|
Giới Thiệu và Nhận Xét về TẬP SAN SỬ ĐỊA
của hai miền Nam Bắc
~~oOo~~
Sự h́nh thành Tập San Sử Địa ở miền Nam
Sau biến cố chính trị lật đổ tổng thống Ngô Đ́nh Diệm, nhiều sinh hoạt của giới sinh viên bắt đầu xuất hiện. Các sinh hoạt chính trị, xă hội, văn hóa thời ấy như rộ lên. Thêm nhiều báo chí ra đời. Có khi lên đến hơn 40 tờ. Giới sinh viên lúc đó như nhận thức rơ về vai tṛ của họ, thấy được sức mạnh của họ và của đám đông. Họ tự tin hơn, nhân cách của từng cá nhân được xác định rơ nét hơn. Nhiều tổ chức chính tri, văn hóa cũng như xă hội của giới sinh viên ra đời mà chính họ là người nắm giữ các vai tṛ then chốt. Họ biểu t́nh, xuống đường hoan hô đả đảo như cơm bữa. Mỗi phân khoa đại học đều có báo riêng do sinh viên chủ trương ào ạt ra mắt như các tờ Văn Khoa, Tin Tưởng, Vùng Lên, Hồn Trẻ, Bừng Sáng, Lửa Thiêng... Trong đó không thiếu những tờ lấp ló tinh thần thiên tả.
Có thể nói sinh viên thời đó trưởng thành trong không khí đấu tranh. Họ chấp nhận phiêu lưu, mạo hiểm và sẵn sàng dấn thân. Chẳng hạn cuộc biểu t́nh của sinh viên nhằm xé bỏ Hiến Chương Vũng Tàu, lật đổ tướng Nguyễn Khánh vào tháng 8-1964.
Nhiều khuôn mặt sinh viên xuất hiện như một thứ lănh tụ như Phạm Đ́nh Vy, Lê Hữu Bôi (bị cộng sản sát hại dịp Tết Mậu thân ở Huế), Nguyễn Trọng Nho, Nguyễn Long, Đoàn Văn Toại v.v... Các phong trào sinh viên như Du Ca, các chương tŕnh như CPS Học Đường Mới, Chương Tŕnh Phát Triển Quận 8, các chương tŕnh nghiên cứu về nhiều phương diện cá biệt như nhóm Speaking English Club, Nhóm Vạn Vật, Nhóm Việt Hán, Nhóm Toán v.v... của Đại học Sư Phạm lần lượt ra đời. Nhóm Sử Địa do ông Nguyễn Nhă thành lập xuất hiện trong bối cảnh chính trị xă hội đó. Nghiêm chỉnh và có tầm vóc của một tập san nghiên cứu có chiều sâu.
Nhưng để có thể in thành sách đàng hoàng, theo ông Nguyễn Nhă là nhờ sự tài trợ chi phí ấn loát của ông giám đốc nhà sách Khai Trí, tức là ông Nguyễn Hùng Trương. Sau 1975, cộng sản chiếm nhà sách Khai Trí, tịch thu các kho sách của ông Trương và đặt tên ông trên một con đường nhỏ. Không có ông Khai Trí, Tập San Sử Địa (TSSĐ) khó có cơ hội được xuất bản đều đặn, lâu dài. Ngoài ra, c̣n có sự chấp thuận và giúp đỡ của Khoa trưởng Đại học Sư Phạm Sài g̣n thời đó là giáo sư Trần Văn Tấn. GS Tấn đă cho Tập san Sử Địa mượn một pḥng của trường ĐHSP làm văn pḥng.
Cũng theo lời ông Nguyễn Nhă, lúc khởi đầu, ông có mời giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ làm chủ bút. Ông Tôn Thất Dương Kỵ đă nhận lời. Nhưng ít lâu sau ông Kỵ bị chính quyền Sài g̣n trục xuất ra Bắc. Cuối cùng, ông Nguyễn Nhă đành kiêm nhiệm chức chủ nhiệm kiêm chủ bút tờ TSSĐ.
Sự kiện ông Tôn Thất Dương Kỵ được mời làm chủ bút cùng với những tên tuổi khác như Hoàng Xuân Hăn, Sơn Nam, Trương Bá Cần, Đông Tùng, chúng ta có thể nhận thấy xu hướng nghiêng một cách kín đáo về phía cộng sản của nhóm này. Điều này được ông Chủ nhiệm Nguyễn Nhă thừa nhận sau 1975 trong một cuộc phỏng vấn.
Số Ra Mắt Tập San Sử Địa (1966)
Vào ngày 27-2-1966, Tập San Sử Địa
số 1 ra đời. Đây là tam cá nguyệt san, ba tháng ra
một kỳ và cho đến 1975, có được 29 số
báo trong đó có nhiều số có chủ đề như Chiến
thắng Đống Đa, số 1, về Phan Thanh Giản,
số 7, Đặc khảo về Quang Trung số 9 và
số 10, số đặc biệt về Nguyễn Trung
Trực, số 12, 200 năm phong trào Tây Sơn, số
21. Chúng tôi sẽ cho trích đăng một phần tài liệu
của những số báo này. Nhất là nhật kư du hành
sang Pháp của cụ Phan Thanh Giản với nhiều chi tiết
rất thú vị, đồng thời những cảm t́nh của
người Pháp khi cụ Phan Thanh Giản qua đời.
Ngoài ra c̣n có các số đặc biệt về phong tục Tết VN và các lân bang, số 5, hai số đặc biệt chủ đề về cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam, tập 19-20, tháng 12- 1970 đặt ra nhiều vấn đề như khẩn hoang (Sơn Nam), Di tích Chiêm Thành (Trần Nhân Tâm), Những người Việt tiền phong trên bước đường Nam Tiến (Lê Hương), Thư tịch về cuộc Nam Tiến (Trần Anh Tuấn), Sự thôn thuộc và khai thác đất Tầm Phong Long, chặng cuối cùng của cuộc Nam tiến (Nguyễn Văn Hầu), Lịch sử cuộc Nam tiến của dân tộc VN (Phù Lang Trương Bá Phát), Vài nét về văn học nghệ thuật VN trên đường Nam tiến (Nguyễn Văn Xuân). Số chót 29, tháng 3-1975, trước khi miền Nam bị mất, một số báo rất quan trọng cho ngày nay. Đó là đặc khảo về Hoàng Sa và Trườnng Sa với rất nhiều chứng liệu như: Phúc tŕnh về công tác nghiên cứu phốt phát lần cuối cùng của Trần Hữu Châu. Phúc tŕnh về cuộc thám sát ḥn Nam Ưt vào năm 1973 của Trịnh Tuấn Anh. Thái Văn Kiểm với những sử liệu Tây Phương về chủ quyền VN về quần đảo Hoàng Sa. Những sử liệu chữ Hán minh chứng chủ quyền của VN của Hăn Nguyên. Hoàng Sa dưới mắt nhà địa chất H. Fontaine (tên tiếng Việt là cha Pḥng), Hoàng Sa qua tài liệu của Hội truyền giáo Ba Lê của Nguyễn Nhă. Các văn kiện chính thức xác nhận chủ quyền VN từ thời Pháp thuộc, Ông bà Trần Đăng Đại. Hoàng Sa qua những nhân chứng của Trần Thế Đức.
Các số chủ đề này không dễ
thực hiện, nhiều khi đó là công tŕnh nghiên cứu của
cả một đời người, đ̣i hỏi nhiều
nhân lực và th́ giờ. V́ thế, ba tháng TSSĐ miền
Nam mới ra được một số. Nhưng phần
phẩm chất phong phú và trung thực quan trọng cho mỗi
số báo, nhóm TSSĐ miền Nam đă giữ được
và là một công tŕnh văn hoá xứng đáng để lại
cho đời sau. Tập san Sử Địa miền Nam
đă có một cố gắng và một nỗ lực không
ngưng nghỉ để tồn tại cho đến
1975.
Các tác giả cộng tác với TSSĐ Miền Nam
Ban biên tập: TSSĐ đă mời
được một số trí thức miền Nam nằm
trong Ban biên tập như quư ông Nguyễn Thế Anh, Bửu
Cầm, Phan Khoang, Lâm Thanh Liêm, Phạm Cao Dương, Phù
Lang, Đặng Phương Nghi, Quách Thanh Tâm, Tạ Chí
Đại Trường, Thái Công Tụng, Nguyễn Huy, Trần
Anh Tuấn.
Ngoài ra c̣n có sự hiện diện của
một số sinh viên ban Sử, có tên, nhưng không thấy
có bài viết như Nguyễn Thị Bi, Nguyễn Nhựt Tốn,
Phạm Thị Hồng Liên, Nguyễn Ngọc Trác, Trần
Đ́nh Thọ, Nguyễn Hữu Phước, Phạm Thị
Kim Cúc, Phạm Đức Lệ.
Đặc biệt TSSĐ c̣n mời
được một số đông những nhà biên khảo
như Hoàng Xuân Hăn, Chen Chin Hô tức Trần Kính Ḥa, Tạ
Trọng Hiệp (Riêng Tạ Trọng Hiệp không thấy
có bài viết nào cả), Nguyễn Đăng Thục, Phạm
Văn Diêu, Bửu Kế, Đông Hồ, Hồ Hữu
Tường, Trương Bửu Lâm, Sơn Nam, Vương
Hồng Sển, Đông Tùng, Nguyễn Bạt Tụy, Nguyễn
Khắc Kham, Lê Thọ Xuân, Thái Văn Kiểm, Phạm
Đ́nh Tiếu, Phạm Quư Trâm, Bùi Quang Tung, Lê Thọ Xuân,
Tô Nam, Nguyễn Đức Tánh, Nguyễn Hài, Dorohiem, Phạm
Trọng Nhân, Châu Giang Lữ, Nguyễn Văn Nghiêm, Đỗ
Văn Tú, Nguyễn Trắc Dĩ, Băng Sơn, Nguyễn
Bá Lăng, Phan Đ́nh Tân, Thái Việt Điểu, Quách Thanh
Tâm, Trương Bá Cần, Lăng Hồ, Trần Quốc Giám,
Lê Văn Ngôn, Mai Chương Đức, Mộng Tuyết,
Mai Sơn, Tạ Quang Phát, Quách Tấn, ông bà Trần
Đăng Đại, Nguyễn Kiến, Nguyễn Huy, Lê
Ước, Lư Văn Hùng, Lê Hương, Cẩm Hà, Tùng
Văn, Đinh Thụ, Hoàng Văn Ḥe, Nhất Thanh, Đặng
Văn Châu, Bàng Thống, Dă Lan Nguyễn Đức Dụ,
Nguyễn Văn Hầu, Đặng Văn Châu, Trần Anh
Tuấn, Hăn Nguyên, Lê Hương, Lê Hữu Lễ, Trân Nhâm
Dân, Nguyễn Ngọc Cư, Hoàng Ngọc Thành, Lư Văn Hùng,
Thúy Sơn, Nguyễn Văn Y, Nguyễn Kim Môn, Vơ Đ́nh Ngọ,
Nguyễn Văn Tài, Nguyễn Nhân Bằng, Nguyễn Hữu
Định, Nguyễn Hữu Tài, Phạm Văn Lộc, Vơ
Đ́nh Ngộ, Nguyễn Văn Vân, Vũ Văn Tiếp,
Nguyễn Quang Tô, Hồng Liên, Lê Xuân Giáo, Trương Ngọc
Phú, Nguyễn Hùng Cường, Ưng Nhạc, Vũ Văn
Đính, Lê Hữu Mục, Trần Thế Đức, Hoàng
Việt Tử, Trần Huy Phong, Vơ Long Tê, Lam Giang, Trịnh
Tuấn Anh, Sơn Hồng Đức.
Với tên tuổi các tác giả như Hoàng Xuân Hăn, Bùi Quang Tung, Vương Hồng Sển, Nguyễn Thế Anh, Chen Chin Hô tức Trần Kinh Ḥa, Nguyễn Khắc Kham, Phạm Đ́nh Tiếu, Bửu Kế, Nguyễn Đăng Thục, Hồ Hữu Tường v.v... TSSĐ miền Nam đă có một vị thế văn học không thể không nh́n nhận. Bên cạnh đó, c̣n có sự xuất hiện của những nhà viết sử trẻ hơn như Trương Bá Cần, Đặng Phương Nghi, Tạ Chí Đại Trường, Dorohiem đă làm cho TSSĐ phong phú thêm, đa dạng thêm.
Trong số các cộng tác viên, ông Hoàng
Xuân Hăn là viết đều hơn cả. Gần như
không có số nào mà không có bài của ông. Đa dạng và uyên
bác trong công việc truy t́m tài liệu. Chen Chin Hô tức
Trần Ḱnh Ḥa thông thạo Hán văn nên ông đọc
tận nguyên bản tài liệu gốc Trung Hoa. Tinh thần
nghiên cứu sử của ông Trần Ḱnh Ḥa nghiêm túc, khách
quan. Tạ Chí Đại Trường, một nhà sử
học mà mỗi bài viết cho thấy nhân cách, cá tính, quan
điểm, lập trường của người viết
sử.
Đặng Phương Nghi
sinh sống ở Pháp nên có điều kiện truy cập
tài liệu từ văn khố của Pháp và nhất là dịch
thuật những tài liệu của Hội thừa sai Ba
Lê. Chẳng hạn dịch những lá thư của các thừa
sai gửi về Pháp cho gia đ́nh hay tu hội của họ.
Đây là những tài liệu vàng ṛng giúp t́m hiểu lịch
sử, xă hội thời bấy giờ. Nhất là giúp hiểu
rơ bản chất thực của Tây Sơn với các trận
đánh, đời sống dân t́nh khốn khổ khi đất
nước bị lôi kéo vào vùng lửa đạn.
Đó là những cái nh́n mới khác hẳn các tài liệu sử của Việt Nam trước đây.
Nhưng có một người chuyên viết
về sử là Nguyễn Khắc Ngữ tuy có tên trong
danh sách cộng tác viên th́ lại không viết một bài nào
cho TSSĐ mặc dù trước 1975, ông có xuất bản
vài tác phẩm như Minh Trị Thiên Hoàng (1967), Nguyên
nhân Pháp chiếm Việt Nam [1968). Sau này ở hải ngoại,
có cơ hội t́m kiếm được tài liệu ngoại
quốc, ông có viết và tự xuất bản một số
sách như Tây Phương tiếp xúc với Việt Nam,
Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Ḥa Lan giao tiếp với Đại
Việt (thế kỷ 16, 17, 18). Liên lạc Việt-Pháp
1775-1820, Nguyễn Vương và Giám mục Adran, Những cuộc
hành quân của Pháp ở Nam Kỳ và Trung Kỳ (1968). Những
ngày cuối cùng của VNCH (1979). Nguồn gốc dân tộc
Việt Nam (1985), Kỳ Đồng, nhà Cách mạng và
nhà thơ, Mẫu hệ, Chàm và Phan Bội Châu niên biểu.
Rất tiếc, do tài chánh eo hẹp, ông tự in lấy dưới dạng photocopy nên phổ biến giới hạn trong bạn bè nên ít ai biết đến công trinh nghiên cứu của ông. Ông Ngữ bị bạo bệnh và chết sớm ở thành phố Montréal, Canada.
Các chủ đề trong TSSĐ miền Nam
Trong lá thư ṭa soạn, số 6, tháng 4-6,
năm 1967, ông chủ nhiệm Nguyễn Nhă viết: "Chúng
tôi nghĩ con đường tương lai của tập
san vẫn là con đường sát với thực tế,
làm sao cho Tập san có những bài thực sự đi sâu
vào chuyên môn, thực sự giúp ích cho sử địa cùng với
những bài có tŕnh độ phổ thông, nhưng không quá thấp,
thiếu chiều sâu, đồng thời cố gắng
khai thác các chủ đề và tiếp tục các sinh hoạt
văn hóa có lợi cho đất nước"
V́ thế, với 29 số báo, số 1 có
128 trang, nhưng số 29, đặc khảo về Trường
Sa, dày 352 trang Có một số chủ đề đặc
biệt liên quan đến Trương Công Định,
Nguyễn
Trung Trực, Phan Thanh Giản (1796-1867), 3 số về
Quang Trung, chủ đề thành phố Đà lạt, trong
đó có bài viết của Hoàng Xuân Hăn về hội nghị
sơ bộ ở Đà lạt, có số chủ đề
về các phong tục Tết của VN, số chủ đề
về Việt Kiều tại Thái, Miên, Lào... trong đó chủ
đề gây được nhiều tiếng vang nhất
có lẽ là các số về nhà Tây Sơn như số 9-10 về
"Quang Trung", số 13 về "Chiến thắng
Đống Đa", số chủ đề "200
năm phong trào Tây Sơn" là những số chủ
đề gây được rất nhiều sự chú ư lư thú
của người đọc. Tuy nhiên, các chủ đề
về Tây Sơn của TSSĐ miền Nam có những hạn
chế v́ thiếu tài liệu gốc sử Tầu cũng
như thiếu những tài liệu của Pháp như của
Hội truyền giáo Ba Lê.
Những số đặc khảo về Phan Thanh Giản cũng rất đa dạng và phong phú với các bài viết như: Phan Thanh Giản đi sứ ở Paris của Trương Bá Cần, Phan Thanh Giản dưới mắt người Pháp của Nguyễn Thế Anh, Một nghi vấn về Tây Phù Nhật kư của Lăng Hồ, Kinh lược đại thần Phan Thanh Giản với sự chiếm cứ ba tỉnh miền Tây của Phù Lang Trương Bá Phát, Chung quanh cái chết và trách nhiệm của Phan Thanh Giản trước các biến cố của Nam Kỳ cuối thế kỷ 19 của Phạm Văn Sơn, Cuộc đời Phan Thanh Giản của Trần Quốc Gi. Nhơn cuộc du xuân, may gặp kho tàng quư giá về cụ Phan Thanh Giản của Trần Quốc Giám và Thái độ của triều đ́nh Huế đối với Phan Thanh Giản, Bản án của các đại thần nghị xử về việc thất thủ 3 tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên, Bức thư Nôm 26-1-1837 của Phụ Thân gửi cho Phan Thanh Giản.
"Nhật kư hành tŕnh của sứ
bộ Phan Thanh Giản" thực
ra đă được ông Ngô Đ́nh Diệm dịch từ
năm 1919 và được đăng trong Bulletin des amis
du vieux Huế nay đọc lại bản dịch của
ông Trương Bá Cần vẫn thấy hay và thích thú v́ gây
ṭ ṃ không ít về công việc của sứ bộ Phan Thanh
Giản cũng như thủ tục ngoại giao thời bấy
giờ.
Sau đây là những so sánh, nhận xét một cách khách quan về những bài viết cùng về đề tài Quang Trung và Phan Thanh Giản của TSSĐ miền Nam và Tập san Văn Sử Địa miền Bắc để chúng ta có thể nh́n thấy sự vượt trội của Tập san Sử địa xuất bản trong miền Nam:
- Miền Nam có sự tự do suy nghĩ, tự do sáng tác: Phải đọc toàn bộ Tập San Văn Sử Địa miền Bắc mới nhận ra được chân giá trị Tập San Sử Địa miền Nam. Cũng như phải sống trong ḷng chế độ cộng sản, chúng ta mới thấy được rằng được sống 20 năm ở miền Nam dưới chính quyền tự do của miền Nam là một ân sủng. Cám ơn cơm gạo miền Nam. Cám ơn hai chế độ đệ nhất và đệ nhị Cộng Ḥa miền Nam VN. Cả thế hệ tuổi trẻ chúng tôi đă được sống những ngày tương đối hạnh phúc. Chúng tôi đă được ăn học đàng hoàng, nhất là được sống "vô tư". Tội nghiệp cho những thế hệ tuổi trẻ sau này không c̣n được sống vô tư nữa, v́ lúc nào cũng có mối lo.
Những vụ tranh đấu, biểu
t́nh, xuơống đường, ngay cả tự thiêu
trong vụ tranh đấu Phật giáo chỉ là những
tṛ chơi dân chủ, chỉ có thể xảy ra trong một
thể chế dân chủ. Ở miền Nam không có độc
tài đúng nghĩa, mà chỉ có dân chủ giới hạn
trong hoàn cảnh đất nước chiến tranh, một
nền dân chủ đă có tuy chưa hoàn chỉnh. Viết
ra điều này như một thách thức những ai c̣n vọng
ngữ, chê trách miền Nam Việt Nam trước 1975. V́ thế,
vụ "tranh đấu" Phật giáo 1963 mà trước
đây, một số người vẫn tự hào là "lật
đổ chế độ độc tài gia đ́nh trị
nhà Ngô" nay không c̣n ư nghĩa như trước nữa.
Tên tuổi thượng tọa Trí Quang mà "có"
là v́ ông sống trong chế độ tự do của miền
Nam và đă trở thành "không" trong thể chế
độc tài CS. Suốt hơn 33 năm qua, ông Trí Quang không
dám nói một lời. Nhưng cũng phải nh́n nhận,
ông c̣n đủ khí tiết để không a dua, xu nịnh.
Ngay cả Phan Huy Lê, Chủ tịch hội
Khoa Học Lịch sử Việt Nam đă nhận xét về
tập san sử địa miền Nam như sau: "Tập
san Sử Địa để lại cho tôi những ấn
tượng sâu sắc về tinh thần khoa học và ư thức
dân tộc là đặc điểm bao trùm của Tập
san. Nhiều bài viết trên tập san là những công tŕnh
nghiên cứu có giá trị cao, sưu tầm tư liệu
công phu, xử lư thông tin khoa học, thái độ khách quan
trung thực và nhất là góp phần dấy lên tinh thần
yêu nước, ư thức dân tộc và nêu cao giá tri văn hóa
dân tộc". (Hà nội, Xuân Đinh Hợi, 2007)
Nhận xét này chính xác, nhưng chưa đầy đủ. Ít ra, sau hơn 33 năm mới có một nhà phê b́nh miền Bắc có cái nh́n tích cực về văn học miền Nam. Nhưng cần bổ túc thêm ư kiến của ông Phan Huy Lê. Phải viết thêm là ở miền Nam có sự tự do suy nghĩ, tự do sáng tác. Nhờ đó đă tạo ra được một thứ Văn học đa dạng, mang dấu vết cá nhân vào mỗi tác phẩm, mỗi bài viết, mỗi bài khảo luận. Như ư kiến của Philippe Le Failler, thuộc trường Viễn Đông Bác cổ Pháp, người có trách nhiệm thực hiện chương tŕnh và dự án VALEASE, một công tŕnh có tham vọng sẽ điện toán hoá những tác phẩm văn hoá cần thiết cho việc nghiên cứu chung về văn hoá Việt Nam. Chương tŕnh này đă thực hiện được ba tập san: Bulletin des amis du vieux Hue gồm 123 tập với 16000 trang in báo, Tập san Sử Địa miền Bắc và mới đây nhất, Tập san sử địa miền Nam được thu dọn vào trong 3 cái CD-Rom. Philippe Le Failler viết một câu rất đẹp: "Những tạp chí định kỳ t́m lại được tuổi thanh xuân. Tất nhiên, khó tránh được những ảnh hưởng về chính trị khi mà ở mIền Bấc các Viện Nghiên cứu là của nhà nước và (họ) là người nắm giữ những công tŕnh nghiên cứu lịch sử trong khi ở miền Nam, những ư tưởng cá nhân luôn thắng thế."
Ưu Điểm của Tập san Sử
Địa miền Nam 1. Tính cách đa dạng của các tác giả góp mặt:
- Những người có xu hướng thân cộng sản như Hoàng Xuân Hăn, Trương Bá Cần, Đông Tùng, Sơn Nam và có thể cả ông chủ nhiệm Nguyễn Nhă.
- Những người được đào tạo ở ngoại quốc như Hoàng Xuân Hăn, Quách Thanh Tâm, Trương Bửu Lâm, Tạ Trọng Hiệp, Lâm Thanh Liêm, Trương Bá Cần, Nguyễn Thế Anh, Chen Chín Ho tức Trần Ḱnh Ḥa, Bùi Quang Tung, cụ Nguyễn Khắc Kham, Đặng Phương Nghi, Hoàng Ngọc Thành...
- Những vị thuộc thế hệ tiền bối, nhiều vị học giả tuy không có bằng cấp nhưng lại là thày của các tác giả thế hệ đàn em, tốt nghiệp các trường Đại học Văn Khoa hoặc Đại Học Sư Phạm. Như Vương Hồng Sển, Nguyễn Đăng Thục, Nguyễn Bạt Tụy, Bửu Cầm, Phan Khoang, Hồ Hữu Tường, Đông Hồ, Bửu Kế, Quách Tấn, Nguyễn Toại, Nguyễn Ngọc Cư, Trần Văn Tuyên, B́nh Nguyên Lộc.
Đa số
c̣n lại là giới nhà giáo, trí thức trẻ như Phạm
Văn Sơn (Trung Tá), Phạm Cao Dương, Phù Lang
Trương Bá Phát, Tạ Chí Đại Trường, Nguyễn
Huy.
2.
Tính cách cá nhân của mỗi bài viết
Không ai trong số những tác giả có
tên trong TSSĐ miền Nam bị bắt buộc phải
viết về điều ǵ. Điều này nói ra có vẻ
là thừa. Nhưng nếu so với giới cầm bút khốn
khổ ở ngoài Bắc th́ lại vô cùng quan trọng. V́
"thành tích cách mạng" quan trọng hơn văn tài
hay sở học. Sau 1954, Trương Tửu viết phê
b́nh văn học theo hướng Mác Xít vẫn bị trù dập.
Đào Anh viết sử theo phương pháp duy vật biện
chứng sử quan cũng không yên. Trần Đức Thảo
cũng vậy.
Chẳng hạn TSSĐ miền Nam số
đặc biệt về Phan Thanh Giản, có nhiều bài viết
khác nhau, nh́n từ những góc độ khác nhau của nhiều
tác giả như Trương Bá Cần viết về việc
Phan Thanh Giản đi sứ ở Paris (tháng 10-11-1863) với
rất nhiều chi tiết đáng đọc. Nguyễn Thế
Anh tŕnh bày Phan Thanh Giản dưới mắt người
Pháp. Phù Lang Trương Bá Phát nói về việc chiếm cứ
ba tỉnh miền Tây bởi quân đội Pháp. Phạm
Văn Sơn nói về trách nhiệm và chung quanh cái chết
của cụ Phan. Trần Quốc Giám nói về cuộc
đời Phan Thanh Giản. Lê Văn Ngôn nót về việc
t́m ra những di tích kho tàng của cụ Phan Thanh Giản.
T.Q.G nói về thái độ của triều đ́nh Huế
đối với Phan Thanh Giản. Tô Nam dịch bản án
của các đại thần nghị xử về Phan Thanh
Giản. Mai Sơn sưu tập bài văn bia của cụ
Phan Thanh Giản. Bức thư của Phụ thân của cụ
Phan Thanh Giản gửi cho cụ 26-1- 1837. Một chuyên
đề như thế là khá đầy đủ và đă
tŕnh bày được sự mâu thuẫn, tranh chấp, hiểu
nhầm về đường lối không thể khác đối
với việc người Pháp sang cai trị ở VN.
Nhưng toàn thể tập san Văn Sử
Địa miền Bắc chỉ có một bài về Phan
Thanh Giản của Hồng Hạnh (tháng 11, 1956) kết tội
"Phan Thanh Giản chỉ là tiếng thở dài của
chủ nghiă đầu hàng"
3. Tôn trọng sự thật lịch
sử
Chúng ta có thể nhận thấy trong ư hướng hay trong tư tưởng của mỗi tác giả trong TSSĐ miền Nam sự cố gắng tối đa để sự thật lịch sử được tôn trọng. Có thể có những hạn chế v́ thiếu thốn tài liệu, có thể những tài liệu xưa chưa hoàn chỉnh hoặc sai sót. Nhưng TSSĐ miền Nam đă cố gắng tŕnh bày dưới nhiều góc cạnh, nh́ều phương diện, nhiều khuynh hướng để có thể đạt tới được một sự thật tương đối, tránh lối viết cực đoan, một chiều.
Đó là ưu điểm của TSSĐ miền Nam. Nhiều tác giả giữ được sự liêm khiết, coi trọng nhân cách chính ḿnh, tôn trọng sự chính xác khoa học của tài liệu, của sự kiện, đă diễn đạt một cách khách quan được sự thật lịch sử. Thêm vào đó, họ đă tránh phê phán lịch sử một cách hạn hẹp, bất công chỉ dựa trên chủ nghĩa giáo điều. Điều đó có thể chứng minh được qua số chủ đề về Phan Thanh Giản.
Ngược lại, đọc TS Văn
Sử Địa (TSVSĐ) miền Bắc, từ số
đầu đến số cuối chỉ thấy thật
sự hiện diện của chủ nghĩa Mác Xít. Đảng
cộng sản đă dùng chủ nghĩa Mác Xít giáo điều
để cắt nghĩa, lư giải các sự kiện lịch
sử cũng như văn học khiến cho TSVSĐ miên
Bắc là một sự thất bại hoàn toàn về việc
ghi nhận sự thật lịch sử, v́ chịu ảnh
hưởng nặng nề chủ nghĩa Mác Xít của
Liên Xô. Trong bầu khí khép kín với thế giới bên ngoài,
những người như các ông Trần Huy Liệu, Trần
Thanh Mại, Văn Tân tin tưởng vào tính cách khoa học
của chủ nghĩa Mác Xít đến độ mù quáng.
Nh́n lại các bài viết của các tác giả này cách đây
trên 60 năm, sự ngây ngô khờ khạo, tính cách ấu
trĩ non nớt trong lập luận, sự hẹp ḥi thiển
cận trong diễn giải, sự độc đoán,
độc tôn cố chấp đối với những
quan điểm khác họ phơi bày trên từng gịng chữ.
Họ làm văn học và lịch sử với tác phong dạy
đời "như bố chó xồm" của một
đảng viên cộng sản đang thắng thế, lúc
nào cũng răn đe cảnh cáo, sẵn sàng trù dập, bất
công đối với những người có quan điểm
khác họ. Kết quả là rất nhiều "nạn
nhân" lại chính là những tác giả đă có mặt
ngay trong danh sách cộng tác với TSVSĐ miền Bắc
ngay từ đầu như các ông Trần Đức Thảo,
Trương Tửu, Phan Khôi và các nhà văn trong nhóm NVGP. Chưa
kể đến người thời trước như
Phạm Quỳnh, Trương Vĩnh Kư, Tự Lực
Văn Đoàn. Nằm trong danh sách "nạn nhân" của
TSSĐ miền Bắc có cả các vua chúa triều Nguyễn.
Nhưng những nhân vật được họ vinh danh
như Nguyễn Trăi, Nguyễn Huệ Quang Trung, Nguyễn
Du, Hồ Xuân Hương cũng là "nạn nhân" v́
đă được khen không đúng. Những "nạn
nhân bất đắc dĩ" của họ gồm cả
những nhân vật thần thoại, không có thật như
Thằng Bờm, Chú Cuội.
Nói cho cùng, ngày nay, ngay cả những tên tuổi như Trần Huy Liệu, Văn Tân, Trần Thanh Mại, Nguyễn Đổng Chi, Minh Tranh cũng đă trở thành nạn nhân của chính những bài viết của họ. Chính một chuyên viên nghiên cứu sử, ông Nguyễn Đổng Chi than ông chẳng đọc được ǵ hữu ích trong những bài viết đó.
Sự h́nh thành Tạp chí Sử Địa ở miền Bắc
Vào năm 1953, trung ương đảng và chính phủ kháng chiến đă chuyển về xă Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Ông Trần Huy Liệu lúc bấy giờ công tác ở Ban Thường vụ quốc hội. Trần Huy Liệu có ư lập ra một tổ chức nghiên cứu lịch sử trước khi về tiếp quản Hà nội. Trần Huy Liệu đem ư định đó tŕnh lên ông Trường Chinh, Tổng Bí thư đảng. Ông Trường Chinh tán đồng ư kiến ấy. Nghiên cứu lịch sử không thuần chính trị mà chú trọng vào lịch sử xă hội Việt Nam, đúng ra là nghiên cứu sự phát triển xă hội.
Ngày 2-12-1953, ban Bí thư trung ương
đảng cộng sản quyết định cho thành lập
Ban Nghiên cứu lịch sử, địa lư, văn học
Việt Nam.
Lúc ban đầu, ngoài Trần Huy Liệu là trưởng ban c̣n có Tôn Quang Phiệt, Vũ Ngọc Phan, Trần Đức Thảo và Minh Tranh. Sau đó th́ các ông này thảo ra được một tuyên ngôn của một cơ quan khoa học mới ra đời: "Mục đích của chúng tôi là muốn dùng Tập san làm một phương tzện học hỏi, thảo luận, trao đổi ư kiến giữa Ban và các cộng tác viên cùng bạn đọc..."
Ngày tập san số 1 của ban Sử, Địa, Văn ra đời là tháng 6/1954. Sau đổi tên thành "Tập san Văn Sử Địa" (trích hồi kư của Minh Tranh, 1991).
Tập san Đại học Sư Phạm số 1 ra tháng 5-1955, tại Hà nội do Trần Đức Thảo làm thư kư ṭa soạn. Đến số 6 th́ tên Trần Đức Thảo bị xóa sổ. Trần Huy Liệu lên thay và chỉ giản dị đề như sau: Bài lai cảo, xin gửi cho ông Trần Huy Liệu.
Đây chỉ là một h́nh thức thanh
trừng trong nội bộ và Trần Đức Thảo chỉ
là một trong số những người đă bị thanh
trừng.
Những tác giả cộng tác với tờ Văn Sử Địa miền Bắc
Trong 48 tập, từ 1954-1959, người ta thấy có tên các tác giả sau đây cộng tác với Tập San Sử Địa: Đào Duy Anh, Trần Huy Liệu, Trần Đức Thảo, Minh Tranh, Phan Khôi, Trần Thanh Mại, Phan Huy Chú, Ngô Quân Miện, Nguyễn Đổng Chi, Hoàng Nguyên Khôi, Lê Xuân Phương, Nguyễn Công Binh, Tôn Kính Chi, Nguyễn Minh, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Minh Văn, Hằng Phương, Hải Khách, Văn Tân, Lư Trần Quư, Ngọc Lân, Hoàng Lân, Trương Chính, Nghiêm Xuân Ḥe, Nguyễn Lương Bích, Hồng Bích, Đái Xuân Ninh, Phạm Nhược Ngu, Văn Tạo, Bạch Hào, Lê Tùng Sơn, Lâm Hà, Trương Chí Minh, Trần Văn Giáp, Nguyễn Tư Hoàng, Nguyễn Huệ Chi (c̣n là sinh viên đại học), Nguyễn Văn San, Nguyễn Lộc, Tư Huyền, Ninh Viết Giao, Nguyễn Thế Phương, Nguyễn Đức Đàn, Phong Châu, Nguyễn Lân, Vơ Xuân Phô, Nông Ích Thùy, Mai Hanh, Bùi Tuấn Bách, Lê Gia Hiên, Chương Thâu, Hồng Hạnh và ông Hoàng Xuân Nhị.
Trong số các tác giả vừa nêu trên,
Trần Huy Liệu viết đều tay nhất, gần
như mỗi số đều có bài. Các bài viết của
Trần Huy Liệu đều có tính cách giáo điều, lư
thuyết về chủ nghĩa cộng sản hơn là nghiên
cứu sử: Nghị quyết Hội nghị Trung
ương lần thứ 8 với cuộc cách mạng tháng
8, Bài học lịch sử về Sô Viết Nghệ
Tĩnh, Nhân dịp kỷ niệm kháng chiến, Điểm
lại thuyết ba giai đoạn của chúng ta. Vấn
đề tổ chức khoa học Việt Nam. Mấy
điểm cần đi sâu vào cuộc Yên Thế khởi
nghĩa. Những yếu tố thắng lợi của trận
lịch sử Đống Đa. Và một bài tham khảo
khá dài bàn về Phong trào Cách Mạng Việt Nam qua thơ
văn. Đăng nhiều kỳ, cộng tất cả
trong 17 số báo.
Không thiếu những bài viết chỉ trích các nhà văn chủ trương xét lại. Một trong những bài quan trọng đó của Trần Huy Liệu, số 40, tháng 5-1958 đánh thẳng vào bọn "Nhân văn giai phẩm" như tiếng nói chính thức của đảng cộng sản về nhóm này nhan đề: Chủ nghĩa Nhân Văn với người cộng sản.
Số báo tiếp theo, số 41 được dành để tố nhà văn Phan Khôi, linh hồn của NVGP lại có sự góp mặt không ngờ của Nguyễn Đổng Chi cũng như Nguyễn Khắc Viện, những nhà nghiên cứu văn học tiếng tăm trong cuộc đánh đ̣n hội chợ này. Mở đầu là Tố Hữu với "Ư nghĩa một cuộc đấu tranh trong văn nghệ trong tạp chí Học Tập", trang 22-24 viết: "Chúng là những tên phản trắc. Có kẻ như Phan Khôi, một cuộc đời đă 5 lần phản bội tổ quốc, kẻ đă từng nhục mạ: Người An nam là chó và đă là chó th́ phải ăn cứt". Rồi Hồng Quảng trong báo Văn Nghệ, số 11 viết: Phan Khôi là một tên học tṛ vụng về của Hồ Thích. Và trích dẫn một tờ báo lúc bấy giờ ở Sài g̣n, Hồ Thích viết: "Phan Khôi đáng làm thầy cho Cộng Sản". Quan điểm phản động, phản khoa học của Phan Khôi phải chăng là học mót của Hồ Thích?
Sau Phan Khôi đến Trương Tửu
bị lên giàn hỏa. "Vài ư kiến phê b́nh truyện Kiều
và thời đại Nguyễn Du của Trương Tửu",
bài của Hiền Minh, Tập San Văn Sử Địa,
số 32, tháng 9/1957. Văn Tân đánh tiếp Trương Tửu
qua bài: "Mấy vấn đề văn học sử
Việt Nam" của Trương Tửu hay là một lối
xuyên tạc chủ nghĩa Mác Lê Nin, số 44. Đến
số 45, tháng l0-1958 Trương Tửu lại bị
đánh lần thứ ba với hai bài: Bộ mặt phản
động của Trương Tửu trong quyển: "Mấy
vấn đề văn học sử Việt Nam" và
Trương Tửu đầu cơ văn học khi phê
phán "Truyện Kiều", Vài ư kiến phê b́nh truyện
Kiều và thời đại Nguyễn Du của
Trương Tửu.
Tiếng là tập san chuyên đề về
sử mà đánh liên tiếp, đánh phủ đầu,
đánh hội đồng Phan Khôi và Trương Tửu
trong suốt mấy năm trời. Tuy nhiên, sau những bài
viết trù dập, đánh những nhà văn "phản
động" này th́ chắng bao lâu sau, những ông cán bộ
cộng sản trong ban biên tập của Tập san Văn
Sử Địa miền Bắc cạn đề tài và sau
đó cũng đ́nh bản.
Có thể coi TSVSĐ như đó là
cơn băo rớt NVGP? Vai tṛ đánh phá văn nghệ sĩ
đă xong. TSVSĐ miền Bắc không c̣n cần thiết nữa,
hay ngay cả Tập San Văn Sử Địa cũng bị nghi
ngờ nên bị đóng cửa?
Những bài viết "đánh đấm" này đọc lại thấy rơ là gượng ép, loại bài đánh lấy được, chửi bới lấy được với rất nhiều luận cứ không đứng vững và kiểu cả vú lấp miệng em. Nhưng có lẽ hay hơn cả, xin để một người trong cuộc, ông Nguyễn Huệ Chi, con trai của cụ Nguyễn Đổng Chi lên tiếng về việc làm của cha ḿnh để hậu thế nh́n ra vấn đề.
Trong bài viết ngắn trao đổi cùng Nguyễn Văn Hoàn được đăng tải trên diễn đàn Talawas, này 7-6-2005, ông Nguyễn Huệ Chi có nhắc lại về việc cha ông, cụ Nguyễn Đổng Chi đă đóng góp vào cuộc đánh hội đồng nhóm Nhân Văn Giai Phẩm như sau:
"Bản thân tôi, từ kinh nghiệm của người thân, tôi đă chứng kiến người bố của tôi - Nguyễn Đổng Chi, viết bài phê phán học giả Phan Khôi theo yêu cầu của người khác (khác hẳn với tính cách của ông), rồi sau đó đă không ngớt ân hận. Cho đến lúc mất, ông vẫn lấy làm xấu hổ, coi việc làm của minh là một vết nhơ, không gột nổi, và dặn con t́m cơ hội gột rửa giúp ḿnh. Gần đây, có nhiều người gợi ư nên làm toàn tập cho bố tôi, tôi chỉ cười mà không giải thích, nhưng trong thâm tâm tôi tự thấy chưa thế nào làm được, v́ không thể nào đặt vào toàn tập một bài viết không vẻ vang ǵ cho tên tuổi của bố tôi, tiếc thay, trên giấy trắng mực đen, bài viết đă được in ra".
Xin cám ơn ông Ngưyễn Huệ Chi và tôi nghĩ rằng chẳng c̣n ai trách móc cụ Nguyễn Đổng Chi nữa đâu. Nhưng điều đó cho thấy nhà văn miền Bắc đáng thương v́ nếu không muốn bị trù dập th́ phải trù dập người theo lệnh đảng.
Kẻ bị đánh và kẻ được chỉ định đi đánh người khác đều đáng tội nghiệp cả, v́ đều là nạn nhân của đảng cộng sản.
Trong số những kẻ cầm gậy
chỉ huy những cuộc đánh hội đồng
người khác, chỉ c̣n có ḿnh Tố Hữu là đáng
khinh bỉ. Bao nhiêu nhà văn đă v́ Tố Hữu mà cả
cuộc đời lao đao, khốn khổ. Tội của
Tố Hữu lớn lắm. Vậy mà ngày nay c̣n có người
viết lời ca ngợi Tố Hữu mới thật là lạ?
Cái khốn khổ của nhà văn miền Bắc đến như thế nào th́ chỉ họ mới biết được. Mới đây nhất, nhà văn Nguyễn Khải trước khi chết có viết bài Cái Tôi.
Nhà văn Quang Lập trong bài Nhớ Nguyễn Khải
có viết như sau: " Đợt trước gặp anh chừng
nửa giờ, t́nh cờ gặp ở vỉa hè, kéo vào ngồi
quán cà phê nghèo ở hẻm, anh nói: Lập viết kịch
hay, viết phim cũng hay, nhưng viết văn đi em.
Mày bỏ văn lâu quá rồi. Đó là lần đầu
tiên anh Khải gọi ḿnh bằng em, bằng mày, trước
nay toàn gọi ông xưng tôi dù anh hơn ḿnh cả 20 chục tuổi.
Đó cũng là lần đầu tiên ḿnh tin anh Khải
khuyên minh chân thành nhất... Khi nào cũng nghĩ: ông này có
đọc ḿnh đéo đâu, chỉ khen thế thôi. Bởi
v́ ông nổi tiếng câu: Thằng nào thích khen th́ khen cho nó chết.
Hồi đại hội IV nhà văn ḿnh c̣n hung hăng lắm.
Mặc bộ đồ ḅ đầu gấu lên Diễn
đàn nói văng mạng, được vỗ tay càng nói
hăng. Nói xong về chỗ th́ run, không biết ḿnh có nói hớ
chỗ nào không? Nghỉ giải lao ra hành lang ngồi gần
anh, hỏi: Em nói có được không anh? Anh nh́n ḿnh
chăm chăm nói: Ông có cái miệng tươi kinh. Tôi là
đàn bà, tôi đă có chửa với ông lâu rồi... Bốn
năm sau gặp lại, hỏi hồi đó anh nói thế
là có ư ǵ. Anh cười nói, tôi nói thật mà ai cũng cho tôi
nói lỡm, khổ thế. Khi ông lên diễn đàn, tôi có
nghe đâu, tôi đang tán phét với Đỗ Chu ở ngoài
sảnh. Rồi ông thở dài: đảng cho tôi nói lỡm
đă đành, bạn bè cũng nghĩ vậy, chán mớ
đời... Ḿnh nghĩ bụng, tại anh quá thông minh, biết
sợ, luôn luôn cảnh giác, không tin ai th́ ai cũng không tin
anh thôi. Trước khi vào Sài g̣n, ḿnh có đọc bài Cái Tôi
của anh, viết hay quá, hay đến nổi da gà. Đây
là bài đầu tiên và cũng là bài cuối cùng Nguyễn Khải
nói thật.
Tôi thấy chẳng cần viết thêm
ǵ. Đủ rồi.
Những lối viết, lối phê b́nh, dựa trên chủ nghĩa giáo đ́ều, ngôn ngữ lên giọng mạt sát tràn lan, giọng điệu lên gân tột mức, sỉ nhục tác giả th́ c̣n ǵ là phê b́nh? Qua những cây bút phê b́nh của đảng th́ Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh chỉ là những con số không trong lịch sử văn học. Sự thống nhất về tính chất phản động của Phạm Quỳnh trong lĩnh vực chính trị và văn học (bài viết của Hồng Hạnh tháng 11, 1958), Bộ mặt phản động của Trương Tửu, triều Nguyễn, một thời phản động và thoái hóa, Phan Thanh Giản chỉ là tiếng thở dài của chủ nghĩa đầu hàng.
Về cụ Phan Thanh Giản, xin xem bài viết của Nguyễn Thế Anh, đăng trong Tập San Sử Địa ở miền Nam và "Phan Thanh Giản dưới mắt người Pháp" trong đó "Cái chết của Phan Thanh Giản của Trung tá Ansart gửi Tổng Tham Mưu Trưởng Reboul", (Tài liệu của Văn khố Trung Ương Pháp, tập 11.807/2, đăng bởi G. Taboulet, La geste Francaise en Indochine, Paris, 1956, tr. 519-520) th́ thấy trong khi người Pháp trân trọng, thương cảm cho cái khí tiết của cụ Phan Thanh Giản th́ Hà nội phê phán, chửi bới.
Sự khác biệt quan điểm, lập
trường chính trị khiến Tập san Sử địa
ở miền Bắc bóp méo mọi vấn đề cho phù
hợp với chủ nghĩa cộng sản giáo điều.
Giá trị sử liệu không c̣n nữa. Hiện nay, nh́n lại
công tŕnh biên khảo của tập san này, phần giá trị
biên khảo rất giới hạn. Đọc rất nản,
v́ tính cách đơn điệu, một chiều, gượng
ép đến lố bịch. Tiêu biểu cho sự lố bịch này
là khi họ cố lư giải, phân tích bài Thằng Bờm.
Chúng ta hăy đọc như sau: "Ư nghĩa cái cười
của Bờm là thế. Nó không phải là cái cười vui mừng
"được ăn xôi" như Phạm Quỳnh
đă giải thích trong quyển "Người nông dân Bắc
Kỳ qua ngôn ngữ b́nh dân". Hoặc như anh Nguyễn
Xuân Khoát đă thể hiện chuỗi cười "hi.
hi. hi." trong bản nhạc của anh. Trong cuộc đấu
trí giữa em bé cố nông và thằng địa chủ
(cũng có thể nói là đấu lư), tên địa chủ
đă gục ngă, quỳ gối đầu hàng. Bờm
đă cười, cái cười đắc thắng của
một giai cấp đấu tranh thắng lợi."
Những câu truyện thần thoại
dân gian, những câu truyện cổ tích v.v... có ư nghĩa
riêng của nó. Khi cắt nghĩa, lư giải, phân tích thần
thoại, cổ tích là giết chết thần thoại, là
hủy diệt văn hóa cổ truyền. Là đánh mất
ư nghĩa đơn thuần, nguyên thủy của nó.
Cái đẹp, cái hay của những câu truyện thần thoại của dân tộc nào cũng vậy, chúng vượt trên mọi lư giải, phân tích khoa học. Nó là nó. Dù có đặt ḿnh vào cái khung thời gian, không gian của chúng th́ cũng không thể hiểu hay lư luận để hiểu được. Không thể tách huyền thoại, cổ tích ra khỏi sự huyền hoặc của chúng rồi cố t́nh gán ghép, bóp méo như vậy được. Không thể biến câu truyện Thằng Bờm thành câu truyện tranh đấu giai cấp, có căm thù, có thắng, có thua. Biện dẫn trong bài ca dân gian Thằng Bờm có h́nh ảnh tên địa chủ đă ngă gục, đă quỳ gối đầu hàng là một hành động lố bịch mà chỉ chế độ cộng sản mới có thể sản xuất ra được.
Và cứ như thế, hàng loạt các
bài viết theo h́nh thức "mẫu mực" đó ra
đời. Các câu truyện dân gian như Con mèo trèo cây cau,
Mười cái trứng, Truyện Trê cóc v.v... v.v... đă
được khai thác triệt để v.v...v.v... Trần
Thanh Mại trong bài: Giảng văn về ca dao cổ của
nông dân đấu tranh, TSVSĐ, số 1, tháng 6-1954, cố
biến những ca dao cổ trở thành công cuộc đấu
tranh của nông dân vô sản. Ngô Quân Miện viết: Lại
truyện thằng Bờm. TSSĐ, số 3. Ngọc Lân
viết: Bàn về Thằng Bờm TSVSĐ số 10,
10-1955, Nguyễn Đổng Chi viết: "Ư nghĩa
truyện Chử Đồng Tử" và nhất là "Vấn
đề chiếm hữu nô lệ ở Việt Nam qua ư
nghĩa một truyện cổ tích" TSSĐ số
18, 6-1965, Văn Tân viết: "Nghiên cứu và đánh giá
vốn cũ trong Văn Học dân tộc, Truyện Trê
Cóc", TSVSĐ, số 12, 1955. Mai Hạnh bàn về: Giá
trị Truyện Trạng Quỳnh. Nguyễn Hồng
Phong trong ư kiến bạn đọc viết về: Triết
lư về lẽ tự nhiên trong truyện Trê Cóc, TSVSĐ
số 18, 6-1955. Trương Chính viết: Xung quanh truyện
Trê Cóc, TSSĐ số 19, 7-1956. Trần Hữu Chí góp ư: Xung
quanh truyện Trê Cóc, TSSĐ, số 22, 10-1956. Sự nghèo
nàn về sáng tạo va sử liệu là điều không thể
giấu được.
Khá hơn một chút có loạt bài về Tây Sơn. TSVSĐ đặc biệt Tây Sơn, số 14, tháng 2-1956, có nhiều bài chỉ đánh giá Tây Sơn theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Xít. Như Minh Tranh với bài: Xă hội VN trong thế kỷ 18 và những phong trào nông dân khởi nghĩa. Bạch Hào với bài: Cuộc khởi nghĩa của nông dân Tây Sơn qua một ít bức thư của người ngoại quốc đă ở VN trong thời kỳ này. Một số vấn đề ruộng đất thời Quang Trung. Nguyễn Lương Bích và Nguyên nhân thành bại của cuộc cách mạng Tây Sơn.
So với ba số chuyên đề của Tập San Sử Địa của miền Nam về cùng một đề tài th́ sự khác biệt hơn kém quá rơ ràng... Hơn kém về đề tài viết, về cách đánh giá tŕnh bày sử liệu, về mục đích, về nguồn tài liệu tham khảo. Đọc những bài viết trên, những người cộng sản đă gán ghép cho cuộc nổi dậy của Quang Trung như là một cuộc cách mạng của giới nông dân. Thực ra không hẳn là như vậy.
Tập San Nghiên Cứu Văn Sử Địa (Miền Bắc) Số 6, Tháng 3 và 4 - 1955
Ngay những người thời trước như Trần
Trọng Kim, như Hồ Xuân Hương cũng không được tha. Trần Huy Liệu và Bóc
trần quan điểm thực dân và phong kiến trong quyển
"Việt Nam sử lược" của Trần Trọng
Kim; Văn Tân và Ư nghĩa và giá trị thơ Hồ
Xuân Hương, TSVSĐ, số 10; Đái Xuân Ninh và Chủ
nghĩa nhân đạo trong thơ Hồ Xuân Hương.
Từ những bài viết phê phán trù dập các trí thức, nhà văn không phải là cộng sản bất kể yếu tố thời gian này của Tập San Văn Sử Địa miền Bắc, người đọc dễ nh́n ra kết luận: Những nhân vật chính trị hay văn hóa bị đảng cộng sản trù dập hầu hết đều là những người có tài trí, nhân cách đáng kính nể, hoặc là người liêm chính trung trực... Như Phan Thanh Giản, Phan Khôi, Trần Đức Thảo, Trần Dần. 60 người liên hệ trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm... đều là những người tử tế và có tài cả.
Sau 1975, cái màn đánh đấm, trù dập toàn bộ các nhà văn, sách vở của miền Nam được lập lại và do Lê Duẩn cầm chịch. Lê Duẩn, trong Đại Hội đảng khóa 5 ra chỉ thị: "Sau ngày giải phóng, nhân dân đă làm rất nhiều việc nhằm quét sạch những dấu vết và di hại của thứ văn hóa ấy. Công việc này cần được tiếp tục một cách kiên tŕ, tích cực và triệt để." Để thực hiện chỉ thị này, một loạt sách đă xuất hiện từ khoảng 1977 đến 1990 với các "chuyên viên đánh đấm" hay có thể gọi là văn nô của đảng cộng sản như Thạch Phương, Trần Hữu Tá, Phan Đắc Lập, Trần Văn Giàu và sát khí nhất, dai dẳng nhất là Trần Trọng Đăng Đàn.
Theo Phan Cự Đệ và Hà Minh Đức trong Nhà Văn, tập 1, trên các tạp chí miền Bắc như Học Tập, tạp chí Văn Học, Văn Nghệ, trích lại trong sách của Nguyễn Hưng Quốc th́ đă có đến 286 bài viết liên quan đến chính sách tiêu diệt văn học miên Nam.
Một số các bài viết này là: Nọc độc Văn học thực dân mới, Những tên biệt kích của chủ nghĩa thực dân mới trên mặt trận văn hóa tư tưởng của Đế quốc Mỹ tại miền Nam Việt Nam, Tiếp tục đấu tranh xóa bỏ tàn dư văn hóa mới... Đặc biệt là Lữ Phương đă đóng góp đắc lực trong trận càn quét này với cuốn sách dày 250 trang nhan đề: "Cuộc xâm lăng về văn hóa của đế quốc Mỹ tại Nam Việt Nam"...
Nhưng cuộc đánh phá, truy lùng và hủy diệt nhà văn và sách vở miền Nam của đảng cộng sản đă thất bại. Họ có thể bắt bỏ tù một nhà văn. Nhưng đảng cộng sản không thể cầm tù tư tưởng và sách vở. Thật vậy, trên báo Đại Đoàn Kết số ra ngày 10-11-1982, nghĩa là 7 năm sau ngày miền Nam mất, Đinh Trần Phương Nam thú nhận: "Các hoạt động của chúng ta vừa qua thật rầm rộ, thật phong phú, thật đa dạng. Song các loại sách báo phản động, đồi trụy đă bị quét hết chưa? Xin thưa ngay là chưa. Bởi v́ nó vẫn được chuyền tay nhau đọc công khai ở các sạp hàng bán chợ trời, ở các lề đường, trên tay cô bán hàng, nằm lẫn trong sách của các em học sinh, nằm trong mùng mền của nhiều cô bác chưa muốn thực sự đoạn tuyệt với lối sống cũ, với hệ tư tưởng và t́nh cảm cũ". Nghĩa là dù cố t́nh truy diệt nhưng người cộng sản vẫn phải công nhận sách vở miền Nam nội dung phong phú và đa dạng.
Rồi 12 năm sau, năm 1987, trên tờ
Tiền Phong, chúng ta đọc được những nhận
xét trớ trêu như sau: "Người ta thấy sách của
nhà XB Văn Học, tác phẩm mới Văn Nghệ của
thành phố Hồ Chí Minh... Nhưng nấp sau và chen giữa
những cuốn sách b́nh phong đó lại là vô số những
tác phẩm sặc mùi phản động và đồi trụy
chỉ nh́n lướt qua ta thấy giật ḿnh. Nghiêm trọng
hơn, những tác phấm tâm lư chiến phản động
của những tên biệt kích khoác áo nhà văn như Nguyễn
Mạnh Côn, Doăn Quốc Sĩ, Mai Thảo, Dương Nghiễm
Mậu, Duyên Anh, Nhă Ca được bày bán công khai..."
Người cộng sản c̣n vô văn hóa đến độ đổi tên đường ở miền Nam, thay thế các danh nhân lịch sử bằng những "anh hùng lao động" của cộng sản. Chỉ ở quận 8, họ đă đổi: đường Cần Giuộc thành Cao Xuân Dục, Hồ Văn Huê thành Đào Duy Anh, Phan Châu Trinh thành Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Trường Tộ thành Châu Vĩnh Tế, Hồ Ngọc Cẩn thành Đỗ Nhuận, Trương Vĩnh Kư thành Năm Châu, Lê Lợi thành Nguyễn Phúc Chu. Vụ đổi tên đường này không nằm trong một nguyên tắc nào cả. Ví dụ như đảng cộng sản chống đạo Thiên Chúa th́ những tên đường như Nguyễn Trường Tộ, Trương Vĩnh Kư, Hồ Ngọc Cẩn phải thay thế th́ đă đành nhưng Phan Châu Trinh, Lê Lợi, Trương Minh Giảng th́ tại sao phải thay? Ông Hồ Chí Minh dạy rằng "không có ǵ quí hơn độc lập, tự do" th́ thay đường Tự Do bằng Nam Kỳ khởi nghĩa làm ǵ?
Nhưng nay th́ những tên "biệt kích văn nghệ miền Bắc" trước 1975 đâu cả rồi?... Trong khi đó, tác phẩm của "biệt kích văn nghệ miền Nam" như Dương Nghiễm Mậu được xuất bản và bày bán công khai ở Sài g̣n... Và hơn thế nữa, các nhà xuất bản có thể in lại các sách vở trước 1975, với điều kiện sách góp phần xây dựng đất nước. Trong đó có toàn bộ sách của Tự Lực Văn Đoàn trước cấm, nay cho in lại. Vậy trước cấm là sai, nay không cấm là đúng? Tưởng vậy mà không hẳn là như vậy.
Điều ǵ đă xảy ra như thế?
Xă hội cộng sản sinh ra rất nhiều thứ bệnh: bệnh thành tích, bệnh h́nh thức, bệnh quan liêu, bệnh nói dối mà như thật, bệnh vô nhân v.v...v.v ... Nhưng trong Văn Học, qua gần 50 số Tập San Sử Địa miền Bắc, tôi thấy có thêm bệnh Giáo Điều. Mỗi trang sách, mỗi bài báo đều lên giọng rao giảng chủ nghĩa Mác Xít. Đến nỗi có thể sửa lời Lư Chánh Trung về môn Triết học thành câu nói mô tả bệnh này: bệnh giáo điều đă sản xuất ra những điều mà người nói không muốn nói và người nghe không muốn nghe.
Ở chế độ cộng sản, mở miệng ra th́ phải cài đặt chủ nghĩa Mác Xít vào. Vừa chán, vừa hẹp ḥi, vừa ngu xuẩn nữa. Theo người cộng sản th́ chủ nghĩa Mác xít cắt nghĩa được tất cả. Nếu nó không cắt nghĩa được, hoặc không đúng chủ nghĩa mác xít th́ là sai. Sai c̣n là nhẹ. Là phản động.
Truyện văn chương chữ nghĩa, truyện sử cho đến truyện vui chơi giải trí, họ cũng gắng gượng cài đặt, vặn vẹo, ép uổng thành truyện chính trị. Chuyện đúng hôm nay có thể không đúng ngày mai... Và điều được dùng để kết tội hôm nay, mai sau trở thành vô tội.
V́ thế không lạ ǵ những người cộng tác cho TSVSĐ miền Bắc lúc ban đầu như Trần Đức Thảo, Phan Khôi, Truơng Tửu sau trở thành đối tượng cho những tố cáo, trù dập. Mà quí vị này viết ǵ? Phan Khôi viết Thử t́m sử liệu Việt Nam trong ngôn ngữ. Trương Tửu viết Truyện Kiều và thời đại Nguyễn Du sau này bị văn nô Văn Tân đánh tơi bời trong "Bộ mặt phản động của Trương Tửu trong quyển "Mấy vấn đề trong Văn Học Sử Việt Nam".
Nhà văn một sớm, một chiều tự nhiên biến thành kẻ phản động. Như hàng triệu quân, dân, cán, chính miền Nam sau 1975 dù cho họ chỉ là người sinh sống ở miền Nam th́ phải theo luật lệ của chế độ miền Nam. V́ thế nỗi bất an đè nặng lên tâm khảm của con người sống dưới chế độ cộng sản. Sách lược của cộng sản là dùng người nọ đánh người kia, gây chia rẽ, mâu thuẫn, thù hận lẫn nhau. Tất cả theo lệnh đảng. Nhà văn viết theo đơn đặt hàng, viết theo lệnh, chửi theo lệnh. Nhưng những điều chửi, chửi giả vờ, chửi cho có truyện đó được đảng cộng sản dùng để kết tội người bị chửi dù không ai tin những điều này.
V́ thế, phải sống ở miền
Bắc, sống trong ḷng chế độ để thấy
rằng từ những lời tuyên bố đến những
chuyện phê phán, mạt sát nhau trên báo chí chỉ là những
màn kịch, chuyện phải làm theo lệnh đảng
Một trường hợp cụ thể là ông Trần Văn Giàu. Hồi c̣n ở trong Nam, ông đă là Xứ Ủy Nam Kỳ, đứng đầu Lâm ủy hành chánh (Xin xem thêm Hồi kư 1925-1964 của kư giả Nguyễn Kỳ Nam). Xét về vai vế cũng ngang hàng cỡ Trường Chinh và nếu may mắn ông có thể là Tổng Bí Thư đảng. Nhưng theo lời ông tâm sự với một trí thức miền Nam, chỉ v́ ông không đón được Lê Duẩn từ đảo Phú Quốc về v́ một lư do kỹ thuật, ông bị cho ra ŕa từ 1945 đến nay. Ông phẫn hận, nhưng giấu kín, không nói ra được. Ông chỉ viết được đôi bài trên Tập San Đại Học Sư Phạm như: Vai tṛ của quần chúng trong sự thay đổi các triều đại Lê, Lư, Trần, Hồ, số 1, 1955. Cuộc cách mạng của người nô lệ, số 2, 1955. Giới thiệu sách Lịch sử VN của Đào Duy Anh, số 4, 1955. Nhân dân kháng chiến ở Bắc Kỳ từ năm 1882 đến năm 1883, Cuộc đồng minh kháng chiến chống thực dân của hai dân tộc VN và Khơ-me, 1866-1867 số 6-7, 1956.
Trong Ban biên tập của Tập San Văn Sử Địa, có tên ông Trần Văn Giàu với tư cách là ủy viên thường trực cùng với Đào Duy Anh, Hoàng Xuân Nhị. Nhưng sau đó... chỉ có thế. Tất cả phần c̣n lại của cuộc đời ông sau này là dạy học và sống khuất mặt. Măi đến khi Nguyễn Văn Linh lên làm Tổng bí thư, ông mới được cho hoạt động trở lại và "cởi trói". Kể là quá muộn.
Ông tâm sự với một người
bạn trẻ hơn, một trí thức miền Nam mà ông
kêu bằng chú
(ám chỉ giáo sư Nguyễn Văn
Trung) là "khi vào Nam, tôi sẽ đến gặp
chú. Ông thú nhận "trước đây tôi bị bắt
buộc phải chửi chú như thế. Nhưng vẫn
phục chú, tôi phải chửi như thế thôi."
Sau này th́ chính vị trí thức miền Nam này cũng phải
đi tù CS. Công an thẩm vấn và hỏi kỹ càng việc
giao thiệp với Trần Văn Giàu và đ̣i hỏi ông phải
viết kiểm thảo xem Trần Văn Giàu đă nói ǵ?
Trần Văn Giàu có viết một cuốn
hồi kư giao cho người trí thức, bạn trẻ miền
Nam này và căn dặn chỉ khi nào ông chết mới
được phổ biến để tránh di lụy cho
con cháu của ông.
Câu chuyện trên cho thấy được
những điều phũ phàng che dấu bên trong của những
người đi theo cộng sản. Họ biến giả
thành thật, biến thật thành giả. Đóng kịch
và nghi ngờ lẫn nhau.
Chúng ta sẽ không lạ ǵ khi thấy sau này, Đỗ Đức Hiếu không muốn nhắc đến cuốn: Phê phán văn học Hiện sinh chủ nghĩa. Lê Đ́nh Kỵ cũng không đưa cuốn: Nh́n lại tư tưởng thời Mỹ nguy của ḿnh vào phần tác phẩm đă in... Nguyễn Huệ Chi không muốn in lại toàn tập tác phẩm của bố ḿnh là cụ Nguyễn Đổng Chi, v́ đă có thời cụ viết bài theo lệnh đảng chửi Phan Khôi.
Nhân tiện đây, xin ghi lại lời
Nguyễn Huệ Chi nhận xét tổng quát về tính chất
văn học miền Bắc như sau:
" Vào những
năm 60-70 trên miền Bắc xă hội chủ nghĩa, khi
nh́n lại những hiện tượng văn hóa nói trên,
cách tư duy của rất nhiều người trong giới
nghiên cứu chúng ta đều rốt ráo theo hướng
"căng", "cương" như đă dẫn.
Nó là phương pháp tư tưởng quen thuộc của
một thời, tưởng chừng trở thành máu thịt,
là sự tự nguyện, và cũng là bắt buộc. Không
cẩn thận, không nói theo cho khéo, rất có thể bị
"thổi c̣i" và bị chuyển sang một công việc
khác.
"Công việc khác" này nhẹ th́ hạ tầng công tác, bị trù dập, nặng th́ đi cải tạo tức đi tù.
Tóm lại, một nền văn hoá như nhận xét trên là một thứ văn hóa dựa trên sự lừa lọc, dối trá.
Hiện nay có thay đổi ǵ về thực trạng mà Nguyễn Huệ Chi đă nhận xét? Hẳn là có, nhưng chưa đủ. Nếu không muốn nói là quá ít.
NGUYỄN VĂN LỤC
|