|
TỪ NAM PHONG TỚI BÁCH KHOA ~~oOo~~
Văn hóa và chính trị: thực chất hay huyền thoại
Chính trị là cái nhất thời của một thời kỳ. Văn hóa là cái tồn tại, kéo dài nhiều thế hệ. Bài học trước đây với học giả Trương Vĩnh Kư, với Nguyễn Trường Tộ, nay cái ǵ nơi họ c̣n để lai, cái ǵ c̣n, cái ǵ mất ? Sau này với Văn Cao, với Trịnh Công Sơn, với Phạm Duy cũng cùng một lẽ ấy. Cái ǵ c̣n đọng lại sau họ? Cái ǵ người ta c̣n nhớ và cái ǵ người ta đă quên? Tóm lại cái ǵ là thực chất và cái ǵ chỉ c̣n là huyền thoại ? Phạm Quỳnh nằm trong giai đoạn những ṿng xoáy lịch sử bắt buộc có những chọn lựa, hướng đi cho riêng ḿnh và cho đồng loại và đâu là nỗi oan khiên? Học giả Phạm Quỳnh vốn sinh thời cộng tác với Pháp với rất nhiều huyền thoại vây quanh như: huyền thoại khai hóa, huyền thoại Pháp-Việt đề huề, trong đó đâu là sự thật đâu là giả? Chúng ta cùng chờ xem.
Trong Nam Phong số 33 có đăng một bài luận thuyết dài của Tổng đốc Thân Trọng Huề trích đăng một lá thư của Le Myre de Vilers, nguyên soái Nam Kỳ, gửi cho vua Dục Tôn để chứng minh người Pháp không muốn xâm lăng Việt Nam. Nhưng v́ triều đ́nh Huế bất lực, trộm cướp hoành hành, quan lại tham ô, dân chúng th́ lầm than nghèo khổ. Người Pháp dù không muốn chiến tranh, bắt buộc phải dùng những biện pháp thich nghi dùng vơ lực chỉ v́ bó buộc mà thôi. Cũng vậy, sở dĩ người pháp phải can thiệp qua những vụ sau này như Dupuis, Garnier, Rivière chỉ là ngẫu nhiên chứ nước Pháp không hề cố ư chiếm Việt Nam. Phần De Courcy cho rằng sở dĩ Annam thua v́ quân lính kém quá. Tây chỉ có 90 người mà lấy được thành Hà nội: “ Xưa nay chưa thấy ai đến nước người ta, có ít quân mà lấy được thành dễ như vậy. Nghĩ đến lúc đánh giặc ở Bắc Kỳ như tṛ chơi trẻ con, kẻ học sử không hiểu lúc bấy giờ tổ chức thế nào mà yếu đến thế." Cũng vậy, việc Tôn Thất Thuyết đưa Hàm Nghi đi trốn đêm mồng 4 tháng 7 là rất dở. Nước Nam đă kư ḥa ước với Pháp sang bảo hộ nước Nam mà khi Toàn quyền De Courcy chưa kịp yết kiến vua th́ vua đă bỏ chạy… Phải chăng tất cả đây chỉ là những huyền thoại được người Pháp dựng lên? Muốn hiểu thêm nhiều chi tiết, nhiều thảm cảnh, nhiều dấu ấn xă hội, xin mời đọc Pierre Loty phơi bày tất cả tâm lư của người thực dân lúc sang xâm chiếm VN…. Ông đă tham dự vào các trận đánh ở Đà Nẵng, đổ bộ ở cửa Thuận Hóa trong cuốn sách L’ésotisme( những cảm nghĩ về lưu đầy.) Trong một bài viết của Phạm Quỳnh nhan đề:” Essai Franco-Annamites. Un problème d’éducation des races à l’académie des sciences morales", Juillet, 1922, Phạm Quỳnh phát biểu: "Toàn thể giới thượng lưu Annam tín nhiệm ở nước Pháp và hơn nữa c̣n giao phó hoàn toàn việc học vấn cho nước Pháp coi sóc. Thật là cảm động và độc nhất trong lịch sử nhân loại, cử chỉ của cả một dân tộc phó thác số phận của ḿnh cho một dân tộc khác.”. Đây là một nhận định thực tế hay một tâng bốc hùa theo kẻ mạnh? Chỉ biết rằng, nhiều người đă đánh giá Phạm Quỳnh là “theo Tây”:. Việt Minh sau này đă sát hại Phạm Quỳnh cùng với cha con ông Ngô Đ́nh Khôi tại Huế cũng nằm trong cái tinh thần ấy.
Phần bài viết này, xin phép để vào trong ngoặc những thái độ, những phát biểu chính trị của Phạm Quỳnh và chỉ chú tâm đến những đóng góp về sinh hoạt văn hóa của ông.
1. CON ĐƯỜNG TỪ NAM PHONG Trong số Nam Phong 154, tháng chín 1930, Phạm Quỳnh có dịch lại một bài viết của chính ông nhan đề "Ce que sera l'Annam dans cinquante ans" ( An Nam sẽ ra sao sau năm mươi năm nữa ? ) đăng trong France-Indochine. Trong những điều mà Phạm Quỳnh mong mỏi cho một nước Việt Nam tương lai là có một nền giáo dục không phải chỉ đào tạo ra một số thầy thông thầy kư. Một lối học chỉ để "đi làm mướn" hoặc đi làm quan tước mà ông vốn không ưa. Ông viết: "Người thanh niên An Nam bây giờ bập bẹ nói chút tiếng Pháp có thật đă văn minh, đă hấp thụ được nhiều Văn hóa hơn các cụ nho ngày xưa chưa?" Và tấm ḷng mong mỏi của ông cũng như người đi trước ông là Nguyễn Văn Vĩnh (tạp chí Đông Dương chỉ tồn tại có ba năm từ 1913-1916) là làm báo để dạy tiếng mẹ đẻ, viết tiếng mẹ đẻ cho con dân Việt. Đó là một cái nh́n viễn kiến về tiền đồ văn hóa Việt đáng được trân trọng!!! Cái tương lai mà Phạm Quỳnh mong mỏi và tiên đoán về tiếng Việt đă đạt được ngoài sự mong đợi của Phạm Quỳnh và của nhiều người. Không phải đợi đến 50 năm sau mà chỉ sau 30 năm, tiếng Việt đă trở thành ngôn ngữ có chuẩn mực, được giảng dạy từ tiểu học, trung học và cả đại học. Thành công đó có sự đóng góp rất nhiều của báo chí, trong đó có Nam Phong. Đó cũng là mục tiêu của bài viết này.
Hành tŕnh từ báo Nam Phong đến Bách Khoa Phải chăng Bách Khoa là điểm hẹn của con đường đi của chữ quốc ngữ, từ dạng thô sơ đến hoàn chỉnh? Ông Phạm Quỳnh ra làm báo Nam Phong từ 1917-1932 (Báo NP tiếp nối đến 1934), sau đó nhận chức Thượng thư Bộ Học ở Huế. Trong ṿng 15 năm làm báo, ông đă gây được một phong trào báo chí với một số cây bút như Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Trác, Nguyễn Đôn Phục, Nguyễn Mạnh Bổng, Nguyễn Tiến Lăng, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Trọng Thuật và đặc biệt có hai người trẻ tuổi là Đông Hồ và Tương Phố. Sau này Đông Hồ và Tương Phố là gạch nối từ Nam Phong đến Bách Khoa. Cả hai đều viết và cộng tác với tờ Bách Khoa. Câu chuyện như thể phải được coi là kỳ thú. Chỉ chưa đầy 30 năm sau câu hỏi trông đợi của Phạm Quỳnh trở thành sự thực hiển nhiên.
Chữ quốc ngữ đă đi những bước chân của người khổng lồ. Cần phải nhắc nhớ nhau rằng, thời của Trương Vĩnh Kư trong Nam, thứ chữ gốc La Tinh này đă có mặt, nhưng không ai chịu học cả. Phải ra lệnh ép người ta mới chịu học. Con đường đi của chữ quốc ngữ cũng nhiều gian nan, đánh dấu bằng những cột mốc lớn như có Gia Định báo, rồi Truyện Kiều, Lục Vân Tiên được phiên âm sang chữ quốc ngữ. Chưa kể chương tŕnh của Đông Kinh Nghĩa Thục kêu gọi hô hào hai điều: Cắt búi tó củ hành và học chữ quốc ngữ vào những năm 1907. Rồi đoạn đường tiếp nối Nam Phong với sự ra đời của Tự Lực Văn Đoàn với Phong Hóa, Ngày Nay 1932-1940. Nếu Phạm Quỳnh xây dựng chữ quốc ngữ với sự "phát hành ra hàng ngàn tiếng mới", mở đường, xây dụng th́ TLVĐ làm "phong phú, đơn giản" chữ Quốc ngữ. Chỉ có một điều bất công là TLVĐ đă mang Phạm Quỳnh ra chế giễu đủ kiểu một cách rất rẻ tiền. V́ thế sau này đến lượt TLVĐ lại trở thành nạn nhân của nhóm Sáng Tạo? Sau đó, có một khoảng trống văn học từ 1940-1954. Khoảng trống v́ có chiến tranh Việt-pháp.
Trong Nam, sau 1955, có một sự bùng nổ văn học. Không có cuộc di cư của một triệu người, thử hỏi có thể nào có một sự bùng nổ văn học như thế không? Chắc là không. Cuộc di cư ấy gắn liền vào định mệnh cũng như tương lai lịch sử chính trị kinh tế, học thuật của miền Nam sau 1955. Trong đó có báo chí. Bùng nổ thứ nhất là tiếng Việt được giảng dạy từ tiểu học, trung học và sau này cả đại học. Bùng nổ thứ hai là báo chí được hồi thịnh đạt với rất nhiều báo chí ra đời. Báo chí đă có những thay đổi lớn lao khác xa thời của Phạm Quỳnh với các nhóm Sáng Tạo, rồi Bách Khoa. Nếu sự nghiệp Nam Phong với Phạm Quỳnh là làm giàu thêm về tiếng Việt, về dịch thuật, về phổ thông, về học thuật, về tư tưởng Tây phương và khảo cứu về văn minh, chính trị nước Pháp, sự nghiệp ấy có thể được nối tiếp sau này với tờ Bách Khoa vào năm 1957 với đầy đủ các kiến thức đủ loại: Từ văn chương đến nghệ thuật, đến khảo cứu phê b́nh, đến sử học và triết học Đông Tây... Xin trích dẫn lời nhận định của Vũ Ngọc Phan, trích lại từ Thế Kỷ 21, số 122, về Phạm Quỳnh như sau: "Một người chỉ biết đọc quốc ngữ mà có khiếu thông minh có thể dùng tạp chí Nam Phong để mở mang học thức của ḿnh. Trong lịch sử văn học hiện đại, người ta sẽ không thể nào quên được tạp chí Nam Phong v́ nếu ai đọc toàn bộ tạp chí này cũng phải nhận là rất đầy đủ, có thể giúp cho người học giả một phần to tát trong việc soạn một bộ Bách khoa toàn thư bằng Quốc văn." Chính trong cái ư trên mà người viết bài này muốn nối kết lại con đường học thuật từ Nam Phong tới Bách Khoa. Phải nh́n nhận rằng con người Phạm Quỳnh đă làm được nhiều điều mà cộng chung tất cả những người cộng tác với ông cũng không thể so sánh bằng. Văn học, chính trị, chữ quốc ngữ thời Phạm Quỳnh giống như một cánh đồng với luống cầy vỡ đất. Phạm Quỳnh là người cầy xới mảnh đất đó lên và vun xới chăm sóc. Và kể từ Phạm Quỳnh đến Bách Khoa, số phận văn học đă có những lúc nổi trôi cùng với số phận đất nước để sau cùng có được những điều như ngày hôm nay. Tôi chỉ biết kinh ngạc và cảm phục những nhà văn, nhà báo của thời kỳ Nam Phong cũng như Bách Khoa sau này. Họ đă làm được những điều phi thường, đă đóng góp, xây dựng cho công việc này. Mặc dầu, những bài báo của Phạm Quỳnh c̣n nặng lối văn biền ngẫu, lư luận cũng thiếu sắc bén và cũng ngây ngô về những điều mà bây giờ chỉ là những kiến thức khá sơ đẳng. Nhưng chúng vẫn có giá trị tinh thần của những người đi bước đầu. Khó lắm và cũng gian nan lắm.
2. CON ĐƯỜNG TIẾP NỐI CỦA BÁCH KHOA Mục đích chính của bài viết này là nối kết chặng đường từ Nam Phong tới chặng đường Bách Khoa. Những ǵ Nam Phong chưa làm, Phạm Quỳnh chưa viết, hoặc chưa đủ điều kiện thực hiện, hoặc chưa phải lúc th́ Bách Khoa và các tạp chí văn học khác đă làm được. Sau đây là những hiện thực đấng ghi lại.
- VỀ LĂNH VỰC TIỂU THUYẾT, THI CA Phạm Quỳnh hầu như không để tâm mấy về lĩnh vực này. Trừ cuốn La Poesie Annamite ( Thơ An Nam ) xuất bản 1931. Từ cái thi ca Việt Nam trong La Poésie Annamite này đến thứ thi ca của Nguyên Sa, Quách Thoại, Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư là một cuộc vượt mốc. Chắc là khác xa nhau lắm. Đó là khoảng cách từ trái đất đến mặt trăng. Phần Phạm Quỳnh, ông chỉ viết về những bài du kư như truyện đi dự Đấu xảo ở Paris với Pháp du hành tŕnh nhật kư, Mười ngày ở Huế hay Một tháng ở Nam Kỳ. Riêng Một tháng ở Nam Kỳ xem ra ông chưa thấu đáo về văn học Nam Kỳ mà sau này Nguyễn Văn Trung đă có công sưu tầm và viết cuốn sách: Lục Châu học. Sau này, theo sự tiết lộ của gia đ́nh, Phạm Quỳnh đang viết dang dở một bản văn t́m thấy trên bàn viết sau khi ông bị Việt Minh bắt dẫn đi và được coi như tùy bút với nhan đề: Hoa Đường tùy bút. Thật ra gọi là tùy bút, nhưng đọc nội dung cho thấy đó chỉ là những Meditations (thiền định ), những suy niệm về cuộc đời, về lẽ sống ở đời hay về thế thái nhân t́nh hơn là thứ Tùy Bút theo nghĩa bây giờ. Nó không giống thứ tùy bút của một Nguyễn Tuân, của Mai Thảo, của Vũ Bằng và nhất là tùy bút hay tạp bút của Vơ Phiến. Thật ra, muốn làm giầu và phong phú cho tiếng Việt th́ không thể không viết và đọc truyện, đọc thi ca, đọc tùy bút. Những công việc này không nhất thiết chỉ Bách Khoa đă làm mà hầu hết các tạp chí trong Nam, sau 1955 chú trọng đến phần văn học, nghệ thuật dưới nhiều dạng thơ, văn, truyện, tùy bút. Họ đă bỏ xa cái thời của Phạm Quỳnh. Nhưng thơ văn, truyện, trong Bách Khoa cũng không hẳn là "mặt mạnh" của tờ báo, mặc dầu sau này, có các nhà văn như Phan Văn Tạo và trẻ như Túy Hồng, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Mộng Giác, Thế Uyên v.v... Đặc biệt dưới dạng gọi là Tạp bút và tùy bút th́ có sự đóng góp của Vơ Phiến khá nhiều coi như thành công và xuất sắc của tờ Bách Khoa. Ông có khoảng vài chục tùy bút như: Một ngày để tùy nghi, Cái c̣n lại, Mùa xuân con én, Nhớ làng, Những đám khói... Và Tạp luận như Vui buồn, Nh́n lại 15 năm Văn Nghệ Miền Nam, Đông Tây. Vơ Phiến có cái tỉ mỉ chi li từng sợi tóc, tế vi, nhẹ nhàng, không phấn son kiểu Mai Thảo. Nhưng có những nhận xét góc cạnh và sắc bén trong đó. Hay như Nguyễn Ngu Í, một trong những người viết nhiều cho Bách Khoa với nhiều bài viết, nhất là viết về những nhà văn, nhà báo. Sau này, ông tập trung tất cả những bài trên Bách Khoa in thành sách mang tựa đề Sống Và Viết, khá là sinh động và trung thực. Viết có gói ghém một tấm ḷng, dễ ưa mà đọc ông. Nguyễn Hiến Lê th́ đem ngôn ngữ Việt vào khắp chốn: từ giáo dục đến lịch sử đến văn chương, dịch thuật và cao chót là đến triết học.
- VỀ MẶT BIÊN KHẢO Thời kỳ Nam Phong đă có nhiều người cộng tác như quư ông Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Trọng Thuật, Nguyễn Mạnh Bổng, Nguyễn Tiến Lăng-(con rể Phạm Quỳnh) Nguyễn Bá Trác, Nguyễn Đôn Phục và các nhà văn nhà thơ như Phạm Duy Tốn ( thân phụ nhạc sĩ Phạm Duy), Đông Hồ và Tương Phố. Phạm Duy Tốn với truyện: Sống chết mặc bay nổi bật về tính cách táo bạo và đạt tới hiện thực xă hội. Mặc dầu vậy, tên tuổi Phạm Quỳnh vẫn nổi bật trên tất cả những người cộng tác ở trên về mặt dịch thuật và biên khảo. Theo nhà sử học Tạ Chí Đại Trường, cái vốn liếng ấy, cái vốn liếng học thức hơn người ấy của Phạm Quỳnh chỉ có được với 9 năm Phạm Quỳnh làm việc ở trường Viễn Đông Bác Cổ. Mặc dù đỗ đầu trường Hậu Bổ, năm 1908. Phạm Quỳnh đă không đi theo con đường hoạn lộ. Theo đường đó th́ cụ Phạm Quỳnh sẽ rơi vào cái cảnh "sáng vác ô đi, tối vác về". Hay tệ hơn như cụ viết, lối giáo dục của Tây chỉ đào tạo được các thầy thông, thầy phán ti toe mấy chữ tiếng Tây và "đi làm mướn". Và như lời nhận xét của Đoàn Văn Cầu về Phạm Quỳnh: "Kiến văn quảng bác của tiên sinh được hun đúc phần lớn ở trường Pháp Quốc Viễn Đông Bác Cổ" (Trích Tạ Chí Đại Trường, thế kỷ 21, số 122, tháng sáu 1999, trang 42). Sau này, 15 năm làm báo, Phạm Quỳnh đă dùng cái sở học chín năm của trường VĐBC giúp Phạm Quỳnh đi sâu vào các lănh vực triết học, văn học, văn chương kim cổ. Và rất nhiều người đọc thời ấy đă là học tṛ của Phạm Quỳnh theo nghĩa đọc Nam Phong để có cơ hội mở mang thêm kiến thức. Dĩ nhiên, nếu so sánh với những hiểu biết bây giờ th́ công việc của Phạm Quỳnh chỉ là giới thiệu tổng quát trào lưu tư tưởng Tây Phương như các học thuyết của Rousseau 1712-1778. Montesquieu, 1689-1755. Voltaire 1694-1778. Tôi tự đặt vấn đề là tại sao Phạm Quỳnh lại chọn các nhà tư tưởng như Rousseau, Montesquieu, Voltaire của thế kỷ 18? Có cổ quá không? Phải chăng chỉ v́ những tư tưởng chính trị, xă hội của các nhà tư tưởng này thích ứng được cho xă hội, chính trị Việt Nam lúc bấy giờ? Khảo luận về Rousseau hay Montesquieu là tự ḿnh lùi về hai thế kỷ ở đằng sau? Trong khi đó th́ sau cách mạng 1789, nước Pháp về mặt tư tưởng đă bỏ xa những nền tảng triết lư, chính trị, giáo dục của Rousseau hay Montesquieu rồi. Ngoài ra, ông c̣n giới thiệu tư tưởng Đông Phương như Phật giáo, Khổng giáo v.v... Những tư tưởng đó cả ngàn đời vẫn là thế nên chẳng có thể làm ǵ khác được. Nhưng dù thế nào, đối với thời ấy, phải nh́n nhận rằng, cái mặt mạnh, trổi bật của Phạm Quỳnh và Nam Phong, chính là phạm vi biên khảo học thuật. Nó giới thiệu các tư tưởng học thuật ấy đối với đa số bạn đọc c̣n mù mịt về thế giới Tây Phương. Và coi như là những khám phá mới, những bước khai sáng mở đầu. Nhiều bạn đọc đă hẳn coi tạp chí Nam Phong cũng như cụ Phạm Quỳnh là thày dạy cho cả một thế hệ. Đă có một thế hệ Nam Phong. Thế hệ Phạm Quỳnh. Cũng theo con đường đó, cái mặt mạnh nhất của Bách Khoa sau này là phần biên khảo.
TỜ BÁCH KHOA Những người có công đầu trong tờ Bách Khoa là Huỳnh Văn Lang và Hoàng Minh Tuynh. Nhưng cũng để lọt một tay cộng sản nằm vùng lọt vào Bách Khoa. Tên y là Vũ Hạnh. Nhưng nay là biên khảo về những nhà tư tưởng, triết gia đương thời, thế kỷ 20 mà không phải thế kỷ 18 như trước đây nữa. Cộng thêm là những biên khảo về đủ mọi mặt. Có thể mặt trổi bật và mạnh nhất của Bách Khoa là lănh vực triết học. Thứ triết học đă ảnh hưởng trên phạm vi tư tưởng, văn học một phần lớn thế hệ thanh niên thời ấy.
- NGÀNH TRIẾT HỌC Việc giới thiệu Triết lư hiện sinh hay các thuyết Cơ cấu luận, Hiện tượng luận, tuy là rất mới mẻ đốí với Việt Nam, nhưng cũng đă kể là trễ so với bên Pháp. V́ những triết gia này đă nổi tiếng một thời ngay sau khi thế chiến thứ hai chấm dứt. Trễ gần hai chục năm. Nhưng có sao? Cũ người, nhưng mới ta là được rồi. Lần đầu tiên các danh từ như nôn mửa, phản kháng, tù đầy, hư vô, tự thân, en soi, pour soi, tha nhân, thân phận, hỏa ngục, lưu đày, hữu hạn, vô hạn tràn ngập văn chương tiểu thuyết, nơi cửa miệng thanh niên thiếu nữ. Hai tác giả đóng góp nhiều hơn cả trên Bách Khoa là Nguyễn Văn Trung và Trần Thái Đỉnh. Nguyễn Văn Trung, người viết khỏe, sung sức với 50 bài viết đủ loại và Trần Thái Đỉnh 30 bài. Tất cả những bài viết đó thường liên quan đến những triết gia đại diện hàng đầu nhu J.P Sartre, Heidegger và nhà văn như A. Camus. Cao hơn một chút, có những bài biên khảo về thuyết Hiện tượng luận và Cơ cấu luận. Nhưng để hiểu được nội dung những cơ sở lư thuyết này, chắc người đọc cần kinh qua ngưỡng cửa đại học. Nội dung những bài viết của Nguyễn Văn Trung có tính cách tản mạn triết học như Tự tử, Cần lao, T́nh yêu trong tác phẩm kịch của G. Marcel, Trường hợp F. Sagan hay vấn đề luân lư trong tiểu thuyết, Cái nh́n hay đám cưới với cuộc đời, Chủ nghĩa hiện sinh (Trả lời phỏng vấn của Trần Thái Đỉnh). Nội dung các bài viết của Trần Thái Đỉnh có tính cách trường ốc, sư phạm. Ông đă viết đều đặn liên tiếp mấy chục bài trên Bách Khoa như: Siêu Việt thể của Jaspers từ số 125-126-127. Sartre hay là thuyết Hiện sinh phi lư, số 132. Kierkegaard, ông tổ của triết học hiện sinh chính thức, số 117, 118. Tổng kết về phong trào Hiện sinh, số 135- 136. Những bài viết của Trần Thái Đỉnh đă giúp ích rất nhiều cho bất cứ ai muốn mon men vào lănh vực triết học, hiểu được những nét cơ bản về các triết gia hiện sinh. Công của Trần Thái Đỉnh không phải là nhỏ đối với đa số bạn đọc. Về triết Đông Phương tương đối c̣n mới mẻ trong đại học nên phần đông là sự đóng góp phần dịch thuật hoặc chú giải. Có một số tác giả như Thu Giang Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Đăng Thục, Nguyễn Hiến Lê... Sau này có Ḱm Định viết rất nhiều về Triết Đông với một góc độ nh́n từ Triết Việt với các bộ sách khoảng 30 cuốn như: Cơ cấu Việt Nho, Nhân chủ, Những dị biệt giữa hai nền triết học Đông Tây, Sứ điệp trống Đồng và đặc biệt hai bộ Cửa Khổng và Chữ Thời. (Muốn đọc thêm thêm Kim Định, xin mời vào (dunglac.org)
- VỀ KHOA NGÔN NGỮ Chúng ta không thể ngờ rằng khoa ngôn ngữ học đă khởi xướng rất sớm với Trương Vĩnh Kư (1837-1898). Trước Nam Phong của Phạm Quỳnh cũng vài chục năm. Cho đến bây giờ, tôi vẫn tự hỏi bằng cách nào, Truơng Vĩnh Kư đă trở thành nhà ngôn ngữ học, một nhà bác học của Việt Nam? Ông là người đồng thời với những nhà ngữ học tài danh thế giới như F. de Saussure. Dựa vào sự nghiệp trước tác của ông cho thấy có đến 52 công tŕnh viết của ông về ngôn ngữ, chiếm 43% công tŕnh trước tác của ông. Bẵng đi một khoảng cách gần 100 năm, chúng ta không có những người kế tục Trương Vĩnh Kư. Tờ Nam Phong th́ không ai đá động ǵ đến ngôn ngữ học. Đó là một lỗ thủng văn học về ngôn ngữ học từ Nam Phong, kéo dài qua nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Kể cũng là điều kỳ lạ. Sau này, ở miền Nam, chẳng biết do duyên văn học nào mà có một số không nhỏ các tác giả đi sâu vào lĩnh vực ngữ học. Thoạt đầu có thể là linh mục Lê Văn Lư có bằng tiến sĩ với tác phẩm Le Parler Vietnamien ( Nói tiếng Việt ), thập niên 1940-1950, giáo sư Đại học văn khoa Sài G̣n. Các vị khác nối đuôi theo đều cũng tự học như Trương Vĩnh Kư. Đó là các quư ông Nguyễn Bạt Tụy, Trương Văn Ch́nh, Nguyễn Hiến Lê, Lê Ngọc Trụ và giáo sư Trần Ngọc Ninh, Giáo sư Nguyễn Đ́nh Ḥa, nhà văn B́nh Nguyên Lộc. Không viết cho Bách Khoa, nhưng có công tŕnh khảo cứu về ngữ học phải kể thêm linh mục Nguyễn Hưng, nhất là linh mục Nguyễn Huy Lai ( thuộc Ḍng Tên). Đa số họ viết cho Bách Khoa, rồi ra sách với các công tŕnh nghiên cứu như Khảo luận về ngữ pháp, Ngôn ngữ học Việt Nam, Bàn về tiếng Việt, về chính tả tự vị. Mặc dầu là những đề tài chuyên môn, nhưng chịu khó mầy ṃ th́ cũng có thể hiểu được đôi phần. Nhờ những công tŕnh khảo cứu như thế, có thể coi tờ Bách Khoa như một thứ bách khoa tự điển bỏ túi.
- VỀ LĂNH VỰC SỬ HỌC Đây là môn học lâu đời nhất của Việt Nam. Nhiều bộ sách sử được viết ra kể không hết như: Sử Quốc triều chánh biên toát yếu, Hoàng Lê nhất thống chí, Đại Nam nhất thống chí, Đại Việt sử kư toàn thư, Phủ Biên tạp lục, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam thực lực tiền biên, Gia Định thành thông chí, Đại Nam liệt truyện tiền biên... Có thể nói tắt một lời, sử học là ngành học lâu đời và phong phú với hằng trăm sách nghiên cứu, hằng trăm tác giả đủ loại. Chưa kể cũng đến hằng trăm sách sử mà tác giả phần lớn là người Pháp. Phần sử học viết trong Nam Phong tạp chí cũng không nh́ều. Quá ít nữa, gần như không được ghi chép lại. Nhưng tôi cũng t́m thấy được một số tài liệu trong phần phụ lục, viết bằng Hán Văn. Chẳng hạn viết về Ngọc Hân Công Chúa và qua Quang Trung trong Nam Phong số 103, số 177, số 111, năm 1926. Sau này, ông Tạ Quang Phát đă phê dịch và được đăng trong Tập san Sử địa, số đặc biệt về Quang Trung. Từ những tài liệu sử viết bằng chữ Hán, trong phần phụ trương của Nam Phong đến các sử liệu viết trên Bách Khoa có một khoảng cách lớn cả về số lượng bài vở lẫn số lượng tác giả. Người đầu tiên tôi muốn nhắc tới là Nguyễn Thiệu Lâu, tốt nghiệp sử học ở Pháp, chuyên chú về nhà Tây Sơn. Sau này có những nhà sử học trẻ hơn mà tôi rất quư mến. Đó là truờng hợp Tạ Chí Đại Trường. Ông có tŕnh luận án cao học với đề tài: Lịch sử nội chiến ở Việt Nam, từ 1771 đến 1802. Ông viết rất sắc bén, phân tích kỹ lưỡng. Ông viết chẳng những cho Bách Khoa mà c̣n cho Tập San Sử Địa cũng như tạp chí Đại Học. Đây là mẫu điển h́nh của loại người có chân tài. Xin được liệt kê một số bài của ông như: Vai tṛ của Nguyễn Huệ trong chế độ quân chính, Chiến thắng Nguyễn Huệ trước viện binh Trung Hoa, Dân Đại Việt ở cuối thế kỷ 18, Góp thêm về phổ hệ Tây Sơn và chân dung anh em họ. Ngoài Tạ Chí Đại Trường không thể quên một tên tuổi có vẻ xa lạ đối với độc giả người Việt. Đó là ông Chen Ching Ho, tên Việt là Trần Kinh Ḥa. Tôi không chắc là ông có viết cho Bách Khoa không? Ông viết rất nhiều dựa trên văn bản như: Khảo cứu về danh xưng Giao Chỉ, Làng Minh Hương và phố Thanh Hà thuộc tỉnh Thừa Thiên, Kẻ chợ, Thành tŕ Chí của Trịnh Hoài Đức. Đối với giới sử học miền Nam, chắc hẳn ông là người được kính nể không ít. Tôi cũng nhận ra ở miền Nam, có một xu hướng viết sử trân trọng, cổ súy Quang Trung Nguyễn Huệ trong đó có các tác giả Hoàng Xuân Hăn với La Sơn Phu Tử, Hồ Hữu Tường, Tô Nam Nguyễn Đ́nh Diệm, Tạ Quang Phát, Đặng Phương Chi, Phạm Văn Sơn... Và sau này, tôi cũng thấy xu hướng viết về Tây Sơn tương tự như vậy ở miền Bắc. Thứ đến, tôi có cảm tưởng môn sử học là nơi ra vào của bất cứ ai, không cứ là nhà sử học. V́ thế có thể thấy tên những tác giả như Nguyễn Đăng Thục, Vương Hồng Sển, Hoa Bằng, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Khắc Kham, Lê Ngọc Trụ, Phan Văn Luận, Bửu Cầm, B́nh Nguyên Lộc, Sơn Nam và ngay cả thi sĩ Quách Tấn, Đông Hồ. Nhân tiện đây, chúng tôi xin được một lần nêu danh tính tất cả các tác giả đă một thời đóng góp cho ngành sử học ở Việt Nam, kể từ sau 1955, bất kể là họ đă viết cho Bách Khoa hay không? Có thể tên tuổi họ c̣n thiếu sót. Đó là Tạ Chí Đại Truờng, Hoàng Xuân Hăn, Nguyễn Thế Anh, Bửu Cầm, Phan Khoang, Lâm Thanh Liêm, Phạm Văn Sơn, Thái Việt Điểu, Phạm Cao Dương, Trần Anh Tuấn, Quách Thanh Tâm, Nguyễn Khắc Ngữ, Đặng Phương Nghi, Lạp trúc Nguyễn Huy, Phạm Long Điền, Trần Quốc Giám, Lê Thọ Xuân, Tô Nam, Lê Văn Ngôn, Bửu Kế, Nguyễn Văn Dương, Linh mục Nguyễn Phương, Nguyễn Khắc Xuyên, Mai Chưởng Đức, Nguyễn Sao Mai, Chen Chin Ho hay Trần Kinh Ḥa, Hồ Hữu Tường, Nghiêm Thẩm, Ưng Tŕnh, Phạm Văn Diêu, Nguyễn Như Lân, Tiên Đàm Nguyễn Tường Phượng, Nguyễn Như Lân, Thích Thiện Ân, Nguyễn Khắc Kham, Tạ Trọng Hiệp, Nguyễn Trần Huân, Lê Văn Hảo, Lê Hữu Mục, Tô Nam, Trần Nhân Thâm, Nhất Thanh, Lê Hương, Hăn Nguyên, Đào Duy Anh, Ưng Tŕnh, Lê Thọ Xuân, Nguyễn Nhă, Nguyễn Văn Hầu, Phù Lang Trương Bá Phát, Nguyễn Bá Thế, Lưu Hải Nam, Trần Trọng Kim, Lăng Hồ, Lê Thanh Cảnh, Lê Thành Khôi, Trương Bá Cần. Và có thể c̣n nhiều tác giả khác mà chúng tôi đă thiếu sót không ghi chép đủ. Một phần dựa vào Tập san Sử Địa. Cũng do khoảng cách chính trị, chúng tôi thực sự không được biết nhiều đến các người viết sử miền Bắc. Sự liệt kê danh sách nhiều người viết sử như thế chứng tỏ rằng thời kỳ Nam Phong tạp chí đă bị bỏ qua rất xa đến không ngờ được.
- VỀ LUẬT PHÁP Đây cũng là ngành khá mới mẻ mà thời kỳ báo Nam Phong hầu như không có một ai có sách vở, tài liệu nghiên cứu. Xin được vắn tắt một vài vị như quư ông Trần Thúc Linh và đặc biệt là quư ông Lê Tài Triển và Nguyễn Toại. H́nh như ngoài đời, chức vụ của họ đều là thẩm phán cả. Riêng ông Lê Tài Triển là người mà tôi nhớ nhiều nhất với bài viết về vụ án cầu Rạch Hào liên quan đến vụ tai nạn lật xe chết người trên đường Sài G̣n đi Vũng Tầu, liên quan đến con gái của ông triệu phú Nguyễn Đ́nh Quát. Ông c̣n viết các bài như: Cá nhân đứng trước pháp luật, Nạn nhân với tố quyền của nạn nhân.
3. TỔNG KẾT BÀI THAM LUẬN TỪ NAM PHONG TỚI BÁCH KHOA Con đường học thuật chẳng khác ǵ con đường Nam tiến. Từng bước, từng chặng đường lịch sử mà chúng ta đă đi qua. Nó đánh dấu những thăng trầm, những ngưng đọng cũng như những tiến bộ không ngừng. Công khó là của nhiều người. Nếu thời kỳ báo Nam Phong, xin mượn lời Thanh Lăng: ca tụng Nam Phong tạp chí là một bộ Bách Khoa tự điển, kết hợp được tất cả tư tưởng mọi ngành từ khoa học đến văn chương và là tờ văn học có ảnh hưởng lớn nhất từ trước đến nay. Và rồi c̣n quy tụ được tất cả những nhà văn hóa thời danh của đầu thế kỷ XX mà người đứng đầu là Phạm Quỳnh. Tất cả những mỹ từ ấy chỉ cần chuyển hai chữ Nam Phong thành Bách Khoa th́ đều đúng cả. V́ thế, con đường từ Nam Phong đến Bách Khoa là con đường thẳng, một chiều. Cái ǵ ở Nam Phong không có th́ Bách Khoa có hết, mà có hơn bội phần, có dồi dào và phong phú. Chỉ có vấn đề danh xưng là khi nói đến Nam Phong, người ta liên hệ trực tiếp ngay tới Phạm Quỳnh. Điều đó trở thành lúng túng và dè dặt hơn trong trường hợp của tờ Bách Khoa. Nhưng dù là một người hay nhiều người th́ Bách Khoa vẫn là một thứ Bách khoa toàn thư cho bất cứ ai muốn mưu cầu mở mang kiến thức. Bách Khoa là một bộ sách dạy cho bất cứ ai khi rời khỏi ghế nhà trường. Nó là sự kéo dài từ trường học ra đến trường đời. Nó là thứ trường học liên tục, cập nhật và bổ túc cho những ǵ c̣n chưa đủ của truờng học. Cái ǵ chưa học ở nhà truờng th́ học ở đây. Một người anh của tôi thú nhận rằng: ngoài vốn liếng chuyên môn dành cho một y sĩ mà ông học ở trường Y khoa, hầu như tất cả vốn liếng kiến thức đủ thứ c̣n lại, ông đều nợ tờ Bách Khoa cả. Một thú nhận khiêm tốn mà không thiếu phần hănh diện. Điều đó nói lên rằng, tờ Bách Khoa đă thực sự đóng góp cho nhu cầu văn hóa, học thuật cho tất cả tầng lớp thanh niên trí thức miền Nam như một hành trang giúp họ vào đời. Miền Bắc đă không có được điều đó. Cho nên sẽ không lấy ǵ làm lạ về sự tồn tại, có mặt lâu dài như thế của tờ Bách Khoa. Bởi v́ hơn bất cứ tờ báo nào, nó đáp ứng đầy đủ cho nhu cầu hiểu biết của một người. Một điều nữa cần hiểu rằng sách vở chuyên ngành, sách vở khảo cứu của chúng ta chưa có đầy đủ, người viết cũng không có. Báo chí như Bách Khoa thay thế vai tṛ của sách vở, giải quyết tạm thời sự thiếu thốn ấy. V́ thế, vai tṛ báo chí trong sự mở mang học thuật, kiến thức là điều cần thiết, cấp bách không có không được. Hiểu được như thế mới thấy vai tṛ của Nam Phong cũng như Bách Khoa quan trọng như thế nào. Con đường học thuật đi từ Nam Phong đến con đường của Bách Khoa là con đường Nam tiến mà chúng ta nên hănh diện.
NGUYỄN VĂN LỤC
|