Nguyễn Văn Lục

Forgive hay Forget?

(Thư trả lời các ông Nguyễn Quốc Trụ và Đỗ Kh.)

 

Chuyện Holocaust là chuyện không bao giờ có thể quên được. Đồng ư. Người ta gợi nhắc đến hai phần ba người Do Thái Âu Châu đă chết và hơn triệu trẻ con đă bị giết hại. Chắc chắn quên th́ không bao giờ quên và chẳng thể quên được nhưng có thể tha thứ được không? Đó là một viễn tượng tương lai nhân loại mà ngay nạn nhân của Holocaust cũng cần nghĩ tới và phải nghĩ tới. Chúng ta có nên cứ tiếp tục nuôi dưỡng oán hận khi khơi dậy một thời kỳ đen tối của lịch sử nhân loại cũng như đào bới một chuyện dĩ văng đă 60 năm? Chắc chắn cần nghiên cứu dĩ văng để học ở đó những điều hay tránh điều ác hại, cho nên không quên dĩ văng. Nhưng thử hỏi xem nay c̣n một số người sống sót, những người Do Thái, người Sinti-Roma (Gypsies) và những nhóm khác và con cháu họ được ǵ và rút ra được bài học ǵ? Có nên đâm sâu thêm vào tâm thức nhân loại, vào thế hệ thanh niên Đức bây giờ vết nhơ của 60 năm về trước? Ngày National Holocaust có phải là cơ hội cho một tinh thần ḥa b́nh và ḥa giải và tự vấn lương tâm?

Trong khi đó, lịch sử vẫn c̣n đang tái diễn lại một thứ Holocaust mới của thời đại: Ngay trong thời kỳ chiến tranh 1939-1945, khi quân Đức xâm chiến Liên Xô, bọn Nazi dự trù tiêu diệt khoảng 30 triệu người Nga bằng cách bỏ cho chết đói. Bọn SS và cảnh sát Đức được biết dưới danh nghĩa Einsatzgruppen được chỉ định để thi hành cuộc thảm sát này. Số người chết hiện nay không biết là bao nhiêu, chỉ riêng người Do Thái tính ra đến nửa triệu. Những nạn nhân khác c̣n có ai nhắc đến họ, ở Cam Bốt, ở Rwanda, ở Yugoslavia, ở Sudan, ở Iraq và có thể ở một phần đất của người Palestine? Và thiết thân hơn cả là trận đói năm Ất Dậu của miền Bắc Việt Nam? Ai là kẻ chịu trách nhiệm về nạn đói ấy? Nhật, Pháp và kể cả Mỹ? Có ai lên tiếng cho hằng trăm triệu cái chết vô danh, lên tiếng cho những kẻ không có tiếng nói, suốt đời làm thinh? Cái chết cách này cách khác, chết v́ đói ăn, chết v́ tra tấn, chết v́ bom đạn, chết v́ hơi ngạt th́ cũng vẫn là một cái chết? Dù là cái chết của một con người hay của một triệu người th́ vẫn là một cái chết ? Tại sao có những cái chết được nói đến và cái chết bị bỏ quên? Nhưng h́nh như trí nhớ con người về những phần đất vừa kể này có vẻ cạn lắm. Điều bất hạnh ǵ đă xảy ra ở những nơi này, nào ai có thể rành rọt kể lại? Đă có bao nhiêu sách vở viết về họ? Trong khi đó, vào năm 1998, chỉ riêng Ủy Ban Historikerkommission ở Đức đă chi ra 5 triệu pounds cho việc truy t́m tài liệu liên quan đến Do Thái. Khắp nơi trên trái đất này, chỗ nào mà chả có thư viện, bảo tàng của Do Thái để tưởng niệm về những cái chết oan nghiệt. Khắp Âu Châu: Wien, Berlin, Paris, London và phần đông các thành phố lớn khác đều có những công tŕnh kiến trúc mới để tưởng niệm nạn nhân Do Thái đă bị tàn sát trong Thế chiến hai. Công tŕnh tưởng niệm Holocaust Memorial trong khu Imperial War Museum, rồi Holocaust Grove trong Hyde Park, rồi xây dựng tuợng Raoul Wallenberg gần khu Marble Arch Synagogues. Điều đó muốn nhắc nhở cho mọi người thấy cái quá khứ đen tối mà người Do Thái đă phải chịu, đồng thời được củng cố thêm bằng ngày National Day of Remembrance. Chỗ nào để nhớ và chỗ nào để tha thứ? “Holocaust memorials exist for remembrance and are not intended to make us forgive and forget.” Đó là ư kiến của Rabbi Albert Friedlander. Sự hận oán c̣n tiếp tục và tiếp tục măi. Đôi khi sự hận oán lại c̣n là cái cớ cho sự trả giá và thương lượng và che lấp cho những điều tồi tệ đang diễn ra trên thế giới hiện nay.

Những sự kiện lịch sử đă được lặp đi lặp lại dần trở thành những định kiến vững chắc, tệ hơn nữa trở thành niềm tin, giáo điều. Cộng thêm với tuyên truyền củng cố, nhào nắn lại, tẩy xóa, bôi bác, nhồi sọ làm ta mê hoặc, đôi khi mê muội. Ta thử nghĩ xem, trong chiến tranh Đông Dương và chiến tranh Việt Mỹ, biết bao là con số ảo? Sự thật nằm ở chỗ nào? Nghĩ tới điều này, tôi chợt nghĩ cần viết một bài với nhan đề là: Những con số làm phiền. Cộng sản tuyên truyền, bịa đặt đă là hay. Nhưng vẫn c̣n là dở, v́ nguời dân vẫn không tin.

Trở lại trường hợp Holocaust.

Tôi cũng như các ông thôi, hồi c̣n trẻ ở miền Nam, xem những sách vở, phim ảnh về cuộc diệt chủng người Do Thái th́ thấy thật kinh hoàng. Nhiều khi không dám tiếp tục nh́n nữa. Cảm động xót thương cho dân tộc Do Thái bất hạnh là chừng nào. Những phim Exodus, rồi bản dịch truyện cảm động đó của Thế Uyên, những Moshe Dayan, vị tướng độc nhăn, người anh hùng đă chiến thắng Ai Cập năm 1956 đă từng làm rung động trái tim những người trẻ tuổi. Sang thủ đô Hoa Thịnh Đốn là phải ghé thăm các bảo tàng viện để xem những di chứng về sự diệt chủng ấy. Chuyện đó có thật. Nhưng ngày nay cho thấy đă có những điều không hẳn là vậy... Erthur R. Buttz đă viết bài với nhan đề: „The Hoax of the Twentieth Century“ („Huyền hoặc của thế kỷ 20“). Ông cho thấy tài liệu của Đức không nói tới chuyện Extermination. Deportation th́ có. Cái từ Final solution (Endlösung) chỉ có ư nói đến xua đuổi người Do Thái ra khỏi Âu Châu và lưu đầy họ sang phía Đông.

Tài liệu của Hội Hồng Thập tự Quốc tế và tài liệu của Vatican xem ra không có ư đồng thuận với từ diệt chủng như thường được sử dụng. Chính v́ vậy mà người ta thường lên tiếng tố cáo Giáo hoàng Piô 12 thời đó là đă im lặng đồng lơa với tội ác diệt chủng? Bất cứ ai không cùng chung một tiếng nói, không cùng một luận điệu sẽ trở thành kẻ thù, đồng lơa với tội ác.

Rất nhiều người Do Thái đă chết trong các trại tập trung, tỉ dụ sống chen chúc trong các ghetto. Chữ ghetto phải được hiểu là trại tập trung chờ đợi để đưa đi đầy (Déportation), vi thế người Đức đă mau chóng xây dựng những trại tập trung như ở Ba Lan. Nơi đây nhận những đợt người đầu tiên đến từ Áo quốc, Tiệp Khắc. Họ đă chết rất nhiều v́ đói khát và bệnh tật hơn là v́ bất cứ thứ ǵ khác. Nhưng đến cuối năm 1940, khi có ư định xâm chiếm nước Nga th́ bọn Nazi đă ngưng những chương tŕnh xây cất các ghetto, vi họ trù liệu đầy tất cả tù nhân Do Thái sang Sibéria, thuộc Nga. Cũng vậy, khi chiếm được Pháp, bọn Đức Quốc Xă nghĩ đến chuyện đầy những người Do Thái Âu Châu sang Madagascar. Dù sự bạo tàn ở đâu th́ cũng không kém, nhưng Déportation th́ đă hẳn vẫn khác với Extermination. Nhưng không có nghĩa là số người chết lên đến con số 6 triệu. Con số này lấy ở đâu ra? Con số này được cung cấp phần lớn do các nước Đông Âu, trong đó có từ 2 đến 3 triệu Do Thái. Số 3 triệu dân này đă có thể trốn sang Hoa Kỳ trước và nhất là sau chiến tranh. Họ trốn đi như thế, thay đổi dấu tích, ngay cả họ tên. Làm sao truy tầm ra dấu tích họ cho chính xác được? Hoặc họ đă t́m đường trở về Do Thái, hoặc giản dị hơn nữa là không kịp trốn đi, rồi bị Liên Xô giữ, hoặc đem về Nga sau khi chiếm đóng các nước này. Những thống kê như thế của các nước Đông Âu đưa ra, dựa trên những người Do Thái c̣n lại tại các nước Đông Âu có phản ảnh trung thực số người thực sự chết? Cho nên con số tṛn 6 triệu vẫn là con số có thể cần được đưa ra bàn căi.

Lại theo Steve Paulsson trong bài viết “A View of the Holocaust” cho thấy những nạn nhân đầu tiên trong cuộc tàn sát này không phải là Do Thái.

Kể từ tháng chín 1939, người Đức đă giết khoảng 170 000 bệnh nhân tâm thần, cái mà người ta gọi là chương tŕnh Euthanasia Programme. V́ thế, không nên nhầm lẫn con số những người này với những nạn nhân Do Thái bị giết hại sau này. Đó là dấu hiệu đầu tiên được nghe về những ḷ hơi ngạt.“The euthanasia killers, mostly from the SS, had developed gas vans and gas chambers to murder thousanda of the physically anh mentally disabled in Germany and Poland. With the termination of the so-called euthanasia programme thay could be reassigned to eastern Europe to kill Jews.”
[1] Măi đến mùa thu 1941, việc xây cất các ḷ hơi ngạt mới thực sự bắt đầu tại Belzec, gần Lublin. Và đến cuối năm 1941, thành phố Chelmo bắt đầu việc giết hại người Do Thái bằng phương pháp này.

Cũng cần nhớ rằng người Do Thái bên Âu Châu đă không bị hề hấn ǵ như nhận định của David Cesarani: “This was still not a European-wide genocide. Although anti-Jewwish measures had been enacted throughout Western Europe, the Jews were physically untouched and there were no plans to deport them. Nor were there any facilities to kill them- the existing death camps were to o small for such a task.”
[2]

Họ chỉ trở thành nạn nhân trong chính sách diệt chủng khi có sự tham dự của người Mỹ vào cuộc chiến và lúc ấy Hitler dùng người Do Thái như những con tin của ông ta. Số phận người Do Thái trở thành bi kịch khi chiến tranh mỗi ngày mỗi khốc liệt. Ở nhiều trại tập trung, tù nhân Do Thái bị bỏ đói đến chết v́ không được tiếp tế. Chẳng hạn tại trại Bergen-Belsen, một trong những trại giam được coi là khủng khiếp nhất, tồi tệ nhất, càng gần đến ngày quân Đức sắp thua trận, trại trở thành gần như bỏ hoang. Quân đội Anh khi đến tiếp thu, đă đếm được gần 10.000 xác chết chưa kịp chôn... cộng thêm các bệnh truyền nhiễm lan tràn tàn phá với 60 chục ngàn người bệnh và hấp hối nằm chất đống trong các Barrack không lương thực và nước uống.

Bằng chứng về sự diệt chủng cuối cùng chắc phải dựa trên những chứng từ trong vụ ṭa án Nürnberg? Nhưng ai cũng biết rằng, những lư do chính trị hiển nhiên đă bắt buộc các can nhân nhận tội diệt chủng. Nhưng những phản cung đưa ra về phía các bị can chỉ muốn nhấn mạnh tới trách nhiệm cá nhân của họ mà thôi. Tỉ dụ bị can Adolf Eichmann và Kaltenbrunner
[3] : “Even so, Eichmann was not the central, demonic figure of the nazi regime he was made out to be in his trial, and as he has become in popular memory. He did not make any key decision on Jewish policy and at no point before mid 1941 could he have known where he was leading. The genocide was set in motion by others and at first proceeded independently from his office.” [4]

Những thảm cảnh mà ta được xem tŕnh chiếu trên các phim tài liệu như Schindler’s List, Hitler: The Last Ten Day, Conspiracy: The Meeting at Wannensee, dù đă cố gắng trung thực với nguồn tài liệu gốc, vẫn chỉ đưọc coi như fictional work. Nó cũng chỉ là thảm cảnh chung của các nước sau khi bị thua trận, bị tàn phá và đổ nát hoang tàn với cơ nguy các bệnh dịch. Giữa điều được chiếu lên và sự thực, khó mà kiểm chứng hết đựơc. Trong bài nhận định Historical Accuracy and the Making of Auschwitz, Detlef Siebert viết: “As any historian knows, historical sources are imperfect materiel and can rarely be taken at face value. It!s not just that most historical records are incomplete – they may also be misleading and unreliable. Before any historical source can be used, the ciscumstances in which it was produced and the possible motives of it author have to be taken into consideration.

Trong các trại đó, người ta đă phải dùng các loại thuốc sịt lên tù nhân như thuốc diệt trừ sâu bọ Zyklon B, nhằm mục đích tẩy trùng. Dầu vậy tỉ lệ thương vong kể là cao mà con số có thể lên đến 350.000 đến 400.000 đă chết trong các trại Đức Quốc Xă trong thời chiến tranh, trong đó có tù nhân Do Thái. Có ḷ hỏa táng, nhưng để hoả thiêu những người chết trong trại. Không ai đặt câu hỏi sức chứa của mỗi ḷ đó là bao nhiêu và một ngày có khả năng hoả thiêu bao nhiêu người? Có bao nhiêu ḷ đủ để giết 6 triệu người?

V́ vậy, không đủ bằng cớ để nói tới Extermination camp như một đường lối, chính sách chung của Hitler. Đường lối chính thức là Déportation và giam giữ trong các trại tập trung ở trong những điều kiện tồi tệ nhất mà người ta có thể tưởng tượng ra được. Ḷ hơi ngạt cũng không phải được thiết kế tràn lan trong các trại giam. Khi người ta sịt lên tù nhân chất Zyklon th́ được diễn dịch là muốn hủy diệt người Do Thái. Những pḥng b́nh thường biến thành “Gas oven”. Tất cả những ḷ hoả táng trở thành ”Gas oven”. Trong một bài viết nhan đề Denying the Holocaust, Deborah Lipstadt nhằm biện minh và đưa ra những tranh luận chung quanh câu chuyện ḷ hơi ngạt để bác bỏ những chứng cớ của những ai muốn nghi ngờ về ḷ hơi ngạt, về Extermination camp, về tính trung thực của cuốn nhật kư nổi tiếng thế giới của cô Anne Frank. Đi t́m sự trung thực của cuốn nhật kư, người ta đă cho thấy có nhiều bản hồi kư khác nhau đă được in ra, người ta cũng truy tầm cái thứ mực cũng như cái đầu bút nguyên tử xem có đúng với mực và đầu bút của thời đó không và đă được sử dụng chưa?

Nhưng đồng thời cũng có những người như Irving, ông là người viết nhiều sách về Thế chiến thứ hai, trong dó có sách ông phủ nhận Holocaust. Vấn đề ông đưa ra đă ra đến ṭa án và đây là kết quả của án lệnh: “Dismissing Irving’s claims that the gas cham bers were an impossibility, the Judge noted that that the cumulative effect of the documentary evidence for the genocidal operation of the gas chambers! Was not only considerable but mutually corroborative.”

Và quan ṭa Gray nhận thấy rằng nhân chứng và những tài liệu rơ ràng đầy đủ và chặt chẽ và ông đă đi đến một kết luận “No objective, fair-minded historian would serious cause to doubt. The existence of gas chambers at Auschwitz, which were used on a substantial scale to kill Jews. He found Irving’s arguments - and by extension the claims of deniers in general- to be perverse and egregious.”

Quan ṭa đă phán quyết rơ ràng như vậy th́ phải nghe thôi. C̣n vấn đề tư cách của quan ṭa lại là chuyện khác. Tŕnh bầy và dẫn chứng vụ kiện ở toà án Luân Đôn cho thấy những vấn đề tưởng chừng như sự thật 100 %, vẫn là những vấn đề dẫn đưa tới sự nghi ngờ và đặt lại giá trị đúng sai của nó. Trong tương lai, khi mà những kẻ sống sót của Holocaust đều không c̣n nữa, hầu hếr nay đă trên 80 tuổi, tính cách của vụ kiện lúc đó đă hẳn là khác hiện nay. On verra…

Kể từ 60 năm nay, biết bao giấy mực đă tốn về vấn đề này, lư chứng bên này bên kia không thiếu. Chuyện vẫn c̣n đó, và lịch sử c̣n cần đào sâu. Cho là mọi chuyện đă rơ như ban ngày có vẻ ngây thơ, thiếu phê b́nh lư tính. Tệ hơn nữa, đi đến chỗ chủ quan, giễu cợt quan điểm người khác là không nên. Hăy cứ nh́n lại vụ Iraq, người ta đă ngụy tạo hồ sơ như thế nào, dàn dựng, sắp xếp ra sao? Hệ thống thông tin, truyền h́nh, báo chí, tạo dư luận ra sao? Đó là thứ mặt trận mới, khủng khiếp và bạo tàn chả kém ǵ súng đạn. Sức mạnh của truyền thông, của dư luận không thể coi thường.

Bài viết The International Holocaust Controversy của Arthur R. Rutz cũng đáng làm chúng ta suy nghĩ lắm. Mong rằng với đôi lời tŕnh bầy trên có thể tạm trấn an
nỗi lo sợ của ông Nguyễn Quốc Trụ. Riêng về trường hợp ông Đỗ Kh., với lối viết nhạo báng miệt thị, tôi nghĩ chẳng có lư do ǵ để trả lời ông. Chỉ xin nhắn một điều: “Chúng ta ai cũng có thể đều c̣n dốt, song có thể tôi và ông đă không cùng dốt một thứ.”

Cuối cùng, là người đă từng đau khổ trong chiến tranh, từ đó đă từng đứng cùng một phía với nạn nhân Holocaust, cho nên đối với tôi Holocaust phải luôn luôn là sự nhắc nhở lương tâm nhân loại, trong đó có t́nh thương, sự công bằng nhân và ḷng yêu chân lư.

© 2005 talawas


 


[1]Theo David Cesararani trong bài From Persecution to Genocide 
[2]Theo đài BBC: http://bbc.co.uk/history
[3]Trích Adolf Eichmann: The Mind of a War Criminal, BBC
[4]Adolf Eichmann: The Mind of a War Criminal, BBC: http://bbc.co.uk/history/