’’

 

Đó cũng là cảnh mà một chuyên gia người Mỹ, ông Keith Weller Taylor đă ngạc nhiên nhận xét về sức sống của người VN:  Những chuyên gia về sự tồn tại.

 

Cảnh đó cũng được quay chiếu thành film: We we’re soldiers. (Chúng ta đều là những người lính). Ở nơi đó, vị trung tá chỉ huy trước cảnh  hoang địa với sự hy sinh của hơn 2 phần 3 đồng đội chỉ c̣n mỗi một điều an ủi: « Cuối cùng th́ những kẻ c̣n lại vẫn là những người chiến thắng ».

 

 

27-5-1975,  bộ mặt thứ tư của Sàig̣n sau Ngày Giải Phóng: Sự sợ hăi.