|
1. Nỗi vui một nửa
Bọn trí thức bốn tên:
Có những nỗi vui, cái thích chả cắt nghĩa được. Nhớ lại có
một lúc nào đó xuất hiện các tên Trung TR rồi Chung CH đồng
loạt. Nhất là sau 1963. Thật khó cùng một lúc có những tên
tuổi như thế nổi lên cùng thời. Đến nỗi, ông Thiên Hổ, chủ
bút báo Xây Dựng đă viết chửi gom cùng một lúc bốn tên Trung,
Chung như sau: "Tất nhiên rồi. Những Lư Quí Chung, Nguyễn
Hữu Chung, Lư Chánh Trung, Nguyễn Văn Trung và các anh em có
tên Chung hay Trung cũng như các đứa con chỉ được quen mồm
gọi thằng Cu như Thiên Hổ, nghĩa là đại đa số con dân Việt
Nam ở ba miền Trung Nam Bắc, vẫn muốn là (những người ở giữa)
th́ câu đó nông a lê ù, mà c̣n tổ làm cớ cho Cộng sản nó
khai thác. Nhà dân biểu hăng say Lư Quí Chung v́ dân tộc,
với dân tộc hẳn đă nghĩ đến điều đó. Dù sao Thiên Hổ cũng
xin phép nói trước, sợ đàn anh quá sốt sắng đến thành ngây
thơ. Chết cho dân tộc chúng em đấy. Thiên Hổ.
Có điều cả bốn người họ đều nổi cộm lên, đều viết được. Phải
nói họ đều viết hay mới đúng. Trong hồi kư của Lư Quí Chung
cũng đă có lần nhắc đến cái cụm bốn Trung, Chung rất là lạ,
rất là kỳ cục như thế. Trong cả bốn, Nguyễn Hữu Chung sau
này ở cùng chỗ với tôi, lại có viết chung trên Tạp chí Đi
Tới. Anh viết ít. Nhưng nhiều lúc anh hạ một con chữ, tôi
đọc thấy cũng đă lắm.
Đến lúc Lư Quí Chung cho ra cuốn: "HỒI KƯ KHÔNG TÊN", rồi
Talawas cho đăng lại. Tôi theo dơi mỗi ngày với sự thích thú.
Nay đă đọc xong, xin ghi lại một số cảm nghĩ của ḿnh.
Thể văn hồi kư tự nó có sắc thái đặc biệt. Đó là thể văn cho
người đă xế chiều. Viết để nhớ lại và gửi gắm. Đọc nó, giúp
ta hiểu đời sống một người đồng thời hiểu một giai đoạn mà
tác giả sống, nhất là về phương diện chính trị, xă hội hay
văn học. Nhưng theo tôi, đó là một thể văn gay go nhất, v́
nó đ̣i hỏi người viết một nguyên tắc khá quyết liệt: Viết
thật thà, viết với ḷng trung thực, viết không phải để tô
son đánh bóng ḿnh. Hầu hết các cuốn hồi kư từ trong nước
đến hải ngoại đều vấp phạm phải lỗi lầm này. Đến không thể
kể ra cho hết được. Thế là cuốn hồi kư trở thành vô giá trị,
cùng lắm đọc chơi, đọc để giải trí.
Riêng cuốn hồi kư của Lư Quí Chung tôi nghĩ nó đạt được nửa
điều trung thực, nửa điều thật thà. Nửa kia phải nín thở qua
sông. Lỗi không phải ở tác giả. Bởi v́ nó che dấu nhiều thứ.
Có những điều cần nói đă không nói ra. Bắt đầu từ chương:
Sau ngày 30.4.1975. Đến ngót nghét 30 năm mà như thể không
có điều ǵ để nói.
Tôi tự hỏi ḿnh, ông viết vào cái lúc sắp sửa bước chân vào
cơi bên kia. C̣n ǵ để ông vướng bận? c̣n ǵ để ông e ngại
mà không trải ḷng ḿnh ra? Cái chúc thư mà ông gửi đến
người đọc là chúc thư ǵ? Nội dung nhắn gửi có đủ chưa, có
c̣n ǵ để nói nữa? Điều ǵ đă làm ông phải lựa chữ, lựa lời,
lách chữ để có mặt? Để ít ra c̣n được lên tiếng?
Nhưng dù ǵ đi nữa, tôi cũng vẫn đọc ông với niềm trân trọng
nhất là khi ông viết những ḍng trăn trối như thế này:
"Tôi có ư định viết lại phần đời sau 30 tháng Tư 1975 này,
thành một tập hồi kư riêng. Nhưng tôi hoài nghi ḿnh sẽ
không c̣n thời gian đủ để làm việc đó. Tôi vừa thoát qua cơn
bệnh hiểm nghèo, không biết thời gian tạm ứng tiếp cho tôi
sẽ được bao lâu. Phần một của tập Hồi Kư tôi mất một năm
rưỡi để viết. Tôi đă bắt đầu ngay khi vừa phục hồi sức khỏe
từ cuối tháng 12.2002. Khi viết những ḍng này, ngày
01.3.2004, tôi được tin người bạn thân và đồng hành với tôi
trước 1975 trong thời gian chống Mỹ-Thiệu, cựu dân biểu
Nguyễn Hữu Chung, đă mất ngày 26-2004.
Có thể thời gian c̣n lại quá ít để ông không có th́ giờ viết
nữa?
Nhân tiện đây xin trích dẫn một người bạn thân Nguyễn Hữu
Chung của ông. Lối viết rất Nam Kỳ, rất Nguyễn Hữu Chung,
rất trung thực trong một lá thư trước khi ông mất. Lá thư
này coi như chúc thư gửi cho ông chủ bút , nhưng cũng là gửi
cho mọi người để cùng nhau suy nghĩ.
Anh Hóa.
Bác sĩ cho "moi" 12 tháng, "moi" xài hết 6 tháng rồi. Anh
kêu tôi viết, tôi cám ơn anh, nhưng tôi nghĩ ḿnh viết cái
ǵ bây giờ?
Ḿnh viết về một dân tộc mà ḿnh biết có một phân nửa. Ḿnh
viết về một đất nước mà ḿnh biết có phân nửa. Ḿnh viết về
thế hệ tương lai, tính từ 75, đă một thế hệ sanh ra và lớn
lên mà cả hai thế hệ này... nó không biết ḿnh là ai, mà
ḿnh cũng không biết nó là ai.
Anh thấy không, anh kêu tôi viết về tuổi trẻ, về tương lai,
về một thế hệ mà đă hơn một phần tư thế kỷ ḿnh không ở đó,
cái điều đó có thể cũng không sao, nhưng quan trọng hơn, là
ḿnh không dự phần, ḿnh không chia xẻ, th́ bây giờ viết cái
ǵ bây giờ. Tôi đi năm 75, ở cái tuổi sung măn nhứt của đời
người th́… chỉ để kiếm cơm. Bây giờ về hưu rồi, hết rồi "toa"
(…) Nhưng anh cứ nói cho tôi biết, tôi phải viết cái ǵ bây
giờ?
Nguyễn Hữu Chung,
Montréal, một ngày tháng Tư 2003
(Trích một lá thư gửi Đoàn Minh Hóa, chủ nhiệm, chủ bút Tạp
chí Đi Tới, Montréal, Québec, Canada)
Trích dẫn cả hai đọan văn trên để nhớ cả hai người đă một
thời tuổi trẻ, đă có mặt, đă tham dự một phần vào lịch sử
miền nam vào những ngày trước 30.4.75.
Những trí thức trẻ tạo nên thời cuộc
Dựa theo Hồi Kư Không Tên của Lư Quí Chung, tôi nhớ lại sau
1963 xuất hiện một loạt những khuôn mặt chính trị non trẻ,
không có một tư bề dày kinh nghiệm chính trị ǵ cả. Vốn
liếng chính trị rất mỏng. Kinh nghiệm sinh hoạt nghị trường
v.v... cũng không có. Kể như là những tay mơ. Họ là giới
thanh niên trí thức trẻ của cả một thời, đánh dấu một thời
kỳ của ho. Họ là những Ngô Công Đức, Lư Quí Chung, Nguyễn
Hữu Chung, Hồ Ngọc Nhuận, Phạm Thế Trúc (sau trốn sang Nhật
không dám về) Nguyễn Hữu Hiệp, Hồ Văn Minh, Hồ Ngọc Cứ,
Hoàng Ngọc Biên, Dương Văn Ba, Dương Minh Kính, Nguyễn Văn
Châu, Bành Ngọc Quư, Nguyễn Hữu Thái, Huỳnh Tấân Mẫm, Hồ
Ngọc Cứ, Nguyễn Văn Binh (đại tá). Dĩ nhiên, phải nh́n nhận
rằng, họ có mặt là do sự hỗ trợ đằng sau của Công giáo hay
Phật giáo hoặc do nhăn hiệu Nam, Bắc hay Trung. Thời cuộc
thay đổi, t́nh h́nh chính trị thay đổi. Họ thay thế các
khuôn mặt chính trị lớp cũ, nhiều khuôn mặt quá quen thuộc
tỏ ra lỗi thời. Họ thiếu kinh nghiệm, nhưng xông xáo, học
bài rất nhanh. Cộng thêm họ lư tưởng, có một tấm ḷng. Nhiều
người trong họ, với kinh nghiệm thu tập trong nghị trường,
trong mặt trận báo chí, trong các phong trào phản chiến,
đứng giữa hay thành phần thứ ba. Chẳng mấy chốc, họ trưởng
thành qua kinh nghiệm, trở thành những khuôn mặt chính trị
đại diện giới trí thức trẻ khuynh tả của miền Nam lúc bấy
giờ.
Đại diện trong đám họ, tiêu biểu có thể là mẫu người như Lư
Quí Chung, vừa là nhà báo như các người trẻ khác như Trương
Lộc, Trần Trọng Thức, Nguyễn Vạn Hồng, Nguyễn Bá Thành. Vừa
là nhà chính trị như một số dân biểu vừa nêu trên. Ông là
mẫu người lư tưởng, hăng say, dấn thân nhập cuộc.
Những điều mà ông Lư Quí Chung viết về giai đoạn ấy khá
trung thực. Trung thực khi viết về chính bản thân ḿnh như
học dở dang, chưa ra ông ra thằng. Vào đời vỏn vẹn có mảnh
bằng Tú tài 1, chương tŕnh Pháp. Tay nghề làm báo kể là số
không. Lăn vào chính trị như một t́nh cờ, một dun dủi. Đi từ
trí thức khuynh tả nhảy sang đứng giữa rồi thành phần thứ ba.
Nhưng qua những điều ông kể, đánh giá người này, người kia,
đánh giá sự việc, đánh giá một t́nh huống. Phải nhận ông là
người có tài, người có một tấm ḷng, người thẳng thắn, tạo
cho ḿnh một bản lănh, một thế đứng chính trị, phản ứng ăn
nhịp với xu hướng chính trị, thời cuộc. Đó là trí thức
khuynh tả, thành phần thứ ba.
Chập chững vào nghề: Hứa hẹn vóc dáng một tên tuổi đầy hứa
hẹn
Tôi c̣n nhớ vào những ngày trước biến cố Phật giáo 1963, một
số tờ báo vẫn có thói quen ca tụng chế độ Ngô Đ́nh Diệm. Tờ
Sàig̣n Mới là một trong số những tờ đó. Nhưng khi ông Diệm,
ông Nhu bị thảm sát xong. Diện mạo, cung cách, giọng điệu
một số tờ báo đă khác. Họ đổi chiều, trở giọng nhanh như
chớp đến đáng khinh. Vô số những bài phóng sự mới ra ḷ bôi
nhọ chế độ ông Diệm. Không ai cấm họ làm như thế với điều
kiện trước đây họ đừng có khen hay nịnh bợ. Khinh họ là ở
chỗ đó. Chỉ trong một đêm. Giọng điệu đang rỉ rả ca tụng
thành chửi bới, bôi nhọ. Tôi cảm thấy ngầy ngật về nhân cách
của một số tờ báo thời đó.
V́ thế, tôi đọc hồi kư của Lư Quí Chung trong chương: Chập
chững vào nghề báo. Tôi nghĩ rằng, ông là nhà báo trẻ và duy
nhất không nói và về hùa theo đám đông. Bài báo viết về vụ
ông Cẩn của ông có cách nh́n riêng, khá nhân bản và can đảm.
Có lẽ cả cuốn hồi kư, phần này nói lên cái nhân cách của Lư
Quư Chung sau này. Lư Quí Chung vượt trên cái nhăn thức b́nh
thường của các kư giả viết chạy theo thời cuộc, viết a dua,
viết chạy theo đám đông, viết bôi bác lem nhem, nhăn thức
thiển cận hẹp ḥi không có tŕnh độ, thiếu một cái nh́n sắc
bén về cá tính ông Ngô Đ́nh Cẩn. Lư Quí Chung biết nhận ra ở
ông Ngô Đ́nh Cẩn lúc ra ṭa, lúc ở cái thế kẻ thua cuộc. Ông
Ngô Đ́nh Cẩn vẫn tỏ ra cho thấy một con người có bản lănh,
có cá tính, có uy lực, coi thường những kẻ đang xử án ḿnh
và coi khinh những nhân chứng trước đây ra vào nhà ông qụy
lụy. Từ tư thế một tội nhân, bị xử án, ông Cẩn ở tư thế một
người biết chấp nhận thua được một cách b́nh thản. Khó chứ
không phải dễ. Người ta có thể oán hận ông, có thể kết án
ông điều này điều nọ. Nhưng trước ṭa án xử ông, ông chứng
tỏ một nhân cách đáng nể. Điều đó không thể phủ nhận được.
Lư Quí Chung viết: "Tôi vẫn nhớ thái độ ông Cẩn trước ṭa án
rất ngạo mạn, ông chẳng quan tâm ǵ đến diễn tiến phiên ṭa.
Chẳng chú ư tới các lời buộc tội ông. Ông mặc bộ đồ bà ba
lụa mầu trắng, mắt nhắm nghiền như ngủ qua suốt các phiên xử.
Nhiều lúc c̣n có cử chỉ tỏ vẻ khinh khi các tướng tá đang
ngồi xử ḿnh.. Và lúc bị đưa ra hành quyết, Lư Quí Chung
viết: "Ông bị trói chặt vào cột hành quyết và lúc sắp sửa bị
bịt mắt bằng vải đen th́ ông ta phản ứng. Ông nhất định
không để bị bịt mắt, muốn được nh́n tận mắt cuộc hành quyết
ḿnh. Nhưng người thi hành án giải thích với ông rằng luật
lệ không được phép cho họ làm khác. Người ta vẫn bịt mắt ông
và một loạt súng kết liễu mạng sống của người thứ ba và là
em út trong ḍng họ Ngô từ sau cuộc đảo chính 1.11.63. Bài
tường thuật của tôi nhấn mạnh hai điểm: ông Cẩn không sợ cái
chết và tỏ vẻ khinh khi những người xử ông tại ṭa.
Bài viết này làm nên vóc dáng Lư Quí Chung sau này trong
nghề làm báo và chính trị, khởi đầu một cuộc hành tŕnh trí
thức trẻ, dấn thân và nhập cuộc. Đó là bài báo như bước chân
khổng lồ vào đời, xác định được thế đứng, góc nh́n và vóc
dáng của một nhà báo trẻ. Bài báo đó báo hiệu tương lai một
người tuổi trẻ lư tưởng và hăng say, can đảm và trung thực.
Vào lúc đó, ngoài Lư Quí Chung, c̣n có tờ Tiếng Nói Dân Tộc,
số kỷ niệm ngày 1.1.63 có ghi lại cảm tưởng như sau: "Vô
cùng kinh ngạc vế thái độ dửng dưng và thật trầm tĩnh của
con người được mệnh danh là
Út Trầu, lúc mà Cẩn biết bị bác
đơn ân xá" .
Khoảng gần 30 năm sau. Trong hồi kư Luật Sư: Nghề hay Nghiệp,
hồi kư về vụ án ông Cẩn đăng trên tờ Thế Giới Ngày Nay ở
Kansas, Hoa Kỳ, năm 1992, Luật sư Vơ văn Quan viết: "Ông Cẩn
im lặng nghe đọc bản án bác đơn xin ân xá. Quá cảm động, tôi
chỉ biết nói câu an ủi tầm thường: "Thôi ông cố vấn đừng quá
đau buồn. Trên cơi đời này sớm muộn ǵ rồi cũng phải ra đi."
Ông nh́n tôi điềm tĩnh nói: "Luật sư đừng có buồn cho tôi.
Tôi đi theo mấy ông anh của tôi. Tôi trở về cơi Chúa. Tôi
không sợ chết đâu, nhưng tôi lo cho luật sư. Luật sư đụng
chạm tới họ không biết luật sư ở lại có bi họ làm khó dễ hay
không.." Tôi ứa nước mắt nói không sao đâu, ông cố vấn đừng
lo cho tôi. Xin cầu chúc ông cố vấn được vào nước Chúa".
Người lính đem khăn vải đen bịt mặt ông. Tới lúc đó, ông
không c̣n giữ im lặng lắc đầu nói lớn, tôi không chịu bịt
mắt đâu, tôi không sợ chết, nhưng người ta vẫn buộc. Bị bịt
mắt, ông Cẩn vẫn lên tiếng phản đối vùng vẫy cái đầu. Một
tiếng hô, một loạt súng nổ. Đạn bắn mạnh vào làm cho thân
h́nh người tử tội bật ngược lên, dăy nảy rồi rũ xuống như
một người máy bị đứt dây thiều. Viên sĩ quan chỉ huy đội
hành quyết bước tới cọc, lạnh lùng bắn phát đạn ân huệ. Đầu
ông Cẩn dăy lên rồi gục xuống. Hoàng hôn chụp xuống ảm đạm
tang tóc".
Ông kết luận: "Tối hôm xử bắn, tôi đă uống thuốc để cố gắng
t́m giấc ngủ, vẫn trằn trọc thao thức suốt đêm v́ bao h́nh
ảnh vụ án cứ dồn dập quay cuồng trong tâm trí và ông nhận ra
t́nh cảm cũa ông đối với bị cáo đă thay đổi: Lúc đầu ác cảm
phẫn nộ, đến khâm phục và thương tâm.
Con đường làm chính trị thông qua cửa ngơ nhà thờ, hoặc nhà
Chùa.
Qua Hồi Kư Không Tên giúp chúng ta hiểu khá rơ quá khứ của
những sinh hoạt chính trị sau năm 1963. Tôi c̣n nhớ đến ngạc
nhiên là tự mọi nơi chốn, những người trẻ quen cũng như
không quen, như một lớp sóng trào nhảy vào chính trị rất là
ngang xương, rất là " blanc- bec". Nguyễn Hữu Hiệp, dáng thư
sinh học tṛ, con cháu của Molière và học tṛ của Aristote,
Platon đă dùng cú đá song chảo đá văng những nhà chính trị
lăo thành tăm tiếng như bác sĩ Hoàng Cơ B́nh. Châu Nguyễn ở
Đà Lạt cũng vậy. Dưới tỉnh, những Bành Ngọc Quư, Dương Văn
Ba đă có lá bài "Miền Nam" hay "Liên Trường", hay địa phương.
Những Ngô Công Đức, Hồ Ngọc Nhuận, Nguyễn Văn Binh, Lư Quí
Chung, Dương Minh Kính th́ đúng ra mỗi người có những lá bài
"tẩy", những lá dù che của thời kỳ đó.
Họ muốn lọt vào sinh hoạt chính trị, không có con đường nào
khác qua cổng chùa hay cổng nhà thờ. Một điều như thể bắt
buộc, không làm khác được. Cha Cố, sư săi có giá. Điều đó
chứng tỏ một chính quyền, một chế độ non nớt. Uy quyền Quốc
Gia không có. Tôn giáo, thần quyền dính vào thế quyền, chia
xẻ quyền lực rất tay ngang và không b́nh thường. Cổng chùa,
cổng nhà thờ nay ra vào không phải là những Phật tử hay con
chiên ngoan đạo nữa. Thêm vào đó là những nhà chính trị, trẻ
có, già có đi t́m một tấm giấy thông hành chính trị. Không
ai có thể ra vào Hạ Viện, Thượng Viện mà thiếu một tấm giấy
thông hành. Hạ Viện th́ đám người trẻ như tác giả Lư Quí
Chung. Rất năng động, rất xôm tro, rất nổi đ́nh đám. Hoặc
như các dân biểu Đinh Văn Đệ, Nguyễn Phúc Liên Bào, Phan
Xuân Huy, Đinh Xuân Dũng, Kiều Mộng Thu, Trần Ngọc Châu
trong vai tṛ dân biểu đối lập. Hoặc có những người ít xuất
hiện công khai như Dương Văn Ṭng, Trương Lộc, Hoàng Ngọc
Biên v.v.. Hoặc trong bóng tối với tư cách người Cộng sản
như: Trương Bá Cần (hay Trần Bá Cường), Vương Đ́nh Bích,
Huỳnh Công Minh, Phan Khắc Từ. Bốn người này đều có thẻ đảng
và nắêm tờ Công giáo và Dân Tộc từ sau 75 cho đến hiện nay.
Thượng Viện th́ thầm lặng hơn với đám sồn sồn, trí thức
salông. Họ bỏ nhà thương, bỏ ṭa án, bỏ quân ngũ, bỏ trường
học để ra ứng cử và xếp hàng dưới hai nhăn hiệu: Liên danh
của Công giáo hay Phật giáo. Chỉ cần người đứng đầu có tên
tuổi như Trần Văn Lắm, Vũ Văn Mẫu, Dương Văn Minh v.v.. gắn
thêm cái mác tôn giáo. Thế là xong. Ngay cả những liên danh
quân đội của các tướng như Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính th́
cũng không thoát nổi cái dù che của Cha cố, Sư săi. 9 người
c̣n lại đều có nghề nghiệp chuyên môn, có tuổi, có tên,
nhưng mà chưa có tên tuổi. Họ là những nhà chính trị giả
hiệu, thiếu tay nghề, thiếu kinh nghiệm nghị trường. Cùng
lắm là những nghị gật.
Và đây là lời xác nhận của ông Lư Quí Chung về điểm này: "Trong
khi chuẩn bị cuộc vận động cho liên danh Dương Văn Minh với
tư cách đại diện báo chí cho liên danh này, tôi đă tiếp cận
với Phật giáo Ấn Quang t́m sự ủng hộ của lực lượng Phật giáo
có hậu thuẫn quần chúng lớn nhất. H́nh như dân biểu đơn vị
Huế là Trần Ngọc Giao cũng có giới thiệu tôi với Thượng tọa
Trí Quang lúc này đang ở chùa Ấn Quang"
Dân biểu Lư Quí Chung nhận xét tiếp: "Lần đầu tôi gặp 'Người
làm rung chuyển nước Mỹ', Báo Newsweek đă gọi Thượng tọa Trí
Quang như thế. Khi đă tiếp xúc th́ con người ấy đă toát lên
một thứ thần sắc khác thường. Ánh mắt như sao băng, chiếu
thẳng vào người đối thoại như nh́n thấu những suy nghĩ của
họ. Tôi nhớ măi ấn tượng đầu tiên ấy khi lần đầu gặp nhà tu
hành nổi danh."
Khi ra Huế, dân biểu Lư Quí Chung đưa ra một nhận xét khá
đặc biệt khi gặp Đức Tăng Thống: "Trong chùa Bảo Quốc chỉ
treo một bức ảnh chân dung duy nhất trên tường. Đó là chân
dung Thượng tọa Trí Quang. Như thế đủ thấy ảnh hưởng của
thầy Trí Quang với người lănh đạo tinh thần cao nhất Giáo
Hội Phật Giáo là như thế nào."
Nay th́ quyền lực thế trần nắm trong tay các vị lănh đạo tôn
giáo, thay cho quyền lực siêu nhiên. Hay có thể là cả hai mà
tự bản chất của các tôn giáo, hai quyền lực đó không thể
dung hợp nhau được. Hoặc có cái này th́ không có cái kia, có
loại trừ, không làm tôi hai chúa được. Đó cũng là lựa chọn
đau xót mà mỗi người tu hành bước qua ngưỡng của tôn giáo
phải tuân thủ. Bước đầu của việc tu tŕ là rũ áo, bỏ đời mà
đi trong tấm ḷng thanh thản, không c̣n nuối tiếc trần thế
nữa.
Cho nên, đừng ai nói hay. Tôn giáo mà đi đôi với thế quyền,
cộng thêm tiền bạc th́ khó tránh khỏi nguy cơ của sự sa đọa
trần thế. Sa đọa quyền lực, lẫn lộn vai tṛ lănh đạo tôn
giáo và vai tṛ lănh đạo chính trị. Một thứ chính trị như
ban phát ơn, thiếu lành mạnh, thiếu dân chủ chỉ xảy ra ở VN
trong một t́nh huống khá đặc biệt. Nh́n lại cho thấy đó là
một giai đọan tồi tệ v́ một khủng hoảng quyền lực, khủng
hoảng uy quyền Quốc Gia. Chúa Phật chỉ có nước bỏ chùa, bỏ
nhà thờ mà đi lang thang.
Hồi kư của Lư Quư Chung khá lư thú kể về người, về việc, về
từng biến cố với tư cách người trong cuộc. Nhất là nêu bật
được cái hay, cái dở, cái yếu của cái cơ chế của sinh hoạt
chính trị thời đó.
Tôi cũng nhận ra rằng, trong cuốn Hồi Kư Không Tên, phần
viết về những năm hoạt động báo chí và làm dân biểu, Lư Quí
Chung viết rất thong dong, thoải mái, rạch ṛi từng sự việc,
từng người, phê phán thẳng thắn theo cái kiểu "Có sao nói
dzâïy". Từng nhà báo, từng tờ báo, từng nhân vật như ông
Thiệu, ông Kỳ. Nêu bật được cá tính, cái hay lẫn cái dở của
họ. Về những hoạt động chính trị của ông với tư cách một dân
biểu đối lập, về các đồng sự, về các cuộc chống đối biểu
t́nh được nh́n từ bên trong với tư cách người trong cuộc.
Ông không ngại nói hết, kể hết cho thấy vai tṛ của ông
trong các biến động ấy. Đấy là những trang hồi kư sống động,
một thứ sản phẩm c̣n nguyên vẹn được bóc trần ra, ít lắm
cũng có thêm những chi tiết mà phải là người trong cuộc mới
biết được. Chẳng hạn như cái chương 25, Thời khắc Lịch sử:
Đầu hàng. ông đă tận dụng ng̣i bút để nhấn mạnh vai tṛ nhân
chứng của ḿnh, từng chi tiết nhỏ một. Dù là nhân chứng một
vụ việc rất là nhỏ, chẳng đáng nói. Chẳng hạn chi tiết hướng
dẫn một ngườøi lên sân thượng để treo lá cờ Giải phóng, thay
lá cờ Quốc gia.
Chi tiết lá cờ Giải Phóng, nửa xanh nửa đỏ treo lên ở Dinh
Độc Lập khá là quan trọng và mang nhiều ư nghĩa lắm. Ở những
ngày sau 30-4. Sàig̣n rợp bóng cờ mầu xanh. Phố phường, nhà
nhà mầu xanh, mầu đỏ, xe cộ chạy rần rật trên đường phố phất
phới mầu xanh. Trẻ con cầm lá cờ đi phất phới khắp nơi. Cũng
mầu xanh và đỏ. Cũng lá cờ của Mặt trận giải phóng miền Nam.
Vậy mà, chẳng bao lâu sau, trong vài tuần lễ, không kèn
không trống.. Những lá cờ mầu xanh và đỏ đó biến đâu mất.
Phải nói lại, miền Nam có hai lần giải phóng cờ: 30-4, giải
phóng cờ Quốc Gia, cờ mầu vàng ba sọc đỏ. Sau một tháng,
giải phóng cờ một lần nữa. Lá cờ mầu xanh đỏ thay thế bằng
lá cờ đỏ sao vàng. Cùng với sự biến mất lá cờ mầu xanh cũng
dần biến mất những nhân vật đă từng nhân danh chiến đấu dưới
nhăn hiệu lá cờ xanh, đỏ đó.
Cũng qua cuốn Hồi Kư, mặc dầu chỉ trong vài ḍng, ông cũng
lột mặt nạ một số trí thức theo đuôi, không khỏi có những
nhố nhăng khó tránh khỏi. Ta hăy nghe ông kể: "Ông Minh và
ông Mẫu được đưa đến đài phát thanh Sài G̣n trên chiếc xe
Jeep của bộ đội. C̣n tôi đi theo trên một chiếc xe jeep khác
của các nhà báo Đức. Khi tôi đến đài phát thanh th́ hai ông
Minh và Mẫu đă vào bên trong. Tôi vừa bước vào sân th́ anh
Nguyễn Hữu Thái và một hai thanh niên khác đứng ở cổng nói
với tôi: "Anh về đi, khi nào có bộ phận chính trị vào sẽ
liên lạc lại." Lúc này thật khó biết ai là ai, ai có đủ thẩm
quyền quyết định chuyện này chuyện nọ. Ai cứ bảo là Lư Quí
Chung ra đ̣n không thâm?
Cũng qua cuốn hồi kư, tôi nhận ra một điều là trí thức miền
Nam như những Lư Quí Chung chủ trương chống Mỹ và chống
Thiệu. Chống Thiệu th́ rơ ràng rồi, không có ǵ để phải nói.
Chống Mỹ th́ có hai mặt: Chống đường lối, chính sách của Mỹ
chung chung. Nhưng mặt khác lại giao du khá thân mật với các
kư giả, nhà chính trị Mỹ. Và coi những người này như những
người bạn tâm giao, nếu không nói là hănh diện về những mối
liên lạc này. Trong suốt hồi kư, tác giả đă không quên nhắc
đến người này, người kia trong sự trân trọng và quư mến. Họ
như thể nằm trong cái vốn chính trị của tác giả như một
thành quả trong những năm hoạt động chính trị của ḿnh.
Chống Mỹ mà vẫn yêu Mỹ, tin Mỹ, mà vẫn chơi với họ..Chống
hời hợt. Không có chỗ nào cho thấy trực diện chống Mỹ, nếu
không nói là để cho Mỹ giật giây.
Nó có một cái ǵ đấy cho thấy việc chống Mỹ chưa đủ căn cơ,
mức độ. Nhiều lúc tự hỏi, ông đă viết được một bài báo hay
một cái ǵ đó tương tự trong đường lối chống Mỹ? Chống cái
ǵ? Chống chung chung? Từ đó dẫn đưa đến những ngờ vực.
Ông để ra hai chương nói về: Những ngày cuối cùng của Tổng
thống Thiệu và cuộc "trốn chạy" của Nguyễn Văn Thiệu. Có
những điều thật sự nó không phải là hồi kư của chính ông kể
lại hoặc do nghe được, chứng kiến. Có nhiều đọan, ông trích
dẫn lại hồi kư của Nguyễn Cao Kỳ hoặc trích dẫn Christian G.
Appy trong The Viet Nam war rememberd from all sides hay của
Frank Snepp trong Interval Decent (sách đă được dịch ra
tiếng Việt), hay của Henry Kissinger trong Ending The War,
hoăïc của Tiziano Terzani trong Three days and Three months.
Những trích dẫn nhiều như thế làm mất cái đặc sắc của vai
tṛ nhân chứng của ông.
Nhưng nói chung, nếu nh́n toàn diện những chương viết về
giai đoạn trước 30.4. Cuốn hồi kư của tác giả ít lắm nêu bật
được những điểm quan trọng sau đây:
- Vai tṛ của trí thức trẻ miền Nam Việt Nam
- Bộ mặt thật của sinh hoạt chính trị miền Nam dưới thời đệ
nhị Cộng Hoà.
- Vai tṛ chủ động không chối căi được của người Mỹ trong
những yếu tố quyết định số phận miền Nam.
- Tính cách con rối của toàn bộ sinh hoạt chính trị ấy.
2. Một Nửa Buồn
Nửa phần bài viết này sẽ được tŕnh bày về chương: Sau ngày
30.4 và chương phụ lục.
Về chương phụ lục, thật ra phải cám ơn Talawas về cái chương
phụ lục này. Và đối với tôi, đây là chương quan trọng nhất.
Tôi dành phần c̣n lại của bài để nói về chương này và để
thấy rằng có nhiều điều Lư Quí Chung đă không dám nói thật,
nói hết, nói đủ.
Cuộc đời làm báo, làm chính trị của tác giả chia ra hai giai
đoạn. Dứt khoát và rơ rệt. Giai đoạn 13 năm trước 30 tháng
Tư mới đúng là con người Lư Quí Chung. Một thanh niên lư
tưởng, hăng say, dám nói, dám làm, dấn thân, nhập cuộc.
Không ai chối cải điều đó. Rất trân trọng. Và gần 30 năm sau
ngày 30 tháng Tư, tác giả dù cố gắng cũng không viết nổi,
vỏn vẹn chưa tới 20 chục trang. Với lời thú nhận: Thận trọng
lúc này là cần thiết. Đó không phải là Lư Quí Chung. Đó là
ai khác. Đúng như tác giả viết: "Nói cách nào đó, tôi có hai
cuộc đời. Trước và sau năm 1975. Chỉ không quyện vào nhau
như tác giả nghĩ.
Trước hết, hăy nói về những ǵ Lư Quí Chung viết về giai
đoạn sau ngày 30.4. Nói chung, đó là những lời lẽ khá nhún
nhường, quá bài bản đến không thật như: "Thật là măn nguyện
khi được tham gia Hội nghị Hiệp thương Thống nhất.. sự kiện
đó có một ư nghĩ lớn.. có mặt trong một hội nghị như thế là
một sự thỏa măn tinh thần cực kỳ lớn.. tôi vô cùng thỏa
nguyện được sống trọn vẹn với nghề này.. và tôi không thể
tưởng tượng được ở đó tôi c̣n cơ hội gặp lại lần lượt tất cả
những nhân vật huyền thoại mà tôi cứ ngỡ rằng đă thuộc về
lịch văn học xa xôi, chỉ tồn tại trong sách vở như Văn Cao,
Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Huy Cận.. Cái nghèo, cái cực khổ của
Hà Nội mà tôi chạm mặt lần đầu không hề gây sự thất vọng cho
tôi, mà trái lại là sự cảm phục. Những ngày làm báo từ Tin
Sáng 75-80 sang Tuổi Trẻ 80-90, tôi vẫn không một ngày nào
thiếu hăng hái hay mất niềm tin.. đồng lương th́ chỉ đủ ăn
sáng, nhưng cống hiến th́ vẫn hết ḿnh. Vợ con tôi chịu đựng
cũng rất giỏi, nhung bán măi rồi cũng không c̣n ǵ để bán
nữa.. ngay chỉ c̣n cái đàn piano, niềm vui sau cùng của các
con tôi cũng không thể giữ nổi.. để lo cuộc sống hằng ngày,
chúng tôi đành phải bán nó đi. Tại ṭa báo vào thời điểm đó,
tôi tuyên truyền cho các cuộc cải tạo tư sản mại bản, công
thương nghiệp tư sản, tư doanh.. vậy mà chính nhà ba của ông
bị đóng chốt để cuối cùng ông cụ bị lên huyết áp và đột qụy,
cụ gặp đứa con đă giận dữ nói: "Tao không muốn gặp mày nữa.
Gia đ́nh mày đă ra thế này, cha mày đă ra thế này, mà mày
c̣n viết báo cho Cộng sản. Cha mày từ mày". C̣n các em trai
của tôi th́ không tin vào người anh trai của ḿnh nữa. Chỉ
làm thinh để chuẩn bị vượt biên. Như vậy, cùng một lúc, tôi"
mất" bảy đứa em.
Không phải là một đảng viên Cộng sản nhưng tôi tin vào những
lư tưởng xă hội tốt đẹp cho bất cứ xă hội nào muốn tiến lên
công bằng xă hội và nhân bản hơn. Tôi vẫn giữ niềm tin đó
ngay cả sau khi chế độ Cộng sản ở Liên Xô và Đông Âu bị xụp
đổ… nh́n đất nước nối liền từ Nam chí Bắc hiện nay, đến bây
giờ, tôi vẫn tưởng nằm mơ.. Hà Nội bây giờ như một thiếu nữ
đẹp, duyên dáng và tràn đầy sức sống. Và Sài G̣n mạnh mẽ hơn
nhiều và tự tin hơn nhiều trong cuộc hành tŕnh mới, bởi sự
tồn tại của thành phố này không c̣n nhờ vào sự "tiếp máu"
của người khác.
Đọc những ḍng chữ trên của ông, tôi cũng tưởng ḿnh đang
nằm mơ tự hỏi có phải đó là Lư Quí Chung hay không? Dù sao,
cũng rất may, ở vào thời điểm đó, các trí thức miền Nam gặp
được một người như ông Vơ Văn Kiệt. Ông là cái dù che chắn
cho trí thức miền Nam khỏi phải bị dập vùi thê thảm.. Không
có ông, số phận nhiều trí thức trẻ miền Nam đă không được
như ngày nay. Họ sẽ phải đi học tập, tệ nữa bị kiểm soát,
canh chừng hoặc tù đầy, bắt cóc, hành hạ, tra hỏi, trục xuất
khỏi nhà..
V́ thế, không thể không nhắc tới tấm ḷng ưu ái của ông Vơ
Văn Kiệt đối với trí thức miền Nam.
Về tờ Tin Sáng.
Đây là một niềm hănh diện của ông và một số bạn bè của ông.
"Le Tin Sáng est le seul journal non communisme dans une
société communiste. (Tờ Tin Sáng là tờ báo duy nhất không
Cộng sản trong một xă hôi Cộng sản). Từ đó ông hết lời tán
dương: "Comme la plupart de mes amis ici, J'ai vécu
l'experience des deux régimes de presse. Tu connais le mot
de Đuc, notre directeur: auparavent, nous étions des
bucherons, aujourd'hui, des menuisiers. Le comportement est
radicalement différenr. C'est dans la construction que nous
nous sommes lancés. Aujourd'hui, je me sens beaucoup plus
utile pour la société Vietnamienne, pour mon peuple, plus
lié à la vie de la nation, plus responsable, oui, c'est le
mot. (cùng sách vừa trích dẫn).
Câu nói trên cho thấy ông phủ nhận toàn bộ gia tài làm báo,
làm chính trị dưới thời Đệ nhất Cộng hoà của chính ông. Ông
c̣n cho rằng trước đây cùng lắm ông làm thợ bửa củi. Đi biểu
t́nh, tranh đấu trước diễn đàn Quốc hội, họp báo, tiếp xúc,
diễn thuyết, phân phát truyền đơn, chống luật báo chí, chống
tham nhũng, chống đối bầu cử độc diễn, chống độc tài, chống
dân biểu gia nô, nghị gật, chống Nguyễn Văn Thiệu, chống Mỹ,
nằm trong lực lượng thứ ba đ̣i hỏi chấm dứt chiến tranh. Tất
cả công việc vừa nêu trên chỉ là đáng được coi là công việc
bửa củi thôi sao? Bẽ bàng thế? Có thể phủ nhận chính ḿnh,
tự hạ thành con dun, con dế? Ai dăơ đẩy ông vào tư thế phải
nói như vậy? Bây giờ làm thợ nề, thợ nề để tán tụng, để cúi
đầu, để vâng phục. Thử hỏi ông đă làm được ǵ trong suốt 30
năm làm thợ nề? Kể là đau xót. Ai đó đă bắt ông phải hạ ḿnh
nói như thế ?
Viết như thế, tôi không hề có ư chê trách ông, v́ một lẽ dễ
hiểu, ông đang sống trong một xă hội toàn trị, với khủng bố
và đe dọa tinh thần. Đúng như ông vẫn nói: Cái ung thư bướu
là người của chế độ cũ luôn luôn vẫn c̣n đó, ám ảnh và gây
phiền hà cho ông. Chả lúc nào, ông được yên.
Cho đến năm, 1980, lúc mà tờ báo sắp đóng cửa theo 3 cái
nguyên tắc đề ra ở thời kỳ đó: để cho làm, phạm sai lầm th́
đóng cửa. Dùng cho đến khi nào thấy không cần thiết th́ vứt
kiểu vắt chanh bỏ vỏ. Ba tạo một tương quan tin tưởng tốt
vào nhau.
Rơ ràng việc đóng cửa là dựa vào nguyên tắc thứ hai. Đă
không có quư ông nào dám lên tiếng. Trong khi đó, tôi đọc
được như sau: "Cinq années se sont passés. Le Tin Sáng de
Ngô Công Đức et de ses amis parait toujours. Le test est il
positif?" (Trích dẫn như trên) Hỏi là trả lời. Cái test cho
thấy một thất bại ê chề của trí thức cũ làm việc dưới chế độ
mới. Chả nhẽ nói bị lừa, bị bội phản. Dù sao, 5 năm cũng là
thời gian khá dài so với tờ Đứng Dâïy của Nguyễn Ngọc Lan.
Số phận nó chỉ thoi thóp chưa tới một năm. Sau 5 năm. Tất cả
trí thức cũ chỉ c̣n là những quả chanh chắt đă vắt vỏ. Quả
chanh Ngô Công Đức, Hồ Ngọc Nhuận, Huỳnh Tấn Mẫm (sau Huỳnh
Tấn Mẫm bị quản chế cùng với những người như Nguyễn Hộ, Tạ
Bá Ṭng, v́ cái tội dă tiếp xúc với báo chí ngoại quốc, hay
phê b́nh và đ̣i hỏi cải tổ nhanh guồng máy kinh tế và chính
trị. Những vụ quản chế này không được loan báo công khai và
nơi quản chế cũng vậy). Quả cóc Nguyễn Hữu Thái. Quả bưởi
Nguyễn Ngọc Loan, Chân Tín. Quả đu đủ Lư Chánh Trung. Quả
dừa Huỳnh Công Minh, Trương Đ́nh Hoè, Phan Khắc Từ. Quả ổi
Dương Văn Ba.
Các ông chẵng c̣n ǵ để vắt nữa. Rồi cuối cùng phải nh́n
nhận như Ngô Công Đức thôi: "Nous avons surmontés les
difficultés, mais non sang certains dégats. Quelque-uns,
parmi nous, sont partis à mi chemin, d'autres ont vacillé".
Và đây cũng là yếu tố góp thành sự đóng cửa tờ Tin Sáng, v́
có nhiều người trong đám trí thức thành phần thứ ba thất
vọng, chao đảo hay bỏ ra đi.
Nhưng v́ lư do ǵ nó phải ngừng bản và chuyển một số bộ phận
sang tờ Tuổi Trẻ. Ông đă cố dấu kín. Ông đă viết một cách úp
mở như sau: "Với các anh em trong Tin Sáng cũng có nhiều
quan điểm, thái độ khác nhau đối với hướng đi và cách quản
lư tờ báo". Oâng buộc ḷng không dám nói thẳng ra là có sự
bất đồng quan điểm về hướng đi tờ báo kể từ khi có biến cố
Đông Aâu cũng nhu sự xụp đổ bức tường Bá Linh.
Về lá thư Lettre aux amis d'occident.
Trong lá thư này, có hai điểm gửi cho giới trí thức Âu châu
mà tôi không đồng ư: Đó là việc học tập cải tạo và vấn đề
thuyền nhân.
Về các trại học tập: Trong lá thư mà không biết ai là
người thảo lá thư đó, một số trí thức miền Nam đă phủ nhận
đó không phải là nhà tù, không phải trại tập trung th́ nó là
ǵ? Là trung tâm cải tạo? Người đi tù cải tạo không phải
người tù chính trị, cũng không phải kẻ bị khổ sai (Forcats).
Đó chỉ là những lư lẽ tiểu xảo chơi chữ, trốn tránh và biện
hộ cho chế độ. Các ông đă che đậy cho những chính sách của
Hànội. Thực tế họ là những người tù khổ sai, không có ngày
về. Nhiều người đă chết v́ bệnh tật, đói ăn ở đó? Các ông
biết rất rơ. Vậy mà vẫn phải nhắm mắt bênh vực chế độ.
Về người di tản: Cũng lá thư đó đă đổ lỗi cho chế độ cũ,
đổ cho sự tuyên truyền của Mỹ, đổ cho chính sách người Hoa
của Trung Quốc. "En fin, comme il a été dit plus haut, ce
sont les dirigeants de Pékin qui ont provoqué l'exode massif
des résidents Chinois pour pouvoir nous accuser ensuite de 'terroriser
et de chasser les Hoa', justifie ainsi leur polique
inamicale (cessation de L!aide économique) puis ouvertement
agressive à l'égard du Viet Nam". (sách trích dẫn ở trên)
Đây là một biện hộ không chấp nhận được. Tất cả những người
Việt Nam vượt biển (chánh thức và bán chánh thức) th́ đều
biết rơ là phải đóng tiền cho chính quyền địa phương để được
phép rời Việt Nam.
Một số tên tuổi trí thức miền Nam đă kư trong danh sách này.
Thật khá thất vọng.
Nhưng nói cho cùng th́ những trí thức miền Nam ở lại, theo
chế độ mới làm ǵ được? Kết án họ ư? Kết án th́ cũng dễ,
nhất là ngồi ở ngoại quốc mà chửi vọng về. Phải là người
trong cuộc, phải sống dưới chế đó toàn trị đó. Nào ai có thể
nói hay được.
Nhà văn Nguyễn Tuân, nổi tiếng ngang bướng cao ngạo, sau mấy
chục năm sống nín thở qua sông, vào đến miền Nam đă phát ra
một câu nói để đời. Phải nhịn mấy chục năm nay mới dám nói :
« Tao c̣n sống đến ngày nay là nhờ biết SỢ. » Nói xong chiêu
một ngụm rượu, ngửa mặt, vuốt râu, nh́n lên trời cười ha hả.
Phải chăng các trí thức miền Nam cũng đă học qua bài học
triết lư biết sợ đó?
Nghĩ như thế mà thương cho họ, thương cho ḿnh, thương cho
dân tộc ḿnh . Và hiểu cho Nguyễn Tuân, hiểu cho trí thức
miền Nam. Phải biết sợ, mới sống được.
C̣n lại phần bài viết sau đây sẽ được tŕnh bày về Chương
Phụ Lục. Thật ra phải cám ơn Talawas về cái Chương phụ lục
này.
Và đối với tôi, đây là chương quan trọng nhất.
Tôi dành phần c̣n lại để chỉ nói về chương này và để thấy
rằng có nhiều điều Lư Quí Chung đă không nói thật, nói hết,
nói đủ chỉ v́ nó.
Về 13 trang phụ lục:
Đây là 13 trang bị cắt ra khỏi bản thảo. Chẳng khác khối ung
thư của Lư Quí Chung được Đảng Cộng sản cắt dùm. Nó nói lên
nhiều điều lắm. Ta muốn biết sự thật th́ phải t́m đọc từng
ḍng của những điều bị cắt bỏ, những điều non-dits. Chỉ cần
đọc13 trang này, ta mới hiểu thấu được chế độ và thương xót
cho những người như Lư Quí Chung.
Trước hết:
- Chương về: phần lời giới thiệu của nhà xuất đă bị sửa, bị
cắt kể như toàn bộ. Trong đó có đoạn sau đây khá ư nghĩa đă
bị cắt:
"Ngày toàn thắng của năm 1975, với chiến dịch Hồ Chí Minh
lịch sử: thần tốc-táo bạo-bất ngờ-chắc thắng, qua 55 ngày
đêm chiến đấu (từ 9.3 đến 30.4.1975), quân và dân ta đă tiêu
diệt và làm tan ră hoàn toàn quân đội ngụy, đập tan bộ máy
chính quyền tay sai của đế quốc Mỹ… Là hồi kư cá nhân, không
phải một biên niên xử, tất nhiên, nên không tránh khỏi cách
nh́n, cách phân tích chủ quan..
Trong phần mở đầu cuốn sách, cho thấy họ vẫn huyênh hoang
đến nhàm chán, không biết ngượng. Vẫn giọng điệu mạ lỵ miền
Nam Việt Nam. Rồi cũng bài bản chê nhẹ tác giả không khỏi
cách nh́n chủ quan. Cũng v́ phần giới thiệu quá huyênh hoang
trống rỗng, họ đă viết lại cho chừng mực hơn.
Bản lời giới thiệu mới bớt huyênh hoang, nhưng vẫn cái bệnh
phải dạy đời một tư: "Hồi kư là một góc nh́n…, đánh giá mang
tính chủ quan cũng là điều có thế chấp nhận. Xét cho cùng
cũng là việc mà người đọc nên "rộng răi" khi đọc.
Phần lời giới thiệu của Trần Bạch Đằng bị cắt bỏ v́ nói sai:
Cách mạng Việt Nam đa dạng. Góp phần vào bức tranh đa dạng
ấy những đường nét riêng.. Làm ǵ có đa dạng được, chỉ có
một đường lối cách mạng thôi, v́ thế, cũng cắt kiểm duyệt
phần nói về các hồi kư của Dương Văn Ba, Hồ Ngọc Nhuận.
Chương 14 đă bị cắt khá nhiều, khá dài về việc trích dẫn
hồi kư của Hồ Ngọc Nhuận và bà Ngô Bá Thành. Vấn đề t́m hiểu
xem các nhân vật đó có c̣n có trong mắt đảng hay không?
Chương 17. Ông Lư Quí Chung nhắc tới thành phần thứ ba,
hay lực lượng thứ ba. Thế là phạm giới, phạm quy rồi.. Đối
với nhà nước Cộng sản, chỉ có lực lượng của phong trào đô
thị là lực lượng ṇng cốt trong sự sụp đổ của nền Đệ nhị
Cộng ḥa. Cựu Thủ tướng Vơ Văn Kiệt cũng mắc phải sai lầm
này khi đề cao và đánh giá lực lượng thứ ba trong vai tṛ
dứt điểm miền Nam. Ông Nguyễn Khoa Điềm đă kiểm duyệt và cắt
bỏ những lời tuyên bố của cựu Thủ tướng Vơ Văn Kiệt. Đề cao
vai tṛ của thành phần thứ ba là đặt lại vai tṛ của Mặt
Trận Giải Phóng Miền Nam trong công cuộc chấm dứt chiến
tranh ngaỳ 30.4.
Chương 19. Sang đến chương 19, Ông Lư Quí Chung lại vướng
mắc vào cái bướu ung thư thành phần thứ ba, mà đảng muốn cắt
bỏ. Khi ông viết: "Từ 1973, đâu đâu cũng thấy những cá nhân
tự xưng ḿnh là thành phần thứ ba. Với Hiệïp định Paris,
t́nh h́nh miền Nam mở ra nhiều khả năng khác nhau. Khi ấy,
tôi nghĩ, lạc quan nhất lúc này là giải pháp một chính phủ
ḥa giải, hoà hợp gồm ba thành phần. Nhưng không ai mường
tượng cái chính phủ vận hành thế nào.. c̣n thành phần thứ ba
th́ không biết sẽ lựa chọn như thế nào"
Ông vẫn c̣n ngây thơ quá, chưa nắm được ư đồ của đảng muốn
ǵ. Thành phần thứ ba là một quả chanh đă vắt vỏ, đă vắt
kiệt.. Riêng các ông trong tờ Tin Sáng th́ được vắt thêm 5
năm nữa. Đă quá đủ, quá nhiều. Đóng cửa tờ Tin Sáng là phải.
Đă đến giờ rồi.
Chương: Phần sau ngày 30.4.1975.
Cái hớ hênh của một Lư Quí Chung sau 30 năm sống dưới chế độ
mới vẫn chưa đủ. Thận trong, gạn lọc, ngó trước ḍm sau mới
viết mà vẫn có kẽ hở. Ông vẫn muốn nhắc đến ngày Đại hội
Hiệp thương Thống nhất. Đây cũng là điều đảng không muốn nói
tới nữa. Có hội nghị hay không th́ Việt Nam cũng đă thống
nhất rồi. Muốn thống nhất th́ phải xoá tan những chiêu bài
trước đó đă đặt ra như Mặt trận Giải Phóng Miền Nam v.v..
Thật là không có ǵ là khó hiểu.
Đảng cũng kiểm duyệt những t́nh cảm sau giải phóng trong gia
đ́nh ông như: "Những chuyện trong gia đ́nh tôi đă biến cha
tôi từ một người hồ hởi đón nhận chào cách mạng, biến thành
một người ác cảm với Cộng sản."
Một đoạn văn như thế th́ cắt là phải rồi. C̣n kêu ca nỗi ǵ
nữa.
Phần gia đ́nh thân yêu.
Trong phần này nhẽ ra không cần đọc, v́ có ǵ đụng chạm đến
chính trị. Nhưng dù thế, nó cũng bị cắt đi ngót nghét một
trang. Trong đó có một câu vài chữ không đáng ǵ. Nhưng nếu
suy ra th́ viết một cuốn sách cũng không đủ. "Các em tôi đều
thành đạt tại Mỹ Canada.." Thế là cả đoạn văn sau đành cắt
hết, đục bỏ hết chỉ v́ cái chữ thành đạt. Nói thành đạt là
nói ngược lại Nhà nước Việt Nam thất bại. Cẩn thận lắm mới
được. Viết thật cẩn thận.
Ng̣i bút của Lư Quư Chung có lệch cũng chỉ v́ 13 trang cắt
bỏ này. Điều mà Lư Quư Chung không dám nói, điều mà Lư Quư
Chung bị cắt trong 13 trang một cách không ngờ trở thành lời
tố cáo chế độ ngoài cả ư muốn của người viết cuốn hồi kư.
Không ngờ đến cuối đời, cuốn Hồi Kư không tên trở thành một
chúc thư gửi lại cho đời mà tôi xin được phép đổi lại tên
cuốn Hồi kư không tên: NHẬT KƯ CỦA IM LẶNG, v́ im lặng cũng
là một cách nói.
NGUYỄN VĂN LỤC
HOME
contact : lekhanh@art2all.net
|