|
CHƯƠNG DẪN NHẬP
VÀI MẨU CHUYỆN RỜI MỘT.
Nhà thơ Hà Thượng Nhân trong bài tựa cho tập thơ Tiếng Hờn Chiến Mă của tôi, ông viết: “... Mỗi con người, nhất là những người cầm bút đều có ít nhiều kỷ niệm đáng trân trọng. Viết chính là để “trang trải nỗi ḷng”. Con người vốn là một con vật xă hội. Chúng ta ai cũng cần bạn bè, cần chia sẻ nỗi ước mong, biến cái khoảnh khắc hết sức phù du và hữu hạn là cuộc đời thành một cái ǵ trường cửu. “Thơ đối với Song Nhị, như một cái nghiệp. Mười chín, hai mươi tuổi đă làm thơ. Từ đó cho đến bây giờ, do một sự ngẫu nhiên lạ lùng, dù ở học đường, dù trong quân ngũ, ở đâu công việc của Song Nhị cũng gắn liền với báo chí, văn chương...” *** Năm mươi năm sau, kể từ ngày tôi thực sự dính dáng vào nghiệp viết lách, nh́n lại, quả đúng như tiền bối Hà Thượng Nhân đă nói. Như một nghiệp dĩ, năm 1965, tại giảng đường Đại học Vạn Hạnh, tôi được đề cử làm Trưởng Ban Báo chí Tổng Hội Sinh Viên. Mấy tháng sau tôi được giao Chủ biên đặc san Xuân Văn Khoa Vạn Hạnh với sự góp mặt của Sinh viên và các giáo sư của trường. Năm 1966, tôi được đề cử làm Chủ bút Bán nguyệt san Hướng Đi SV Vạn Hạnh. Tiếp đến, năm 1968 làm chủ bút đặc san Máu Lửa. Năm 1969 vào quân trường tôi được mời vào Ban Báo Chí/ Biên tập viên Nguyệt san Bộ Binh. Ra trường, biệt phái về cơ quan dân sự, tôi đang làm việc tại Sở TB Quốc Ngoại, hơn nửa năm sau được điều về Sở An Ninh Nội Chính để chuẩn bị công việc ấn hành một tờ nhật báo của chính quyền - nhật báo Quật Cường. Định mệnh đẩy đưa từng bước như thế, tôi chẳng bao giờ nghĩ đến, hay có dự tính. Trước ngày khởi sự công tác cho tờ báo này, chúng tôi có một buổi họp mặt trong một bữa cơm trưa tại nhà khách cơ quan, do Thiếu Tướng Nguyễn Khắc B́nh khoản đăi. Thực khách gồm một số nhân sự trong cơ quan và các kư giả nhóm “Nồi Niêu Soong Chảo” (*) gồm Anh Quân, Trịnh Viết Thành và Hoàng An. Trong bữa cơm, tướng B́nh nói rơ mục đích “bữa cơm thân mật” và chỉ thị “nhờ cậy” chúng tôi đảm trách một tờ nhật báo. Tướng B́nh cho biết, tờ báo được ấn hành dưới h́nh thức báo tư nhân, vốn do cổ đông đóng góp, có sự hỗ trợ tài chánh của Phủ Tổng Thống. Giám đốc Trị Sự là chủ nhân nhà thuốc tây Vườn Xoài (đường Trương Minh Giảng/ Lê Văn Sỹ), không là một giới chức dân chính hay quân đội. Việc đặt tên cho tờ báo, có nhiều tên được đề nghị, Tướng B́nh chọn Quật Cường, và chắc là vị tướng có đệ tŕnh, thỉnh ư Tổng thống. Tôi được cắt cử làm việc với kư giả Anh Quân tại một pḥng, thuê trên tầng lầu thứ tư khách sạn Mỹ Lệ (đường Gia Long, nay là Lư Tự Trọng, Saigon). Trong hai tháng, hai người chúng tôi phải hoàn tất manchette tờ báo, tŕnh bày h́nh thức và các tiết mục trên trang nhất. Chọn lọc và phân bố các tiết mục cho 23 trang trong (số ra mắt có 24 trang). Phần chính của manchette, quan trọng ở kiểu chữ và màu của tên tờ báo, phải mướn họa sĩ vẽ. Bản vẽ và bản kẽm hoàn tất, tŕnh thượng cấp, được chấp nhận. Ṭa soạn đă có một bộ phận thuê mướn và thiết trí pḥng ốc làm việc cho ban biên tập, cũng trên đường Gia Long, gần ngă Sáu SG. Tôi cùng vài ba viên chức cơ quan được cử ra làm việc tại ṭa soạn cùng với các kư giả Anh Quân, Trịnh Viết Thành, Hoàng An và phóng viên Đường Thiên Lư (bên nhật báo Chính Luận). Hai tháng sau, tôi được điều về cơ quan nhận Chủ Sự pḥng Báo Chí, thay thế Trung tá Châu Quan Sỹ. Ông Sỹ thuyên chuyển đi đâu tôi không rơ. Nghe nói ông có bà con với bà Thiệu. Trước khi rời pḥng Báo Chí, ông được truy tặng một Chương Mỹ Bội Tinh của Tổng Thống. Cuối tháng 3-75, tôi và Nguyễn Việt Chước, anh bạn cùng khóa Sĩ Quan Thủ Đức biệt phái về Phủ, nhận Nghị định thăng cấp Chánh Sự Vụ, theo ngạch hành chánh, thay v́ lên Đại úy, phải do Tổng Thống kư, phải chờ đợi và khó khăn. Trước đó Bộ Tổng Tham Mưu đă có thông tư quy định những sĩ quan biệt phái về hành chánh phải dừng lại ở cấp bậc Trung úy. Nghị định thăng cấp này (và riêng tôi cũng có một Chương Mỹ Bội Tinh) sẽ công bố vào ngày 5 -5 - 75, ngày thành lập Phủ Đặc Ủy, nhưng vào ngày đó tất cả chúng tôi thay v́ nhận nghị định thăng thưởng th́ phải đến tŕnh diện Việt Cộng. Trở lại chuyện về lại cơ quan nhận coi pḥng Báo Chí, tôi thật sự không bằng ḷng, không vui, khi phải rời ṭa soạn. Ông Giám đốc biết ư, ông kêu tôi ra hành lang tầng Một của Phủ, ông quàng vai tôi, nói lời khuyến dụ nhẹ nhàng: “chúng tôi biết các anh đă chọn nghề dạy học, nhưng nhu cầu cấp trên đang cần các anh. Các sếp cần các anh làm việc. Anh nào muốn đi dạy có thể lấy giờ dạy thêm”. Sở dĩ ông Giám đốc đưa ra việc dạy học của chúng tôi, v́ ngay những tuần lễ đầu biệt phái về cơ quan, chúng tôi có ba người là giáo chức, Nguyễn Việt Chước, Phạm Hữu Đàm và tôi, đă yêu cầu được trả về Bộ Giáo Dục. Cảm kích trước lời nói và cử chỉ của ông Giám đốc, có quyền hành thực sự như một Thứ trưởng An ninh, tôi vui vẻ về pḥng làm việc. Tôi nói, “có quyền hành thực sự như một Thứ trưởng An ninh”, v́ là một Trưởng Ban như các Trưởng ban khác, nhưng chỉ ông Trưởng Ban A10 có tài xế, xe riêng, có một Trung úy Cảnh sát thường phục, một Trung sĩ Biệt Động quân là body guard, xe Jeep và xe Honda moto hộ tống khi đi công tác vào ban đêm. Có những lần mười một, mười hai giờ đêm, ông phone về cơ quan bảo tôi gọi về nhà ông cho bà vợ ông biết, “Ông đi công tác, đêm nay về trễ”. Một dạo có tin ông sẽ sang Bộ Nội Vụ làm Thứ trưởng và có người xầm x́ nói, tôi sẽ là chánh văn pḥng của ông. Đó chỉ là tin hành lang. Có những việc tưởng như thật nhưng... “nghe qua rồi bỏ”. Một lần, vào khoảng sau 11 giờ đêm, ông Trưởng ban cho tùy phái đến nhà gơ cửa, gọi tôi vào gặp ông. Đến nơi ông hỏi tôi –Trước đây anh ở Lào mấy năm? Anh nói được tiếng Lào phải không? Nếu anh sang Lào công tác dài hạn có ǵ trở ngại không? Ông c̣n nói thêm: Anh mới cưới vợ, chắc xa nhà cũng nhớ? Nhưng mỗi năm được về phép một hai lần, mỗi lần hai tuần lễ. Tôi chợt bất ngờ, hơi bối rối. Điều tôi nghĩ đến đầu tiên là phải bỏ ngang mấy lớp tôi đang dạy ở Phan Sào Nam. Nhưng tôi đáp mà không suy nghĩ: “Chắc không có ǵ trở ngại. Tôi hỏi ư nhà tôi rồi sẽ trả lời”. Câu chuyện chỉ bằng ấy, nhưng phải vào cơ quan tŕnh diện lúc nửa đêm. Tôi tưởng như sắp sửa thu xếp hành lư đến nơi, nhưng một tuần rồi hai tuần, một tháng rồi hai tháng trôi qua trong “im lặng dễ sợ”. Sau đó có tin anh Lê Quang Pháp ở nha TB Quốc Ngoại đă “trúng tuyển”. Tôi thật sự lấy làm vui v́ được ở nhà và tiếp tục đến với các lớp học tôi đang phụ trách. Chúng tôi đi dạy học là do “khẩu lệnh” cho phép của ông Trưởng Ban. Hơn một tháng, sau khi được gợi ư, tôi đến trường Trung học Phan Sào Nam, nơi tôi đă dạy học ở đó từ niên khóa 1966 - 1967, gặp ông Giám Học và được nhà trường chia cho thời khóa biểu dạy 10 giờ mỗi tháng. Về sau số giờ tôi phụ trách tăng lên gấp hai lần. Tôi tiếp tục “nghiệp dư” này cho tới tháng 4-75. Nguyễn Việt Chước về dạy ở Trung học Lê Bảo Tịnh, Phạm hữu Đàm về dạy trường Anh ngữ Nguyễn Ngọc Linh. Sở dĩ chúng tôi được phép và yên tâm đi dạy học, v́ giờ làm việc của chúng tôi không cố định trong 8 giờ hành chánh. Có những ngày tan sở, tôi được lệnh ”ở lại có việc”. Có khi ra quán Bà Cả Đọi, trên đại lộ Nguyễn Huệ ăn cơm, rồi trở vào làm việc đến mười hai giờ đêm, một giờ sáng. Những lần có “biến”, tôi được chỉ thị ở lại suốt đêm (như lần bắt DB Nguyễn Tấn Đời, lần bắt ông Nguyễn Văn Ngân, Phụ tá Tổng Thống hay lần bắt Huỳnh Văn Trọng v.v.). Năm 1973, sau hiệp định Paris, phái đoàn Quốc Hội Mỹ đến Sài G̣n thẩm định t́nh h́nh để... cúp 300 triệu Mỹ kim viện trợ, tôi phải thường trực 24 giờ nhiều đêm. Những giờ “over time” này không được trả lương phụ trội.
*** Trước khi rời ṭa soạn tôi đă nhận phụ trách mục THƠ và mục Chuyện Phiếm. Sau đó tờ báo mở thêm trang Dịch Thuật, Văn Hóa Xă Hội, thù lao 100 ngàn cho trang báo, mỗi người 25 ngàn, trong khi lương Trung úy với phụ cấp chức vụ, phụ cấp đắt đỏ tôi chỉ lănh hơn 32 ngàn/tháng. Anh chủ nhiệm mời tôi, bốn người chia nhau viết. Sau mấy tháng vừa viết báo, vừa dạy học, vừa làm việc tại cơ quan, tôi dần dần thấm mệt, bèn xin anh chủ nhiệm t́m người thay thế tôi trong trang dịch thuật và mục Chuyện Phiếm. Anh chủ nhiệm nói với tôi rằng, khi tôi rời ṭa soạn là đă xa nhau, có khi một hai tháng không gặp lại. Trang báo là nơi để anh em hàng tuần gặp nhau (nộp bài và lănh lương, ra quán ngồi “lai rai” với nhau. Ngày nào kẹt quá anh ấy sẽ viết giùm tôi. Nể bạn, tôi tiếp tục cố gắng cho đến ngày ṭa soạn bị... giải phóng. Quật Cường là tờ báo của chính quyền, nhưng không có Tổng Biên Tập quyền hành ghê gớm như báo Nhân Dân của Hà Nội. Cũng có một “Giám đốc chính trị” ở cách xa ṭa soạn, quyền hành trên chủ bút, cử một “phụ tá chính trị” ngồi ở ṭa báo làm việc với Ban Biên tập. Cùng là anh em với nhau nên rất thoải mái. Tôi nói “Giám đốc chính trị”, nhưng thật ra không hề có danh xưng này và chỉ vài ba người trong ṭa soạn biết có “nhân vật” này thôi. Khi có một vấn đề thời sự nóng bỏng nào đó, chính quyền cần lên tiếng, thỉnh thoảng nhân vật này kêu tôi viết bài xă luận cho tờ báo. Chẳng hạn khi chính phủ VNCH tố cáo Hoàng thân Sihanouk cho Hà Nội sử dụng lănh thổ Cambodge chuyển quân và vũ khí vào miền Nam VN, Sihanouk chối và c̣n tố ngược VNCH xâm phạm chủ quyền Cambodge, Tổng Thống Charles de Gaulle và thủ tướng Pháp Pompidou lên tiếng bênh vực Cambodge, tôi được yêu cầu viết một bài xă luận cho đề tài này. Môt lần khác, TT Nguyễn Văn Thiệu trên đường từ Hoa Kỳ về ghé châu Âu, muốn yết kiến thủ tướng Đức nhưng ông Willy Brandt không tiếp, tôi lại được chỉ định viết bài xă luận “có thái độ” với thủ tướng Đức Willy Brandt. Mục chuyện phiếm khiến tôi mất nhiều th́ giờ và nhức đầu hơn cả, v́ mỗi tuần lễ phải có một đề tài cho một bài trên trang báo cuối tuần. Đề tài cạn, sức viết chẳng dồi dào bao nhiêu, th́ giờ kín khít. Niên học 1971-72 thể lệ thi Tú Tài thay đổi, băi bỏ lối thi concours, “kiểu Pháp”, áp dụng từ năm 1955-56, chuyển sang thi Test kiểu Mỹ, a, b, c khoanh. Tôi vớ đề tài này viết liền ba kỳ “Than ôi Tú Tài”! Trước đó các kỳ thi Tú Tài I và Tú Tài II, c̣n gọi là Tú Tài Toàn Phần thật là căng. Thí sinh vừa thi vừa run. Có đậu Tú Tài I (lớp đệ Nhị) mới được lên lớp Đệ Nhất, có đậu Tú Tài II mới được vào đại học. Rớt Tú Tài Một đi Trung sĩ, đậu Tú Tài Một đi Sĩ Quan. Dân gian ngày đó có câu ca dao: “Rớt Tú Tài anh đi Trung Sĩ/ Em ở nhà lấy Mỹ nuôi con”. Ngày đó đậu thi viết Tú tài II xong c̣n phải qua cửa ải thi vấn đáp. Thi vấn đáp, mặc sức Giám Khảo muốn hỏi ǵ th́ hỏi. Khi vui, trông mặt thí sinh dễ coi th́ cho đậu, trả lời câu được, câu mất, lại trông “khó ưa” th́... “em về thi lại kỳ sau”, kỳ sau “ao” nữa th́ vào Thủ Đức, thế nào cũng ra trường, mang lon Chuẩn Úy, rồi Thiếu Úy, rồi biết đâu lên vù vù, xui xẻo, đến số th́... “Tổ Quốc Ghi Ơn”! Thi theo kiểu Mỹ a, b, c khoanh, nếu có học, có “gạo bài” th́ trong ba câu có một câu đúng, dễ dàng cho thí sinh nhận biết. Chẳng phải làm nguyên một bài luận văn dài, giải một bài toán kèm theo chín mười câu hỏi nữa. Mà có khi, đề thi là những câu đố, thử sức thông minh của học sinh chứ không phải kiểm tra học lực. Ngày tôi thi Tú Tài II ban Toán, pḥng tôi chỉ có 5/35 thí sinh trúng tuyển. Đó là lư do tôi “bất măn” với concours và “phân b́” với a,b,c khoanh. Nhưng rồi chính tôi cũng đă soạn đề thi Tú Tài I a,b,c cho học sinh lớp luyện thi tôi phụ trách. Một trong số 5/35 thí sinh trúng tuyển nói trên là bạn học cùng lớp với tôi, kết quả “oanh liệt” đúng như tên cha mẹ anh đặt cho: Liêu Sanh Oanh Liệt, đậu hạng ưu, được học bổng du học Hoa Kỳ, sau là Giáo Sư tại đại học Havard. Cuối tháng Tư/ 75 anh về Sài G̣n đưa mẹ và em gái di tản th́ bị kẹt lại, bị bắt đi tù, v́ ở Mỹ về “phải là CIA”. Người bạn dạy cùng Phan Sào Nam với tôi, không bị đi cải tạo cho tôi biết Liêu Sanh Oanh Liệt chết trong tù !! ** Sau mục “Than ôi Tú Tài”, tôi men sang đề tài thời sự đang rất sôi nổi trên làng báo và trong dư luận lúc đó, khi BS Hà Thúc Nhơn tử thủ tại bệnh viện Nha Trang chống tham nhũng, và BS Phạm Văn Lương tuyệt thực trước thềm ṭa nhà Quốc Hội đ̣i điều tra tham nhũng, tôi viết hai bài phiếm “Tham Nhũng, Ông Ở Đâu?”, đưa ra ṭa soạn trao cho người “phụ tá chính trị”. Anh này cầm lên thấy cái tựa hơi… lạ, đọc khoảng nửa trang th́ nh́n tôi ra vẻ ngạc nhiên, cất tiếng hỏi: - Anh viết bài này cho ai? Cho báo nào? Anh muốn tôi và anh cùng đi ra khỏi đây à. Tôi nói, cả làng báo đang ầm lên chuyện này. Ḿnh không có tiếng nói chẳng hóa ra đồng lơa. Vả lại, chuyện phiếm thôi mà! Tôi có kể tội ai đâu. Anh ta dịu giọng thân mật, “thôi bỏ đi”, rồi kêu tôi ra quán uống cà phê, tôi từ chối v́ phải vào cơ quan. Ngày BS Lương tuyệt thực, lại chính anh “phụ tá chính trị” này tại Quật Cường gợi ư, chắc không phải là đùa, rủ tôi và anh chủ nhiệm, ba người cùng ra tuyệt thực hỗ trợ BS Phạm Văn Lương. Bàn đi tính lại, đưa ra cái giá phải trả (cho việc làm bốc đồng bậy bạ ấy) cả ba im lặng giải tán. Rất may, ngày đó tuổi trẻ bồng bột, nhưng không quá nông nổi, nếu không hậu quả sẽ là, giá thấp nhất, ra vùng giới tuyến ôm súng canh chừng Việt cộng, hoặc ra trước vành móng ngựa Ṭa Án Quân Sự Biệt Khu Thủ đô… Thật ra, ngày đó chúng tôi không thấy “ông tham nhũng” ở đâu cả. Thỉnh thoảng gặp một anh tài xế xe Lam giúi mấy chục bạc vào tay một Cảnh sát kiểm soát lưu thông, tuy khó chịu, tôi nghĩ “làm thế ấy th́ mất ḷng dân lắm”, nhưng lại nghĩ là chuyện nhỏ và thông cảm, họ túng thiếu. Bốn mươi năm sau, nh́n hiện trạng tham nhũng có hệ thống, thành quốc sách của đảng CSVN th́ phải khẳng định chế độ VNCH quá trong sạch. *** Tôi không nhớ chính xác năm tháng khi tôi làm bài thơ đầu tiên vào năm nào, nhưng có thể vào thời mười lăm, mười sáu, khi bắt đầu biết liếc trộm những cô nữ sinh cùng lớp và khi tan trường về đă biết lẽo đẽo theo sau, dù hăy c̣n rất nhút nhát. Những bài thơ làm lúc ấy, bây giờ nếu c̣n, đọc lại chắc ngây ngô lắm. Năm 1960 - 61, tôi đă có thơ đăng báo tường. Thơ vào độ tuổi lúc bấy giờ là thơ t́nh. T́nh yêu học tṛ, đầy chất lăng mạn. T́nh yêu như hạt sương lơ lửng trên những đài hoa, “thánh thiện” thanh khiết. Chỉ một cái t́nh cờ chạm tay là hai luồng âm dương giao thoa xúc cảm, tựa hồ như chạm khẽ vào một sợi giây đàn. Năm 1964 - 65 tôi đă có thơ gởi đăng ở nhiều báo… Từ năm 1967 đến năm 1974 tôi đă có ba tập thơ viết, in… để mà chơi. Có hai bài thơ t́nh sớm nhất tôi c̣n giữ được, bài “Lời Cảm Tạ Một T́nh Yêu”, sáng tác năm 1962 cho một “mối t́nh” học tṛ, một thời mơ mộng. Năm năm sau tôi làm bài thơ thứ hai cho “cuộc t́nh” ấy, bài “Chạnh Niềm Yêu Dấu”. Bài thơ này đă được Nhạc sĩ Vơ Tá Hân phổ nhạc trong một album phát hành ở Singapore vào năm 1997 hay 98... Tôi sẽ in hai bài thơ này vào chương sáng tác như để cắm vài bông hoa, thêm chút tươi mát giữa một cánh đồng không mấy bóng râm trong tuyển tập này. Hai bài thơ có âm điệu buồn như hai câu thơ tiếng Anh diễn tả: Love is a garden full of flowers Nobody enters without falling his tears!
Trường T́nh là cánh đồng hoa Ai đi qua đó chẳng sa lệ sầu!
Sau cuộc đổi đời, tôi cùng đoàn quân ră ngũ lê thân qua các trại tù cải tạo, trả nợ quỷ thần từ Nam Ra Bắc. Trong tám năm lao động khổ sai, cái chết luôn luôn rập ŕnh đó, tôi vẫn bám lấy ng̣i bút “làm thơ chui”, giấu diếm, cất giữ trong đầu. Nhờ đó, ra khỏi tù, ra hải ngoại tôi in tập thơ “Tiếng Hờn Chiến Mă” 1996, tái bản năm 2002, với hai thi phẩm khác: “Về Lối Đi Xưa” 1999 và “Tiếng Hót Loài Chim Di” 2003. Sang Mỹ chưa được bao lâu, tôi sinh hoạt với Thi Đàn Lạc Việt của nhà thơ Dương Huệ Anh, biên tập, viết tựa tuyển tập “Một Phía Trời Thơ” 1995, cộng tác với tờ Dân Ta bên Texas, làm chủ bút tờ Độc Lập ở bang Georgia. Gửi bài và cộng tác với các báo Chánh Đạo của GS Nguyên Trung, Việt Nam nhật báo, Sài G̣n Nhỏ, rồi cộng tác lâu dài với Thời Báo, trang Văn Học Nghệ Thuật Cội Nguồn của nhà báo Vũ B́nh Nghi ở California từ năm 1998 đến 2015, khi tờ báo tự đ́nh bản; đồng thời sinh hoạt với CSTV Cội Nguồn và tạp chí Nguồn cho tới hôm nay.
Song Nhị ------------- (*) Nhóm “Nồi Niêu Soong Chảo” một thời làm nổi đ́nh nổi đám trên nhật báo Ḥa B́nh của LM Trần Du, tại Sài G̣n. Năm 1972 được móc nối về cộng tác với báo chính quyền.
~~oOo~~ Mọi trích dịch, ấn loát phải được chấp thuận bằng văn bản của tác giả và NXB.
|