NGUYỄN VĂN LỤC

 

D̉NG VĂN HỌC MANG DẤU CHÚA

Kỷ niệm sau hơn một thế kỷ

sự có mặt của Tờ báo Nam Kỳ Địa Phận.

 


 

          Mỗi tôn giáo đều có khát vọng truyền đạt, phổ biến tư tưởng đến quảng đại quần chúng mà ta gọi là: sự truyền đạo hay sự rao giảng tin mừng. Sự truyền đạt trong mỗi đạo có sắc thái riêng của nó mà sau này người ta gọi là: Ngôn ngữ nhà đạo thể hiện qua các kinh hạt, qua tụng niệm, qua các bài hát, qua giáo lư và truyện kể.

Đó là những cảm nghiệm tôn giáo Đạo đi vào Đời của một kiếp nhân sinh.

Cảm nghiệm tôn giáo ấy xin được nói ra.

Cũng vậy, sau này có khi chỉ cần nghe tiếng chuông chùa ngân vang, trầm lăng, lan tỏa hay tiếng chuông nhà thờ giục giă, kêu gọi, hối hả cũng đủ làm ḷng con người đủ dấy lên Mùi Thiền, Mùi Đạo.

Nay xin nói đến một số đặc điểm về vài sách công giáo vốn là chủ đề của bài viết này được gọi là : Mảng văn học mang dấu Chúa

Mảng văn học này cũng có lúc bị bỏ quên, bỏ qua. Nhưng chính nó lại là những viên gạch mở đường cho sự h́nh thành chữ quốc ngữ.

Tạm thời hăy bỏ qua công của cố đạo Alexandre De Rhodes đă được nhắc đi, nhắc lại một cách nhàm chán.

Như chúng ta đều biết, trong số các nhà truyền giáo ngoại quốc sang truyền giáo ở Trung Hoa, Cao Ly, Nhật Bản., chỉ có Việt Nam là có cơ may tạo được một thứ chữ vừa dễ đọc, vừa khả dụng, vừa phổ cập thành vốn liếng cho văn hóa cả nước.

Nói như thế như một cách nào đó đẩy 4000 ngàn năm văn hiến chỉ c̣n là những hoa từ mà thôi.

Điều đó khẳng định rằng có văn hóa hay không bắt đầu từ chữ viết và là chất hữu cơ của văn hóa. Không có ngôn ngữ viết th́ cái được gọi là văn hóa chỉ c̣n là vay mượn vá víu mà thôi. Chữ Hán phải chăng nằm trong quy tŕnh vay mượn dành riêng cho một giới người ê a tụng niệm, sùng bái, học đêm, học ngày một cách vô bổ. H́nh như nó thiếu cái hồn dân tộc thổi vào đó.

Trong khi đó công việc điền chế, bổ xung, hỗ trợ cần có thời gian, cần có sự hỗ trợ và môi trường thuận tiện cho việc truyền bá và phát triển chữ quốc ngữ.

Càng về lâu về dài, nó bước đi những bước đi vững chăi.

Thoạt đầu, sự điển chế với các ông Gaspar d’Amaral ( Tự điển Việt-Bồ), Antonio Barbos, ( tự điển Bồ-Việt), rồi thêm một bước có Alexandre De Rhodes (Tự điển Việt-Bồ-La), rồi Pigneau De Béhaine (Tự điển Việt-La, 1772, chữ quốc ngữ, chữ Nôm). Taberd (Tự điển Viêt-La 1838).

Cạnh đó, nó được củng cố như bước đầu, phải kể đến cuốn sách Sấm Truyền Ca, Quyển I, Tạo Đoạn Kinh cách đây 400 năm của thày cả Lữ Y Đoàn. 

Sau bao nhiêu năm bị trôi dạt, tưởng tan biến mất, người ta lại may mắn t́m được cuốn sách ở Cái Mơn và đến năm 1910, cuốn sách được dịch ra chữ quốc ngữ cho đến ngày nay.

 

• Con đường đi của Chữ Việt khởi đầu công xây dựng là như thế, từ miền đất mới, từ lục châu ngay từ những bước khởi đầu vào những năm 1861, 62, 63 với 3 tờ báo tây. Nhưng đến năm 1865-1897, có tờ báo Việt Nam đầu tiên ở trong Nam là tờ Gia Định Báo mà tuổi thọ của nó là 32 năm. C̣n những tờ khác chỉ tồn tại trong ṿng một năm như Khoa Học Tạp chí, Thanh Niên Tân Tiến, Sư Phạm Học Khoa, Pháp-Việt Nhất Gia, Tân Dân Báo, Le Nhà Quê, Le jeune d’Annam

Nh́n lại những chặng đường, từ năm khởi đầu của báo chí 1861 đến 1929, đă có tất cả trước sau 43 tờ báo. Nói về số lượng th́ đó là một bước chân của người khổng lồ. Với số lượng như thế đă hẳn góp phần không nhỏ vào việc phát triển chữ việt trong lúc đầu…

Nhưng từ năm 1930 đến 1939, người ta không khỏi ngạc nhiên khi số lượng báo chí được xuất bản nhảy vọt lên 128 tờ. Thật khó có thể cắt nghĩa được tại sao có một số lượng đông đảo báo chí xuất bản trong ṿng 10 năm như vậy?

Với số lượng báo chí như vậy nên có đủ mặt đề tài, từ y khoa, pháp luật, thể thao, phụ nữ, tôn giáo, kịch, thời sự, tin điển, ảo thuật, công nghệ, bóng tṛn, trào phúng, chính trị, tiểu thuyết đến nài ngựa tạp chí.

Đặc biệt có hai tờ về Phật giáo là Từ Bi Âm (1932), chết non và tờ Niết Bàn Tạp Chí  (1933-1939).

Với số lượng báo chí như vậy, phải nh́n nhận tŕnh độ dân trí, hiểu biết của dân Nam Kỳ phải cao hơn Bắc Kỳ, chẳng những về mặt kinh tế, xă hội mà c̣n về tư tưởng và văn hóa nữa.

Riêng báo Công giáo có 4 tờ, trong đó có tờ Nam Kỳ Địa Phận- 1907-1945 và ba tờ khác là Trung Ḥa Báo (1924), Công Giáo Đồng Thinh (1927-1930) và cuối cùng là Công Giáo Tiến Hành (1936- 1939)

• Phải nh́n nhận với nhau rằng cho đến 1975, ít ai được biết đến một ḍng văn học mang dấu Chúa, mặc dầu nó vẫn có đấy như một chờ đợi.

Phải đợi đến khi có những bản dịch các tài liệu nhan đề: Lettres Edifiantes Et Curieuses của các thừa sai Bale do bà Đặng Phương Nghi dịch liên quan đến nhà Tây Sơn "Triều Đại Quang Trung Dưới Mắt Các Nhà Truyền Giáo Tây Phương” . (Có nhiều tập, nhưng liên quan đến Việt Nam có ba tập VI, VII, VIII. Sau này được t́m thấy trong thư viện nhà xứ Tân Định.)

• Khi t́m hiểu về văn học Việt Nam, đặc biệt về ḍng văn học chữ quốc ngữ, có ba điều đáng tiếc mà chúng ta có thể dùng chữ Bị Bỏ Quên.:

- Thứ nhất là mảng văn học miền Nam mà giáo sư Nguyễn Văn Trung gọi là Mảng văn học vùng đất mới hay Lục Châu Học

- Thứ hai là Mảng văn học chữ quốc ngữ nhà đạo (công giáo)

- Và thứ ba không phải là bỏ quên mà chủ trương tiêu diệt 20 năm văn học miền Nam từ 1955-1975 của chính quyền cộng sản từ khi chiếm trọn miền Nam cho đến nay.

Đă có thời kỳ chúng ta muốn vươn lên về văn học bằng cách phủ nhận nền văn học đă có trước mà quên rằng tự nó văn học là một ḍng chảy, tự nó và tiếp nối sau nó.

Sự phủ nhận ấy tạo ra những khoảng trống văn học chưa kịp thay thế đưa đến t́nh trạng những thế hệ mồ côi văn học truyền thống.

Tệ hại hơn nữa, phủ nhận một thời kỳ văn học với nhiều nhà văn, tác giả chỉ v́ lư do chính trị như ở miền Bắc trước 1975.

Một học sinh tŕnh độ tú tài ở trong Nam có thể thuộc thơ Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Huy Cận. Họ c̣n biết rơ những nhà văn, nhà thơ như Trần Dần, Nguyễn Tuân, Tô Hoài v.v.. và nói chi đến các nhà văn trong nhóm TLVĐ như Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam vốn nằm trong chương tŕnh trung học ở miền Nam. Trong khi ở miền Bắc, hỏi ngay các thày cô giáo nhiều người không biết Nhất Linh là ai.

Đó là những khiếm khuyết thấy được và có nhu cầu cần phục hồi những giá trị văn học của từng thời kỳ văn học ấy.

Bài viết này của tôi nhằm giới thiệu và phục hoạt những giá trị văn học nhà đạo mà ít ai lưu tâm cho đủ, đồng thời giới thiệu với độc giả tờ báo Nam Kỳ Địa Phận hầu như đa số chưa hề biết tới.

 

Mảng Văn học mang dấu Chúa

Chính ngay những người Pháp hoặc những kẻ theo Pháp, hoặc kẻ chống Pháp, ngay cả những người đi làm cánh mạng chống Pháp đều nh́n thấy ở chữ quốc ngữ một lợi khí truyền đạt.

Sự bùng nổ thông tin báo chí trong đó có tờ Nam Kỳ Địa Phận. Vậy mà chỉ trong một thời gian ngắn ở miền Nam thời thuộc địa Pháp đă có một sự bùng nổ thông tin và truyền thông qua báo chí đủ loại.

Sương Nguyệt Ánh (1864 – 1921), tên thật Nguyễn Thị Khuê, là nhà thơ và là bà chủ bút đầu tiên của Việt Nam. Tờ báo Nữ Giới Chung (Tiếng chuông nữ giới) do bà phụ trách là tờ báo đầu tiên của phụ nữ được xuất bản tại Sài G̣n. Tờ báo ra mắt ngày 1/2/1918, với chủ trương nâng cao dân trí, khuyến khích công nông thương và nhất là đề cao vai tṛ phụ nữ trong xă hội. Tầm ảnh hưởng của tờ báo khiến chính quyền thực dân bắt đ́nh bản tờ báo vào tháng 7/1918. Nguồn: http://trithucsong.com

Chữ quốc ngữ không c̣n là ḍng văn học thuần túy mang dấu Chúa nữa. Nó cũng không c̣n là công cụ riêng của chính quyền thực dân Pháp. Ngay cả những tờ báo chính thức do thực dân Pháp dựng nên cũng có thể đổi mầu, phản ảnh tâm tư, t́nh tự dân tộc, phản ảnh những chuyển biến trong chính trị, xă hội và văn hóa của thời đại.

Nó có sự lớn lên và trưởng thành, có thêm sự độc lập tư tưởng.

Đại Nam Đăng Cổ Tùng Báo của phong trào Đông Kinh Nghiă thục đă coi chữ Quốc ngữ như một lợi thế đấu tranh chống lại các hủ tục như đa thê, tảo hôn, nạn cờ bạc. 

Đă có nhiều người không ngần ngại tuyên bố: Chữ quốc ngữ, chữ nước ta.

Khẳng định dứt khoát, “chữ nước nhà” ở đây không c̣n là chữ Hán nữa, mà là chữ quốc ngữ.

Người ta vứt bỏ thành kiến cho rằng chữ quốc ngữ là chữ nhà đạo, do cha cố sáng chế.

Chữ quốc ngữ trở thành lợi thế đối đầu. Người Pháp dùng chữ quốc ngữ để thống trị ta. Ta dùng chữ quốc ngữ để đánh Pháp.

Tuy nhiên, theo Ngô Hà, chương Lược sử báo chí thành phố (1865-1945) trong “Địa Chí Văn Hóa TP. HCM”, ibid., tóm lược các trang 326-328, thực tế người ta cũng nhận thấy nhiều tờ báo tồn tại ngắn hạn. Mấy tháng cũng có, một vài năm cũng nhiều.

Gia Định báo được 32 năm. Nhưng các tờ chết non trong ṿng một năm như các tờ Khoa Học Tạp Chí, Thanh Niên Tân Tiến, Sư Phạm Học Khoa, Pháp Việt Nhất Gia, Tân Dân Báo, Le Nhà Quê, Le Jeune Annnam.

Từ năm 1861 đến 1929, tôi đếm trước sau có 43 tờ báo. Nhưng từ năm 1930 đến 1939, chịu khó ngồi đếm được số báo xuất bản là 128 tờ.

Với số lượng báo chí như vậy, bàn về đủ mọi loại đề tài, phải khẳng định tŕnh độ dân trí của dân Nam Kỳ chắc hẳn phải cao hơn ngoài Bắc, chẳng những về mặt kinh tế, xă hội mà c̣n về tư tưởng văn hóa qua sự giao lưu, tiếp thu với người Pháp.

Riêng báo Thiên Chúa giáo có bốn tờ là Trung Ḥa Báo (1924), Công Giáo Đồng Thinh (1927-1930) và tờ Công Giáo Tiến Hành (1936-1939)

Trong số đông báo chí ấy, có tờ Nam Kỳ Địa Phận (Semaine Religieuse) từ năm 1907-1945.

 

Tờ Nam Kỳ Địa Phận, một tờ Nam Phong của miền Nam.

Báo Nam Kỳ Địa Phận số 1, năm thứ nhất, ngày 26/11/1908 là tờ báo công giáo đầu tiên tại Việt Nam do giám mục người Pháp Lucien-Emile Mosard sáng lập. Tờ báo sống qua 37 năm (1908-1945), vào khoảng 30.000 trang báo, mỗi tuần phát hành vào thứ năm.

Mục đích của tờ báo là: “ khai đàng văn minh cho nhơn dân đặng tấn phát cho bề đạo, việc đời đều thông thuộc “.

Trên trang b́a, huy hiệu của Ṭa Giám Mục Sài G̣n thể hiện rơ mối liên kết giữa ṭa báo và giáo hội công giáo tại địa phận sài g̣n.

Như vậy, tờ Nam Kỳ Địa Phận là cơ quan chính thức của ṭa giám mục Sài G̣n. Công việc trông coi tờ báo được giao cho Lm Gioan Hướng. Nhưng trước khi ra báo, ṭa giám mục đă gửi thư cho các linh mục trong địa phận để thăm ḍ ư kiến chung vào ngày 27/7/1908. Trong thư, Lm Gioan Hướng đă tŕnh bày 5 mục đich của tờ báo gồm: Đạo Lư, Phong Hóa, Thương Vụ, Bác Học, Văn tín.

Và chủ trương của tờ báo tránh hai việc: Không ḍm xét việc cai trị nhà nước, và cũng không châm chích biếm bác kẻ khác, v́ sái ư Chúa cùng nghịch đức yêu người.

Tuy nhiên, người ta không được biết kết quả việc thăm ḍ kết quả ấy như thế nào?

Trong chủ trương trên của tờ Nam Kỳ Địa Phận, tờ báo đưa ra 5 mục đích như ở trên thật không có ǵ để bàn căi nữa. 

Tuy nhiên, về mặt chính trị đối với chính quyền thực dân Pháp có điều không ổn. Việc không ḍm xét việc cai trị của nhà nước cai trị liệu có phải là một chọn lựa đứng đắn và khôn ngoan hay không? Nhưng khi đánh giá hay phê phán có cần nên tùy theo thời kỳ, tùy theo chính sách chính trị của người Pháp hay không?

Trong mục Văn Tín, tờ báo đăng lại nguyên văn các các thông cáo của nhà nước về thời cuộc. Nhất là thời cuộc liên quan đến các cuộc nổi dậy chống đối, hoặc phá rối trị an đối với người Pháp.

Thái độ chính trị thỏa hiệp ấy là một thái độ hợp pháp, nhưng về mặt đạo lư có thể chấp nhận được không?

Đây phải chăng là cái thế kẹt của giáo hội công giáo ở thời điểm đó, bị đồng hóa là theo Tây.

Trên thực tế, có các hàng tu sĩ đă có những thái độ chinh trị khác nhau tùy theo sự lựa chọn của mỗi người. Có những vị im lặng. Có những vị chọn lựa thái độ chống đối. Nhiều vị khác tin rằng có thể có một ḥa giải với chế độ thuộc địa và tưởng tượng có thể có một tiến bộ của con người từ đó có thể biến đổi toàn diện chế độ thực dân.

Riêng một số thành phần trí thức Thiên Chúa giáo tiêu biểu như Trương Vĩnh Kư, Huỳnh Tịnh Của, Nguyễn Trọng Quản, Trần Chánh Chiếu đều có một thái độ tương đối thẳng thắn và rơ ràng. Họ không phủ nhận việc họ cộng tác với tây. Trương Vĩnh Kư là người điều khiển tờ Nam Kỳ Lục Tỉnh trong nhiều năm. Họ thường ghi tên thánh của họ một cách công khai chứng tỏ họ là người Thiên Chúa giáo. Nhưng trong việc viết sách hoặc viết báo, họ chứng tỏ cho thấy đều lấy tinh thần nho học làm nền tảng đạo lư của họ trong nhận thức cũng như trong hoạt động chính trị của họ.

Và nếu có thể đọc lại những công tŕnh viết lách của họ th́ có thể nói trước sau họ vẫn giữ được thái độ của người trí thức trước thời cuộc. Trong đó Trương Vĩnh Kư thường nhắc tới câu châm ngôn trong lối hành xử của ông trước người Pháp. “Sic vos, non vobis.”(Ở với họ, nhưng không theo họ).

Trong đời sống thường ngày, Trương Vĩnh Kư vẫn giữ phong cách một nhà trí thức thấm nhuần nho học, luôn luôn bận áo dài khăn đóng, không vào quốc tịch Pháp, không xiển dương văn hóa Pháp như Phạm Quỳnh.

( Đọc thêm:Nguyễn Thế Anh, “L’élite intellectuelle Vietnamienne et le fait colonial dans les premières années du XX siècle”. Revue Francaise d’histoire d`Outre-Mer, no. 268 (1985), pp 291-307)

Tuy nhiên, có những người hoặc những tờ báo chọn lựa chống đối lại người Pháp; số những vị chống đối lại chính sách cai trị của người Pháp không nhiều. Có nhiều tờ báo bị đóng cửa, có tờ đ́nh bản rồi tái bản nhiều lần. Có những vị bị giam cầm.

Đó là trường hợp các già lănh tụ như Già Châu, Già Thanh chọn con đường liên kết với Phan Đ́nh Hiên, con của Phan Đ́nh Phùng.

Hoặc sau này, từ 1919-1930, do t́nh h́nh chính trị đă đổi khác, đă có hàng loạt các tờ báo chính trị đối lập như các tờ La Cloche fêlée, L’Annam, La lutte, Le peuple, L’Avant-garde. Tờ Dân Chúng ra báo mà không xin phép. V́ thế, khi đánh giá hay phê phán nên lưu ư một lần nữa là cần tùy theo thời kỳ, tùy theo chính sách chính trị của người Pháp.

Ngày nay, người ta vẫn có thể đặt ra vấn đề có thể nào có một thái độ phi chính trị của tờ Nam Kỳ Địa Phận như thế được không? 

Thái độ phi chính trị bằng cách vâng phục quyền bính bề trên trong giáo hội trong tinh thần đứng ngoài chính trị th́ tự nó cũng là một thái độ chính trị? Và thái độ này có thể là một thái độ thiếu trung thực, vi phạm công bằng và bác ái v́ có thể trở thành đồng lơa với bất công, bạo lực xă hội.

Tuy nhiên sự biện luận trên cũng là một thái độ của người hôm nay như kẻ đứng ngoài cuộc mà sự phê phán không đem theo bất cứ một đe dọa chính trị hay nguy hiểm nào cho họ.

Lm Vàng có ghi nhận về chế độ làm báo thời Nam Kỳ Địa Phận:

Linh mục Nguyễn Thanh Chiêu phụ trách dịch các bài báo của Nam Kỳ ra chữ Pháp văn để nộp cho Sở Kiểm Duyệt xem xét trước mới đem về sắp chữ in. Măi về sau (quăng 1918) mới bỏ luật lệ trên và mỗi tuần nhà báo cứ cho xếp chữ sẵn rồi vỗ bài spreuve) nạp cho Sở Kiểm Duyệt xem xét, nếu không có ǵ trái luật th́ đóng dấu phê chuẩn cho in như bây giờ.”

(Nguyễn Văn Trung, “Lục Châu Học”, phần Báo chí văn xuôi và lư luận trích lại tài liệu “Tiểu sử báo Nam Kỳ Địa Phận” do L.M Vàng, người phụ trách sau cùng tờ báo soạn ghi chép cho họ đạo Tân Định, cung cấp, cho biết cách điều hành tờ báo.)

Việc làm báo như thế hẳn không phải dễ. Tôi đă chịu khó mầy ṃ khoảng 1000 trang báo Nam Kỳ Địa Phận có được trong tay thử xem có bài báo nào có bài báo viết ca tụng hoặc nịnh bợ chế độ thực dân Pháp không?

Tôi không thấy có dù một bài, dù chỉ là nói xa xôi, nói gián tiếp, dù mục Văn Tín của tờ báo đăng lại nguyên văn các  thông cáo của nhà nước về thời cuộc như đă nói ở trên.

Điều đó cho thấy tư cách đứng đắn của những vị chủ trương tờ báo, không nói th́ thôi, thà im lặng, nhưng không có lư do ǵ phải bợ đỡ chính quyền Pháp như một số báo khác thời bấy giờ như các tờ “Le Courrier du Saigon”, “L’Avenir du Tonkin”, “L’Impartial”, v.v. Ví dụ:

Hăy đề pḥng. Hăy đoàn kết lại để bênh vực quyền lợi Pháp ở Đông Dương bị đe dọa. […] Thực ra làm ǵ có dân tộc Việt Nam.” Tờ L’Avemir du Tonkin cũng hùa theo tờ Le Courrier de Saigon viết: “Hăy chấm dứt ngay hành động này. Chúng tôi không c̣n nghi ngờ ǵ nữa rằng, chính phủ sẽ ra tay trừng trị, làm sao cho cái giống xấu không mọc lên được”. (Ngô Hà, “Địa chí Văn Hóa TP.HCM”. Chương:Lược sử báo chí thành phố (1865-1945). NXB TP HCM, trang 341.)

Tờ L’Impartial ngày 15/1/1921 viết một cách khinh miệt người bản xứ như sau:

Như một lũ trẻ con, các người đ̣i chơi một món đồ nguy hiểm, với một món đồ chơi đó, các người chỉ có thể tự sát thôi. Các người muốn có quyền chính trị à? Các người sẽ dùng quyền chính trị giống như đứa trẻ con mà người ta cho một khẩu súng lục, có đạn, lên c̣: các người sẽ quay súng vào các người, rồi chúng tôi sẽ phải than thở về cái tang tó ấy.” (Ngô Hà, ibid., tr 342.)

Báo chí Việt Nam ở Sài G̣n, v́ sợ hăi im re, chẳng ai dám lên tiếng v́ sợ bị trả thù. Đủ biết việc làm báo tiếng Việt khó khăn và phải cẩn thận như thế nào?

Ngoài vấn đề chính trị trên th́ tờ Nam Kỳ Địa Phận đă đáp ứng được một số đông độc giả b́nh dân về nhiều mặt như xă hội, văn hóa, kinh tế, ngôn ngữ chữ viết.

Về thái độ chính trị, bạn đọc của tờ báo thường không đụng chạm đến người Pháp. Nhưng mặt khác độc giả thường bày tỏ một thái độ thù ghét đặc biệt đối với người Tầu.

Xin nhấn mạnh điều này. Dù là một tờ báo đạo, nhưng tờ Nam Kỳ Địa Phận không chỉ có mục đích truyền đạo mà c̣n là giáo dục, mở mang dân trí, kiến thức, khuyến khích việc làm ăn thương mại. Ba phần năm nội dung tờ báo nói chuyện đời, có tác dụng giáo dục đại chúng. Nam Phong dành giáo dục trí thức, giới thiệu tư tưởng văn hóa Tây Phương. Nam Kỳ Địa Phận dành cho quần chúng nói chung, giáo dục những điều thực tiễn.

Đă hẳn với tuổi thọ cao nhất từ trước đến sau này, 38 năm – 1908-1946, khi miền Nam (CochinChina, Nam Kỳ) bị ảnh hưởng rất lớn của thực dân Pháp – phần đóng góp của tờ Nam Kỳ Địa Phận vào ḍng văn học mang dấu Chúa là không nhỏ. Chẳng những thế, có thể là một đóng góp lớn lao nhất chẳng những đối với giới Thiên Chúa giáo mà cả ngoài Thiên Chúa giáo. 38 năm có mặt ấy nói không ngoa tương đương với ba thế kỷ ḍng Văn học mang dấu Chúa.

Phần đóng góp này đa dạng và phong phú lắm. Về mặt thông tin, về mặt lịch sử, về mặt thương mại, về văn chương truyền khẩu với hàng ngàn câu đố, đối, tục ngữ và các chuyện giải buồn. Tuy nhiên, phần đóng góp quan trọng nhất vẫn là phổ biến chữ quốc ngữ đến quảng đại quần chúng, nhất là tại thôn quê cho giới b́nh dân ít học. Nó có một chỗ đứng nhất định trong ḍng văn học nói chung.

 

Về danh xưng tờ báo

Chữ địa phận ở đây dễ gây ngộ nhận. Địa phận không có nghĩa thu hẹp vào Địa phận Sài G̣n mà chỉ chung các tỉnh thành trong miền lục châu như Gia Định, Biên Ḥa, Cần Thơ, Vĩnh Long.

Khác đi là toàn thể Đàng Trong phân biệt với Đàng Ngoài.

Chữ Nam Kỳ cho thấy ư muốn phân biệt với Trung Kỳ, Bắc Kỳ. Trên mặt b́a tờ báo lại có một chú thích bằng tiếng Pháp, Semaine religieuse. Chữ chú thích này xem ra không phù hợp với tên của tờ báo Nam Kỳ Địa Phận. Trần Thái Đỉnh giải thích chữ Semaine religieuse là theo kiểu các bản thông tin của các giáo phận bên Tây. Nhưng nếu theo sát nội dung các bài vở trong tờ báo th́ nó không nhất thiết chỉ là bản thông tin.

Mục đich của tờ báo bao trùm rộng răi cả đạo lẫn đời và phần thông tin nhà đạo chỉ chiếm một phần nhỏ tờ báo mà thôi.

 

Mục Đích tờ báo

Lm Gioan Hướng đă tŕnh bày 5 mục đich của tờ báo gồm Đạo Lư, Phong Hóa, Thương Vụ, Bác Học và Văn tín. Và có thêm một câu viết giản dị, rất Nam Kỳ, “Trong nhựt tŕnh này, sự ǵ hữu ích th́ đem vô đặng hết.

Trong lời mở đầu, người ta c̣n ghi nhận được như sau:

Bổn quán kỉnh cáo, ṭa báo đă ước ao cho con nhà Annam ta, đua nhau tấn tài, tấn đức, thông phần đạo, ngoan việc đời. Trong nhựt báo sẽ biện luận về những điều sau này: Đạo lư, phong hóa, bá nghệ, bác học và văn tín. Tờ báo có ư khai đằng văn minh cho nhân dân đặng tấn phát cho bề đạo việc đời đều thông thuộc.”
(Trích “Lời mở đầu” trong số khai trương tờ Nam Kỳ Địa Phận, 1908)

Tuy đă viết là “sẽ biện luận” nhưng tờ Nam Kỳ Địa Phận chỉ đăng lại nguyên văn các  thông cáo của nhà nước thuộc địa về thời cuộc trong mục Văn Tín.

V́ không chủ trương chỉ giảng đạo nên tờ báo có cả những bài huấn nghệ đủ loại từ nuôi tầm, chài, lưới, trồng trọt đến những bài khuyến khích làm ăn, thương mại để tranh đua với người Tầu, người Pháp.

Lại có những bài nêu những gương cũ, tích xưa để khuyến dụ người ta theo đường lành.

 

Thái độ chống ‘Chệt’ của độc giả báo Nam Kỳ Địa Phận

Về thái độ chính trị, bạn đọc của tờ báo thường không đụng chạm đến người Pháp. Nhưng mặt khác độc giả thường bày tỏ một thái độ thù ghét đặc biệt đối với người Tầu. Điều đó cho thấy rơ cái tâm trạng của giới độc giả b́nh dân của tờ báo. Thay v́ phải ghét tây, họ ghét chệt. Nó cho thấy, trước sau ǵ cũng cần có một lối thoát cho tâm trạng của người ḿnh. Chọn chống Chệt là một thái độ khôn ngoan và nhất là không nguy hiểm ǵ, thỏa măn được niềm tự hào dân tộc. 

Vả lại có muốn chống tây th́ tờ báo cũng không đăng. Chuyện chống tây là một chuyện xa vời, không thực tế mà không phải ai cũng hiểu hết những nguyên do sâu xa về kinh tế, chính trị.

Trong khi chuyện chống Tầu là chuyện trước mắt, đụng chạm đến quyền lợi của họ mỗi ngày trong chuyện cơm áo, gạo tiền. V́ thế, có những lá thư của bạn đọc gửi đến ṭa báo bày tỏ sự bất b́nh với người Tầu.

Đặc biệt có một số bài của độc giả gửi tới lên án gắt gao người Chệt v́ làm ăn điêu xảo và c̣n có bài kêu gọi người Annam tẩy chay, không mua bán làm ăn với người Tầu.

Xin trích dẫn một đoạn về lề lối cầm đồ của người Chệt:

Kính xin ông chủ bút làm ơn ấn hành bài nầy cho chư vị trong lục châu rơ, mà trừ ba anh Chệc ở tiệm cầm đồ cho hết lường gạt mấy chị đờn bà. Vậy nếu muốn cho khỏi lầm tay mấy anh Chệc đó th́ phải lời nghị ngày 25 tháng Novembre 1905 của quan Nguyên Soái Nam Kỳ đă định điều lệ cho công ty cầm đồ như sau này: Những đồ cầm 100 đồng bạc, tiệm đặng lời 2 đồng trong một tháng, là 30 ngày, nghĩa là kể từ ngày cầm mà cho đến ngày ḿnh chuộc, cho đúng 30 ngày, ví dụ ḿnh cầm ngày 28 tháng 2 tây, cho đến ngày 29 tháng 3 tây ḿnh chuộc, th́ đúng là 30 ngày, th́ trọn một tháng lời, v́ tháng 2 tây thiếu ngày.” (Trích Nam Kỳ Địa Phận, trang 541, JB Xuân)

Sự bài Hoa cũng dể hiểu, v́ người Tầu trong việc buôn bán có những mánh khóe gian ngoan để gạt những người dân lành. Chẳng hạn, họ thường dùng cái gạt h́nh thoi, ở giữa ph́nh ra, hai đầu nhọn, th́ mỗi lần gạt thùng thóc vơi đi ở giữa và người mua thiệt mỗi thùng là 40 gr. Các chú khách làm hai thứ lường: một thứ để khi quan xét th́ đem ra, c̣n một thứ để bán gạo thường ngày. Cái lường này nó dộng đưới dáy lường cho nẩy lên. Và có độc giả phát giác ra nên sau đó kêu gọi mọi người chú ư, đừng để bị gạt.

Sự đố kỵ ấy chỉ cần một việc nhỏ có thể trở thành một phong trào bài Hoa, tẩy chay hàng hóa của người Hoa. Báo chí góp phần vào sự vận động trong việc bài Hoa mà cái lợi trước mắt là số độc giả của tờ báo gia tăng hơn b́nh thường.

Bài học ấy xem ra vẫn tỏ ra có tác dụng trong giai đoạn hiện nay. Tờ Nam Kỳ Địa Phận cũng đă bắt mạch được chuyện ưa thích của độc giả và trở thành người bạn đồng hành của độc giả Nam Kỳ trong nhiều năm. Phải chăng đó cũng là một thành công của truyền thông báo chí giai đoạn đó.

 

Bộ mặt thật của Sài G̣n cách đây hơn 100 năm qua các quảng cáo trên Nam Kỳ Địa Phận

Trước khi kết thúc, người viết nhận thấy không thể ngờ rằng các quảng cáo lại có vai tṛ quan trọng đặc biệt trong tờ Nam Kỳ Địa Phận mà các tờ báo đồng thời như Nông Cổ Mín Đàm, Lục tỉnh Tân Văn đă không khai thác đủ; Nam Kỳ Địa Phận giới hạn vào độc giả theo Thiên Chúa giáo đă phải cạnh tranh ráo riết với nhiều báo đủ loại để sống c̣n.

Báo chí dù sao cũng phải phản ảnh được nhu cầu bạn đọc và Nam Kỳ Địa Phận đă bắt mạch được điều đó. Số độc giả của Nam Kỳ Địa Phận gấp 5, 6 lần các tờ Nông Cổ Mín Đàm cũng như tờ Nam Kỳ Lục Tỉnh qua các lời quảng cáo trên tờ Nam Kỳ Địa Phận.

Việc quảng cáo ấy không ngờ ngày nay nó giúp nhận ra nếp sống, sinh hoạt làm ăn, mức sống của người dân Sài G̣n. Một nếp sống cao đến ngạc nhiên so với miền Bắc. Thật vậy, chúng ta hăy đọc một quảng cáo của bà Michel Mỹ, Salon de coiffure, 59 rue d’Orway, Saigon để nhận ra điều ấy:

(Phấn dồi). Nguồn: gettingcheeky.com

“Kính cáo cùng chư vị, cùng các bà, các cô đặng rơ. Nhơn dịp tết Annam, tôi mới bỏ thêm hàng Lang Sa nhiều lắm. Có nón, giầy đủ giá, đủ kiểu rất xinh lịch, lại có dầu thơm (essences), savon rửa mặt, phấn dồi (poudre de riz), creme trừ mụn, savon bột để cạo râu (bán hộp nhỏ và kilo) dầu thơm tháng để xức dầu nước (huiles et brillantines), nước thơm để gội đầu và trừ tóc rụng, tóc trỗ (lotions) dầu pha nước để mà rửa mặt (eaux de toilette), vân vân. Cũng có dầu sức khăn (extraits pour mouchoirs)giá rẻ và đủ mùi rất thơm tho, dịu dàng, nhứt là dầu bông lài (jasmin) kiểu mới.

C̣n những vật thường dùng như bàn chải răng, chải tóc, chải áo, chải nhung và hàng lụa, dao cạo, bàn bào tóc (tondeuse), lược gỡ đầu vân vân th́ thường thường đều có bán. Nội tháng chạp cùng tháng giêng Annam, mỗi vị đến mua một món chi mặc ḷng, th́ tôi sẽ thêm cho một vật, tùy theo giá tiền mua nhiều ít, để mà làm dấu tích.

Xin chư vị cùng các bà, các cô đoái t́nh, trước đến cho biết tiệm tôi, sau giúp người bổn quốc trong cuộc thương măi.

Ở lục tỉnh, ai muốn mua món chi, xin viết thư cho tôi, th́ tôi lập tức trả lời và gởi đồ xuống chẳng sai.

C̣n ai muốn mua sỉ mà bán lại th́ tôi sẵn ḷng bán giá rẻ hơn nhiều lắm.

Thơ cùng giây thép gởi cho tôi xin đề như vầy th́ tới chẳng lạc:

Mme Michel My, 59 Rue d’Ormay, Saigon.

[Đường Ormay thời Nam Kỳ thuộc địa sau đổi là đường Nguyễn Văn Thinh, cắt Nguyễn Huệ và Hai Bà Trưng, gần bến Bạch Đằng. Hiện nay là đường Mạc Thị Bưởi)

Nội dung quảng cáo trên lời lẽ đủ cả t́nh lư th́ có thua ǵ lắm so với bây giờ? Làm sao ở miền Bắc ngay ở chốn thị thành các bà, các cô đă biết xử dụng một số mỹ phẩm như trừ tóc rụng, nước hoa để rửa mặt? Toàn là đồ xa xỉ phẩm. Lại nhập từ Pháp về. Cho đến năm 1945, ở quê tôi người ta c̣n gội đầu bằng quả bồ kết, v́ chưa có xà pḥng.

Xin đọc Lời rao cần kíp của chính tờ Nam Kỳ Địa Phận.

Nam Kỳ Địa Phận

Lời rao cần kíp.

Ai muốn mua nhựt tŕnh th́ đem ba đồng bạc (3$00) đến mượn cha sở mua dùm.

Ai đến cha Sở không đặng th́ gởi thơ đến cho ta, làm như vầy: 1) Mua giấy mandat bỏ vô bao thơ mà trả tiền trước.– 2) Trong thơ, chỉ rơ tên, họ, hoặc chức phận ǵ, làm nghề chi, làng nào, tổng nào, hạt nào. Có ư cho khỏi lộn, khỏi mất Nhựt tŕnh. –3) Ngoài bao thơ th́ đề như vầy: Révérend Père Hướng, à Tân Định (Saigon), –Ai muốn gửi bài chi đến th́ cũng cứ đó mà đề bao thơ.

Thấy điều chi hữu ích, xin chư vị gửi đến, bổn quán sẽ vui ḷng ấn hành; có dùng chữ nho, th́ xin giải nghĩa cho mọi người đặng hiểu. — Về việc cai trị nhà nước cùng lời chân phạm đến danh vị kẻ khác th́ xin đừng.

Bổn quán.”

Trong lời rao cần kíp này, địa chỉ gửi cho ông chủ báo chỉ cần đề Tân Định là đủ. Lại có thêm lời dặn, “Về việc cai trị nhà nước cùng lời chân phạm đến danh vị kẻ khác th́ xin đừng.

Kinh nghiệm ở quê tôi, cả làng chỉ có một người có đủ điều kiện mua một tờ báo Đông Pháp.

Về giá mua báo xem ra cũng đắt lắm: 3 đồng, một năm với 52 số báo. Trong khi đó, giá một tạ gạo (tạ ta là 68kg) giá là 2 đồng 48 chiêm (xu). Vậy mà số người mua báo năm của tờ Nam Kỳ Địa Phận là trên 2000 người. Số độc giả dài hạn là 2000 người, nhưng đọc rồi chuyền tay cho người khác mượn đọc, một tờ báo có thể có 10 người đọc ké. Số độc giả có thể lên đến 20.000 người.

Tuy nhiên, giá báo 3 đồng so với giá một ghe chài là 1300 đồng th́ lại thật vô nghĩa. Tỉ dụ, một quảng cáo bán ghe (1908):

“Ghe hạng nhứt, gỗ tốt thượng hạng là gỗ sao, cà chất, cam xe, giá 1300 đồng. Nếu quư vị nào muốn mua, xin liên lạc Tà Keo mà tính với tôi, xong th́ tôi chịu cho 20 đồng bạc tầu.”

20 đồng tiền xe tầu lại lớn bằng 10 tạ gạo th́ lại quá lớn

 

(20 đồng )Tiền Đông Dương). Nguồn: Banque de l’Indochine – Wikiwand

 

Từ trang 781-783 của tờ Nam Kỳ Địa Phận, tôi nhận ra một đặc điểm là trong mỗi số báo đều cho biết giá gạo lên xuống ra sao như một chỉ số sinh hoạt kinh tế. Chẳng hạn giá lúa chở lên cân tại nhà máy ở Chợ Lớn một tạ hôm nay là 1 đồng 93 chiêm. Hôm khác lại giá khác. Số báo nào cũng có ghi giá gạo như vậy.

Nhờ biết được giá gạo, người dân quy từ giá gạo ra các món khác nên giá gạo trở thành tiêu chuẩn giá cả. Các giá các món hàng theo giá gạo mà lên xuống theo. Gạo lên th́ hàng khác lên theo, gạo hơn th́ các mặt hàng khác cũng xuống theo.

Ngoài ra, tờ báo c̣n cho biết giá bạc trên thị trường. Giá bạc: tại hăng Đông Dương, tiền Fr là 2.20. Hăng Hồng Kông là 2.95, nhưng tại kho nhà nước chỉ c̣n 2.30.

Chỉ số sinh hoạt kinh tế cho thấy có dấu hiệu một nền kinh tế thị trường cách đây hơn 100 năm nếu chúng ta nh́n số thống kê kinh tế trong một tháng.

Cũng trong Nam Kỳ Địa Phận, tháng 9, 1909, tôi đọc thấy có tất cả 97 tầu chở hàng với số lượng hàng hóa nhập là 85.476 tấn. Trong đó có 72 tầu tây, 7 tầu Đức, 4 tầu Mỹ, 11 chiếc tầu Hồng Mao.

C̣n tầu ra là 99 chiếc với trọng tải 98.467 tấn.

Nếu chỉ nh́n chỉ số sinh hoạt về xuất nhập khẩu trên cho thấy đời sống sinh hoạt làm ăn dưới thời Pháp là phồn thịnh và phát đạt hơn miền Bắc cũng như niền Trung bội phần. Chỉ rất tiếc, ta không được rơ loại hàng nào được nhập cảng và loại hàng nào được xuất cảng.

Về mặt lư thuyết, tờ báo có nhiều bài chỉ dẫn khuyên người Annam nên đi vào con đường thương mại (trang184), thương mại trần thuyết (trang 202). Có bài của ông Phan Yên, khuyến khích người ta nuôi dê, lấy sữa, làm sao cho dê có nhiều sữa theo gương nước Bỉ (trang 540).

Nói chung, cứ vài số lại lại có những bài về thương mại như khuyến khích dân Annam chung vốn làm ăn, mở tiệm, mở hăng, v.v. Có những bài viết phân tích để giúp kiểm soát làm thế nào để phân biệt được giấy bạc giả, giấy bạc thật rất thực tiễn để giúp bà con khỏi bị lừa.

Có bài rêu rao danh tánh những người ăn cắp báo mà hầu hết các tờ báo đều là nạn nhân. Kẻ ăn cắp bị rêu rao tên tuổi nhiều lần trên báo, yêu cầu đồng bào cảnh giác để khỏi bị mất báo.

Ngoài ra c̣n có nhiều bài dạy cách trồng trà, nuôi gà, nuôi dê, nuôi ngựa, phép thuộc da, cách ương và trồng cau, cách trồng nghệ, trồng gừng, trừ mối, phép vá đồ sành, đồ kiểng, v.v.

Thật không biết có bao nhiêu điều hữu ích trong tờ báo nói sao cho vừa!

 

Kết luận

Nh́n lại 400 năm Thiên Chúa giáo có mặt tại Việt Nam, phần tiêu cực cũng không thiếu. Sự lên án chê trách qua lại đổ lẫn trách nhiệm cho nhau cũng như những mâu thuẫn lương giáo trong nhiều thế kỷ không thể nào phủ nhận. Ngay đến bây giờ vị tất đă hết.

Chính sách cấm đạo là một bằng chứng sự trù dập người theo đạo đến đầu rơi máu đổ. Nhưng thời gian hàn gắn cũng đă tẩy rửa được những vết máu đă đổ ra trên mảnh đất này.

Trong trăm điều tiêu cực th́ thời gian sẽ làm sáng tỏ ra những điều tích cực được giữ lại trong đó có nền văn học mang dấu Chúa mà người viêt cố gắng viết lại trong chừng mực khả thi. C̣n biết bao điều để nói và nói sao cho vừa.

Nhưng ngày hôm nay nh́n lại như một cuộc tính sổ đời th́ cái c̣n lại đáng quư nhất là chúng ta có một thứ chữ để nói, để đọc, để viết. Bên cạnh đó là sự đóng góp vào vốn văn chương truyền khẩu trong các câu thai, câu đố cũng như về tuồng, văn mà nay hầu như đă bị rơi vào dĩ văng.

Thật là cao quư biết bao, tiện lợi và thông dụng biết bao, nếu không th́ con cháu chúng ta vẫn phải nói tiếng Việt mà cặm cụi viết chữ Tàu.

 

Tài liệu để viết bài này.

- Hơn 1000 trang báo Nam Kỳ Địa Phận. Nguyên bản.
- Lối xưa xe ngựa: Nguyễn Thị Chân Quỳnh.
- Địa chí Văn Hóa Tp Hồ Chí Minh, tập 2. Văn Học.Đặc biệt bài của Ngô Hạ.
- Về sách báo công giáo từ thế kỷ 17 đến cuối thế kỷ 19 ở miền Nam Việt Nam.
- Một nhóm tác giả 1933. Sàigon năm xưa.
- Đạo Chúa ở Việt Nam. Nguyễn Văn Trung

 

 

Trang Nguyễn Văn Lục

art2all.net