Quỳnh
Chi - Thân Trọng Thủy - Đặng Lệ Khánh - Thanh Nhã ...
Nghe nói đến chuồn chuồn thì nhớ thuở còn thơ,
ở vườn nhà vẫn thấy chuồn chuồn bay đậu trên các cây cối quanh vườn. Tò mò, vào internet, và ngạc nhiên thay, thấy ảnh chuồn chuồn
nhiều vô kể, và đẹp lộng lẫy, nên mạn phép các tác giả, đưa vào đây
cho mọi người ngắm mà trầm trồ.
Ai đem mùa thu đi đâu
Con chuồn chuồn đỏ đã lâu không về
Cành lau mãi đợi trên đê
Mây trời theo gió trôi đi lặng buồn
Quỳnh Chi ( 10/10/2010)
~~~oOo~~~
Thu buồn
Ai đem mùa thu về đây
Còn đâu xuân thắm ươm đầy mộng mơ
Nồng nàn nắng hạ chan hòa
Tháng ngày rong ruổi đường xa còn dài
Sao thu ngắn ngủi dường này
Mặt trời mới đó vội quay đi rồi
Hơi thu mỏng tóc thu gầy
Mây thu lặng lẽ buồn trôi trong chiều
Quỳnh Chi ( 10/10/2010)
Tuy trời đã sang thu nhưng dạo
này QC không thấy một con chuồn chuồn đỏ nào cả.
Ở các vùng ôn đới -như Nhật Bản -người
ta nói rằng chuồn chuồn thường gửi trứng trong các cánh đồng nước
vào mùa đông, sang xuân sẽ trưởng thành , rồi bay lên núi trong mùa
hè, tới cuối hè hay đầu thu mới về lại đồng bằng.
Hôm qua QC mới biết tại sao mà lúc này ở
đây vắng bóng chuồn chuồn đỏ.
Đó là, theo một khảo sát (bằng cách đếm
số chuồn chuồn đỏ xuất hiện trên chặng đường dài 1km ở miền quê)
thì chuồn chuồn đỏ quả thực đã giảm đi rất nhiều:
-1970's: có khoảng 380 con
- 1990: khoảng 280 con
...
-2007: 3 con
-2008: 0 con
-2009: 1 con
Nguyên nhân:
-Do khí hậu thay đổi nên giống chuồn chuồn to
lớn hơn từ các vùng nhiệt đới( giống này thường thấy ở Việt
Nam, bụng có vằn màu vàng và màu đen ) bay tới đã làm tuyệt
chủng dần giống chuồn chuồn đỏ .
-Các lý do khác là do dùng thuốc trừ sâu,
và vì ruộng nước trồng lúa đã giảm đi nhiều (do chính sách giảm trồng
lúa để trồng các loại ngũ cốc khác trong ruộng khô-) nên chuồn
chuồn không có chỗ gửi trứng.
Mùa thu ở Nhật mà không có chuồn chuồn đỏ
thì người Nhật cảm thấy kém thi vị, nên người ta đang tìm cách bảo
vệ giống chuồn chuồn này...
............
Ngoài ra, về chuyện người Nhật thích hoa văn con chuồn
chuồn, thì yếu tố yêu thiên nhiên của người Nhật có lẽ mới là
nguyên nhân lớn nhất.
Hôm nay nhân thể, QC cũng có hỏi lại các bạn Nhật (là các giáo
sư dậy các môn quốc văn và lịch sử Nhật Bản ), thì họ cũng đồng ý
như vậy.
Một năm có 4 mùa xuân hạ thu đông, thì mùa nào thức ấy, người
Nhật đều yêu thích những thảo mộc, động vật ( thường là tôm cá)
và côn trùng trong mùa ấy.
Ví dụ :
mùa xuân có từng đàn nòng nọc sẽ nở ra ếch hay nhái bén dưới
ruộng,
tháng năm có cá chép..vượt vũ môn,
mùa mưa tháng sáu có ốc bươu dưới ruộng, có ốc sên bám vào chiếc
lá trong vườn,
tháng bảy có đom đóm trong vườn, có cá ngừ ngoài biển,
mùa hè có lươn, cá ayu( ở sông hồ), cá vàng, cá thia lia, có ve
mùa thu có cá sanma, ốc kaki, có chuồn chuồn,
mùa đông là mùa ..của những con cáo trắng hay gấu trắng xứ
tuyết. Các loại côn trùng đều ngủ vùi. Ngày xưa đây cũng là
khoảng thời gian người Nhật ( không đánh bắt được cá tươi ) phải ăn
cá muối, mà phần lớn là cá hồi, nên mùa đông cũng được cho là
mùa cá hồi ..
Trên đây là một số những động vật & côn trùng tiêu biểu cho các
mùa ở Nhật. Trên các tấm bưu thiếp, người ta thường hay vẽ hoa
văn hình các loại động vật và côn trùng này ( hoặc thảo mộc ),
chỉ nhìn hình vẽ là sẽ biết đó là bưu thiếp dùng cho mùa nào.
Vì vậy mùa này ở ngoài hiệu sách và bút chỉ văn phòng cũng có
rất nhiều bưu thiếp có vẽ hình chuồn chuồn đỏ (bầy bên cạnh cách
bưu thiếp có hình lá phong đỏ, lá bạch quả vàng, hạt dẻ, quả
hồng, hoa cúc, mây thu, trăng thu...là những hình ảnh trong
thiên nhiên tiêu biểu cho mùa thu ) ...
...........
...
quả là sách Cổ sự ký và Nhật Bản thư ký có ghi chép điển tích như bài "Quần đảo
chuồn chuồn" đã trích dẫn.
Về chuồn chuồn đỏ mùa thu ở
Nhật, QC xin giới thiệu một bài hát tựa đề "Con chuồn chuồn đỏ" đã được
chọn là 1 trong 100 bài đồng dao hay nhất của Nhật Bản.
Đây là một bài thơ sáng tác
vào năm 1921 của Miki Roufu ( 1889-1964) một thi sĩ, nhà văn và là người viết đồng
dao. Miki viết bài Con chuồn chuồn đỏ này diễn tả một buổi chiều thu xưa
ở quê nhà, trong ráng chiều đỏ ối, bên cánh đồng có chuồn chuồn đỏ.
Bài thơ sau đó được nhạc sĩ Yamada
Kousaku ( 1886-1965) phổ nhạc vào năm 1927 :
TB : Đây là một bức tranh minh họa
bài hát Con chuồn chuồn đỏ
QC
~~~oOo~~~
Chuồn chuồn đỏ hay
chuồn chuồn ớt, lúc còn nhỏ có lẽ ai trong chúng ta cũng đã
từng bắt ít nhất là một con, cho nó cắn lỗ rốn, tin rằng làm
thế sẽ biết bơi. Lớn lên mình không để ý đến chúng nữa nên
tưởng là tuyệt chủng chăng?
Hình như có ai đó
nói rằng Nhật Bản là quê hương của chuồn chuồn, chắc vì vậy
mà ở Saigon, Hanoi và một vài nơi khác người ta đều đặt tên
quán ăn Nhật Bản là Quán
Chuồn chuồn đỏ.
Chuồn chuồn màu đỏ thì gọi là chuồn
chuồn ớt.
Chuồn chuồn thân hình nhỏ như cây kim
thì gọi là chuồn chuồn kim.
Tôi thích bài "Viết cho chuồn chuồn
kim" của Lê Thị Kim :
....Tôi đi mà như đậu
Tôi bay mà như đi
Con chuồn kim bờ giậu
Trong tình tôi thầm thì
Những người xa khuất nẻo
Nghìn chân trời trong tay
Làm sao mà nhìn thấy
Một con chuồn kim bay...
(Lê Thị Kim
/ Đóa quỳ hư ảo)
Xin chuyển bài viết sau đây - tôi nhặt trên mạng, không biết
của ai ...
TTT
~~~oOo~~~
Thanh Nhã
CHUỒN CHUỒN
( Bài của Tom thương yêu )
Đã quên thú bắt chuồn chuồn
Bẵng trong ký ức nỗi buồn mênh mang .
Chuồn chuồn đôi cánh mỏng manh
Chở theo nỗi nhớ bay nhanh cuối trời.
Con xa đã mấy hôm rồi
Cỏ may còn đọng dấu giày trẻ thơ
Bàn tay bé nhỏ lơ ngơ
Chuồn chuồn bay mất, chẳng chờ tay con.
Long lanh mấy giọt nắng tròn
Như là ánh mắt con còn dõi theo.
Vẳng nghe trong tiếng gió reo
Vu vơ lời bố hát theo cợt đùa:
“ Chuồn chuồn có cánh thì bay
Có thằng “ Tom nhỏ “ dang tay bắt chuồn…”
Thỉnh thoảng
đưa bạn đi Bát Tràng chơi, thấy mấy cái bát đĩa hoa lá cành nhà mình đẹp,
tán lấy tán để thế mà đa số lại chỉ thích hình họa tiết hoa văn hình con
chuồn chuồn đậu màu đỏ trên bát đĩa. Không hiểu sao người Nhật Bản lại
thích chuồn chuồn?
Nguồn : NIPONIA
Người ta cho
rằng người Nhật Bản là những người yêu thích côn trùng nhất trên thế
giới. Những con côn trùng mà họ yêu thích là chuồn chuồn, đom đóm và
những loại côn trùng kêu vang vào mùa thu. Có khoảng 190 loài chuồn
chuồn ở Nhật Bản và số lượng mỗi loại rất nhiều. Sở dĩ ở Nhật Bản có
nhiều chuồn chuồn như vậy là do ở giai đoạn ấu trùng, chuồn chuồn sống ở
dưới nước mà Nhật Bản lai có nhiều nước trên các cánh đồng lúa, sông
suối nông, thuận lợi cho loài côn trùng này sinh sôi.
Bằng chứng đầu
tiên cho thấy sự xuất hiện phổ biến của loài côn trùng này tại Nhật Bản
là hình ảnh chuồn chuồn trên những chiếc chuông Dotaku. Chuông này
thường được dùng trong các nghi lễ được làm từ cuối thời Yayoi, từ thế kỉ
thứ 2 trước công nguyên cho đến thế kỉ thứ 3 sau công nguyên. Chuông làm
bằng đồng và được trang trí họa tiết là những con chuồn chuồn, bọ gậy
và nhện. Người Nhật Bản cho đây là những loại côn trùng có ích đối với
con người bởi chúng ăn các loại côn trùng phá lúa khác. Các nhà sử học
thì cho rằng những bức tranh về côn trùng tượng trưng cho lời cầu nguyện
cho một vụ mùa bội thu.
Trong cuốn
biên niên sử Nhật Bản biên soạn năm 720, một cuốn sử về Nhật Bản cổ đại,
có đề cập đến một loài côn trùng rất đặc biệt : Đó là chuồn chuồn, thời
đó gọi là Akitsu. Biên niên sử cho biết, vị hoàng đế đầu tiên, Jimmu
Tenno, leo lên một ngọn núi nhỏ ở Yamato ( Tỉnh Nara ngày nay ) nhìn
xuống vùng đất mà ông cai trị và nói : “ Hình dạng đất nước chúng ta
giống như 2 con chuồn chuồn đang giao phối với nhau.”
Biên niên sử
cũng kể rằng, vị hoàng đế thứ 21 Yuryaku Tenno, đang đi săn trên một
cánh đồng rộng ở Yoshino thì có một con mòng bay đến đậu trên cánh tay
ông và đốt. Ngay lúc đó, có một con chuồn chuồn nhào xuống tay ông và
bắt con mòng đi. Vị hoàng đế sau đó đã đặt cho vùng đất đó là Akitsu-no
(Cánh đồng chuồn chuồn). Biên niên sử cho biết những sự kiện này đã đưa
tới việc Nhật Bản có cái tên cổ là: Akitsu Shima- Quần đảo chuồn chuồn.
Người Nhật xem chuồn chuồn như là loài côn trùng của sự chiến thắng như
là những Kachi mushi ( Côn trùng chiến thắng ), mang đến sự may mắn.
Chính vì thế mà trên mũ của những võ sĩ, nón của binh lính, biểu tượng
của dòng họ và những vật dụng khác đều được trang tri bằng một con chuồn
chuồn.
Một bộ sưu tập những bài hát được truyền lại từ
cuối thế kỉ 11 có một bài hát nói về cách bắt chuồn chuồn và trẻ em Nhật
Bản cũng đã bắt chuồn chuồn từ nhiều thế kỉ qua. Các em quan sát chúng
kĩ lưỡng, khám phá ra thói quen của chúng, và nghĩ cách để bắt chúng.
Một cách bắt được nêu ra trong cuốn bách khoa
bằng hình đầu tiên của Nhật Bản, do Terajima Ryoan hiệu đính vào đầu
những năm 1700 và đặt tên là Wakan Sansai Zue. Bức tranh cho thấy một
con chuồn chuồn cái bị cột vào một cây sào ngắn bằng sợi dây. Trẻ em
đang dùng nó để nhử bắt những con chuồn chuồn đực.
Một cách bắt khác gọi là Hikkake - dori . Dùng
vải bọc những viên cuội, rồi buộc chúng vào hai đầu sợi dây dài khoảng
60cm . Ném sợi dây này vào một con Gin -yamma, nó tưởng là mồi và bay
lại, vướng vào sợi dây và rớt xuống đất. Và thế là các chú bé có thể
tóm chúng dễ dàng.
Gin-yamma là những con chuồn chuồn lớn khác ngày
nay không còn nhiều, một phần là do môi trường xấu đi. Nên chúng ta
cũng không thường thấy cảnh trẻ em bắt chuồn chuồn nữa. Chúng ta chỉ có
thể hi vọng rằng những cách bắt truyền thống phát triển sau khi đã quan
sát hành vi tự nhiên của chúng, sẽ sống mãi cho đến những thế hệ tương
lai.
Cho đến tận bây giờ người Nhật Bản vẫn thích hát
bài hát : Aka tombo - con chuồn chuồn đỏ được sáng tác vào năm 1921. Ngày
nay, rất nhiều cộng đồng ao đã được đào thêm dành cho chuồn chuồn trong
nỗ lực bảo vệ thiên nhiên và bảo vệ loài động vật này. Văn hóa chuồn
chuồn độc nhất vô nhị của Nhật Bản hi vọng sẽ sống mãi cho đến nhiều thế
kỷ sau.
Written by Konishi Masayasu, entomologist
Photo by Moriue Nobuo
A red dragonfly resting its wings.
Dragonflies are a common and welcome sight in rice fields
and other places from summer to autumn.
It is said that Japanese people are
the world's most ardent insect fans. The ones they like best
are dragonflies, fireflies, and insects that chirp in the
fall. At the larva stage, dragonflies live in water, and
Japan has plenty of water in rice fields, rivers and streams
for them to develop. There are about 190 dragonfly species
in Japan, and the number of dragonflies overall is also
impressive. Since ancient times, the Japanese have enjoyed
observing dragonflies, as history shows.
The earliest proof of this would be
pictures on ceremonial dotaku bells made from the
middle to the end of the Yayoi period (around the second
century BC to the third century AD). The bells, made of
bronze, could be suspended, and some were decorated with
primitive pictures of dragonflies, along with praying
mantises and spiders—all insects good for humans because
they prey on insects that eat rice plants. Historians
believe that the insect pictures represent prayers for a
good harvest.
The Nihon Shoki (Chronicle
of Japan, compiled 720 AD) is a history of ancient
Japan. It mentions dragonflies, which were called akitsu
in those days. The Chronicle says that the first
emperor, Jimmu Tenno, climbed a small mountain in Yamato
(present-day Nara Prefecture), gazed down on the land he
ruled, and said, "The shape of my country is like two
akitsu mating."
The Chronicle also describes
an incident when the 21st emperor, Yuryaku Tenno, was
hunting in an open plain in Yoshino (southern Nara
Prefecture today). A horsefly landed on his arm and stung
him. Just then, a dragonfly swooped down and took off with
the horsefly. The emperor was so satisfied with this that he
named the area Akitsu-no (Dragonfly Plain). The
Chronicle says that these events gave Japan its old
name, Akitsu Shima (The Dragonfly Isles).
Dragonflies were thought of as
kachi-mushi (victor insects) which bring good luck,
perhaps partly because of the horsefly story. Samurai
helmets, soldiers' hats, family crests and other items were
decorated with a lucky dragonfly design.
A collection of songs passed down from
the late 1100s has one about how to trap dragonflies, and
Japanese children have been catching them for centuries.
Youngsters would observe them carefully, discover their
habits, and invent ways to capture them. One way is shown in
Japan's first illustrated encyclopedia, edited in the early
1700s by Terajima Ryoan and called Wakan Sansai Zue
(Japanese-Chinese Illustrated Collection of the Three
Components of the Universe). The picture shows a female
dragonfly tied by a string to a short pole. Children are
using it to attract and catch a male. Until recently this
otori-dori trapping method was popular, using a
silver gin-yamma or some other large dragonfly.
Another way to trap them is called
hikkake-dori. Small stones are wrapped in pieces of
cloth, which are tied to the two ends of a string measuring
about 60 cm in length. The device is thrown at a gin-yamma,
which thinks it is something to eat and flies at it, only to
get entangled in the string and fall to earth, easy prey for
kids.
Gin-yamma and other large
dragonflies are not seen as much these days, partly because
of environmental degradation. So we do not see children
chasing dragonflies much any more, either. We can only hope
that the traditional ways to catch them, developed after
observing their natural behavior, will live on for future
generations.
We still sing a children's song,
Aka-tombo (Red Dragonflies), which was written
in 1921. Many communities have dug dragonfly ponds as part
of the current movement to protect nature. Japan's unique
"dragonfly culture" will hopefully live on for centuries to
come.