|
Song Nhị
NỬA THẾ KỶ VIỆT
NAM

CHƯƠNG X
Đoàn Chiến Mă
Và Hành Tŕnh Lưu Đày Biệt Xứ
T́nh H́nh Vuột Khỏi
Tầm Tay
Cơn Ác Mộng Xa Dần
Buồng số 8 (Quảng Ninh) là một xưởng may đồ gia công. Hàng nhận từ xí
nghiệp May Mặc ở Hải Pḥng chở về. Bác Lê Hoài Nam, người được giới
thiệu là thợ từng may âu phục cho vua Bảo Đại phụ trách kỹ thuật, chuyên
trách may sơ mi, quần tây và đồ vét cho cán bộ, tôi “phụ tá” bác Nam coi
kỹ thuật hàng may nhận về từ xí nghiệp ở Hải Pḥng. Đội Trưởng trông coi
Buồng số 8 là Phan Tuấn Anh, Th/Tá CSQG. Hàng may nên hư tốt xấu hay dở
là do hai người phụ trách kỹ thuật, v́ vậy, bác Nam và tôi được viên
quản giáo Th/úy Công an tên là Hạnh “nể nang” hơn. Giữa lúc hàng may chở
về tới tấp, công việc làm không xuể, th́ tiếng đồn chuyển trại cứ rần
rần. Một buổi sáng Quản giáo Hạnh gọi tôi và bác Nam ra ngoài cổng, đứng
ở góc sân băi thường ngày tập họp, hỏi chúng tôi:
- Ai nói với các anh là sắp chuyển trại?
Chúng tôi trả lời khá thành thật:
- Không biết ai nói. Không biết từ đâu, nhưng mọi
người cứ tin là chúng tôi sẽ không c̣n ở đây. Có lẽ qua những sự rục
rịch của trại anh em họ nh́n thấy. Có thể đoán trúng, có thể đoán sai.
Cán bộ tin hay không tùy. Chúng tôi không có ǵ phải giấu diếm.
Bác Nam c̣n mạnh miệng nói thẳng với quản Hạnh:
- Có người c̣n nói là chúng tôi sẽ về trại Lư Bá Sơ.
Quản Hạnh không có ǵ tỏ vẻ ngạc nhiên, anh ta cải
chính:
- Lư Bá Sơ là tên cũ từ thời Pháp, đă đổi lại tên
khác lâu rồi.
- Tên ǵ cán bộ?
- Trại 5, Thanh Hóa.
Quản giáo Hạnh nói thật cho chúng tôi biết là nội
trong tuần lễ sau đó sẽ chuyển trại và yêu cầu chúng tôi hoàn tất mọi
thứ c̣n lại, kịp giao hết số hàng may cho xí nghiệp.
**
10 giờ đêm ngày 4 tháng 8-1978 sau cơn mưa vừa dứt, đèn từ các buồng
giam bật sáng, cả trại tù được đánh thức dậy. Quản giáo đến từng buồng
ra lệnh thu gọn hành trang để di chuyển. Nhờ biết trước, một số anh em
chúng tôi đă khăn gói sẵn sàng. Khung cửa sắt buồng giam lần đầu tiên
trong hai năm qua mở rộng, bỏ trống giữa đêm; cánh cửa của lớp tường xây
thứ hai cũng mở toang. Hai lớp cửa ấy chỉ rộng chừng vài thước nhưng
bỗng nhiên như một khoảng trống thênh thang. Thênh thang như tâm trạng
người tù khi biết ḿnh được rời khỏi nơi đây, đang được quay trở ngược
về Nam, dù chưa phải là Sài G̣n, chưa phải là giải đất miền Nam thân yêu,
ruột thịt. Ít ra, cũng hết rồi cơn ác mộng chờn vờn sẽ c̣n bị đưa dần
lên miệt núi rừng hướng Bắc. Ít ra, cũng đă đến ngày rời khỏi trại tù
TD63/QN (Quảng Ninh) nằm sâu hút trong một thung lũng ḷng chảo, bốn bề
là vách núi dựng, đỉnh núi quanh năm mây phủ dính với trời, chân núi
liền với đất qua những lớp mây mù nặng trĩu. Hết rồi tiếng vượn hú,
tiếng chim kêu buồn tẻ, lạc lơng đêm đêm.
T́nh h́nh đă vuột khỏi tầm tay của Bắc Bộ Phủ. Những biến chuyển thời
cuộc mà đảng Cộng sản VN đă không thể ngờ tới, đă không tiên liệu được
khi hất cẳng đàn anh Trung Quốc, ngả theo Liên xô trong mưu đồ thành lập
và lănh đạo liên bang Đông Dương do Liên Xô bật đèn xanh và yểm trợ. Dựa
trên đà chiến thắng thôn tính xong miền Nam sau khi xé bỏ hiệp định
Paris, Hà Nội toan tính làm ăn lớn. T́nh h́nh Trung Quốc cũng có nhiều
biến chuyển khi Chu Ân Lai chết (đầu năm 1976), một tháng sau Mao Trạch
Đông. Đặng Tiểu B́nh sau khi loại bỏ được Hoa Quốc Phong nắm quyền lănh
đạo đất nước khổng lồ phía Bắc, triệt hạ được nhóm “Tứ Nhân Bang” do
Giang Thanh, vợ Mao cầm đầu. Giang Thanh nổi tiếng kể từ khi bà chủ
trương và phát động cuộc Cách Mạng Văn Hóa tại Trung Quốc vào năm 1966.
Ở trong nước, người Hoa sau bao đời làm ăn sinh sống an lành bỗng nhiên
bị xua đuổi, bị tống xuất, bị tịch thu tài sản, bị đưa đi vùng kinh tế
mới.
Ở bên ngoài, ngày 29-6-1978 Trung Quốc cúp toàn bộ viện trợ, hồi hương
tất cả nhân viên và đóng cửa sứ quán tại Hà Nội. Tờ Quân Đội Nhân Dân
kêu gọi dân chúng sẵn sàng chống lại “chủ nghĩa bành trướng và bá quyền
nước lớn”. Câu nói của Hồ Chí Minh: “Trung Quốc và Việt Nam như anh em
một nhà, núi liền núi sông liền sông, môi hở răng lạnh” đă đảo ngược
thành một thực tế phũ phàng chua chát.
T́nh h́nh vuột khỏi tầm tay, đảng Cộng sản bắt buộc phải gấp rút chuyển
hết các trại tù cải tạo ở vùng rừng núi Việt Hoa về các tỉnh phía Nam.
Khi quyết định đem hết toàn bộ các viên chức quân cán chính từng là cấp
chỉ huy lănh đạo của chính phủ miền Nam đày lên vùng khỉ ho c̣ gáy heo
hút giáp ranh Trung Quốc, cộng sản Hà Nội rập theo mô thức đă thi hành
sau Hiệp định Genève năm 1954, tập trung tất cả những viên chức từng
cộng tác với chính phủ Quốc Gia và những thành phần thân Pháp, những
thành phần địa chủ, giam giữ đến mười, mươi lăm năm sau, ai c̣n sống sót
được “ân huệ” cho vợ con gia đ́nh lên rừng đoàn tụ, biến toàn bộ các
giai cấp đó thành dân rừng rú. Nếu t́nh h́nh không có những biến chuyển
từ bên ngoài như vậy th́ số phận của cả mấy trăm ngàn tù cải tạo miền
Nam và gia đ́nh cũng sẽ tàn tạ nơi rừng thiêng núi thẳm ở vùng biên giới
Việt Hoa như lớp tù cải tạo miền Bắc sau năm 1954.
Cái may mắn, cái “trúng số thời cơ” của tù cải tạo là ở chỗ đó; là ở
chính sách đ̣i hỏi nhân quyền do Tổng Thống Reagan và chính phủ Mỹ áp
lực lên nhà cầm quyền Hà Nội. Một năm trước đó chưa ai có thể nghĩ tới
hàng chục ngàn tù cải tạo miền Nam sẽ được rời khỏi những trại tù, cũng
là nơi định cư vĩnh viễn của họ mà Hà Nội đă toan tính, đă thực hiện.
Chúng tôi phấn khởi trong đau khổ, trong chịu đựng nhục nhằn là ở chỗ đó.
Đêm chuyển trại từ Quảng Ninh, bước qua khỏi ba lớp cửa là một khoảng
trời, là sân băi rộng. Gió rừng Việt Bắc giữa đêm vào tiết trời đầu thu
mơn man mát lạnh như chia sẻ với đoàn người bất hạnh một niềm vui và
chút ánh sáng lập ḷe của tia hy vọng. Đúng như lời của nhạc sĩ Trịnh
Công Sơn: Hy vọng đă vươn lên trong màn đêm trong ưu phiền....
Tưởng như câu hát kia là lời tiên tri hay là tiếng reo lên từ nỗi tuyệt
vọng giữa cảnh đời nghiệt ngă.
Vào một đêm mịt mờ tăm tối của mùa đông, người tù đang nằm ṃn mỏi,
không nh́n thấy lối thoát của cuộc đời, chúng tôi bỗng ngồi bật dậy khi
nghe được bài b́nh luận của Tổng Biên Tập Hoàng Tùng trên đài phát thanh
Hà Nội từ một cái loa phát thanh trên cột trụ ngoài hàng rào: Chính
quyền Mỹ và bọn phản động nước ngoài đă bịa đặt vu cáo chúng ta đang
giam nhốt hàng trăm ngh́n người tù chật ních trong các trại cải tạo...
Nghe xong bản tin, tất cả ngồi bật dậy, người này hỏi người kia thay
nhau lặp lại, nhắc lại lời của Hoàng Tùng, trong người mạch máu rân ran
v́ sung sướng, v́ biết rằng số phận ḿnh không bị bỏ quên, người đời
đang quan tâm, đang nhắc nhở, đang ra tay cứu độ.
Lúc đó là khi chúng tôi đă chuyển về ở Phân trại B Lam Sơn, Thanh Hóa
cuối năm 1978. C̣n đây là lúc chúng tôi đang sửa soạn từ giă trại tù
vùng biên giới giáp ranh Trung quốc. Từng đoàn xe vận tải đă đậu chờ sẵn,
có lẽ từ chập tối, sau khi tù đă vào buồng. Từng người một lần lượt lên
xe. Vừa bước lên, chân chúng tôi dẫm phải một thứ nhầy nhụa, ươn ướt.
Mùi hôi thối bốc lên mỗi lúc một nồng nặc, đến muốn ói. Mọi người bịt
mũi để mong qua cơn nôn mửa. Tất cả những chiếc xe tải này là xe chở heo.
Có lẽ họ vừa đổ heo xuống một nơi nào đó trước khi chạy tới đây để chở
tù. Khi tù đă lên đủ số theo danh sách, tấm chắn phía sau xe được kéo
lên cài chặt lại, mọi nguời bị ép dồn vào nhau, đứng xếp sát vai nhau
như hộp cá ṃi. Không ai có thể ngồi, không ai có thể cúi xuống dù chỉ
để găi chỗ ngứa dưới chân. Tất cả như những khúc cây bị dựng thẳng đứng,
ép sát, không thể xoay trở, cử động. Trên xe có một công an đi kèm. Tôi
nhớ người công an áp tải xe tôi là một cán bộ, tên Vinh từng vào tổ may
nhiều lần. Anh này nói với chúng tôi, giọng thành thật:
- “V́ sự hăm dọa của Trung Quốc. V́ an ninh của các anh, chúng tôi phải
chuyển các anh tới nơi an toàn hơn để các anh cải tạo. Chúng tôi phải
chuyển các anh đi, phải xa các anh chúng tôi tiếc lắm. Thành thật mà nói
chúng tôi học hỏi được ở các anh rất nhiều”.
Đoàn xe chạy từ Quảng Ninh lúc nửa đêm mùng 4 tới trại Lam Sơn, Thanh
Hóa vào lúc 8 giờ tối ngày 5.8.1978, qua hai lần sang phà ở Vịnh Hạ Long
và sông Mă. Suốt quăng đường 24 tiếng đồng hồ ấy xe chạy liên tục, tôi
có cảm tưởng như đoàn xe đang bị rượt đuổi. Tù chỉ được đi tiểu bằng một
cái xô nhựa, được đưa lên xe, khi có người yêu cầu, nhưng thật là khó
khăn v́ người đứng nêm chật nghẹt làm sao mà giải quyết được, đành nín
đến bế tắc luôn. Suốt gần 24 tiếng đồng hồ ấy cũng không phát thức ăn
nước uống. Không ai muốn ăn uống trong hoàn cảnh như vậy, nhưng cơn khát
đă khiến nhiều người mệt lă. Khi đoàn xe tới nơi, vừa ngừng lại, tôi
thấy một số anh từ trên xe nhảy xuống, chạy ào xuống một cái ao, cúi gập
người xuống, uống một hơi cho đă khát. Mấy ngày sau nh́n thấy cái ao,
tôi rùng ḿnh, lo lắng thay cho những người đêm hôm trước đă giải quyết
cơn khát bằng nước của cái ao trâu tắm đen ng̣m kia. Chỉ nh́n thấy cũng
đủ lợm giọng, buồn nôn.
Lư Bá Sơ Danh Bất Hư Truyền
Trại Lam Sơn, tỉnh Thanh Hóa, thuộc huyện Thiệu Hóa. Thiệu Hóa là tên
mới đặt sau khi sát nhập hai huyện Hoàng Hóa và Thiệu Yên làm một. Trại
Lam Sơn theo lời kể của những người lớn tuổi, có từ thời Pháp thuộc, do
một người tên là Lư Bá Sơ thành lập. Trại này nổi tiếng những ai bị đưa
tới đó, có ngày đi mà không có ngày về. Hồi c̣n nhỏ, tôi thường nghe bố
tôi với những người cùng thời nhắc đến tên mấy nhà tù khét tiếng như Lư
Bá Sơ, Đầm Đùn, Ban Mê Thuột, và trại Đưng ở Hà Tĩnh. Trại Đưng, những
người lớn tuổi thời Việt Minh cho biết nơi đó rừng thiêng nước độc. Nước
khe suối độc đến nỗi chỉ lội qua là lông chân rụng hết. Ai tới đó cũng
chỉ vài tuần lễ sau là bị sốt rét, da vàng như nghệ và chỉ trong ít lâu
là chết.
Lam Sơn có ba phân trại. Trại chính là trại A. Trại A cùng với phân trại
B được xây dựng từ lâu, trại C mới xây sau. Trại B gồm những dăy nhà
giam lợp lá, vách che bằng đất nhồi rơm. Quanh trại có hai ṿng rào,
ṿng trong bằng giây kẽm gai, ṿng ngoài là những bụi tre trồng sát khít
nhau, nhánh, gai chằng chịt. Trại C, có các dăy nhà giam xây bằng xi
măng, lợp ngói, cửa sắt kiên cố.
Bí danh của trại Lam Sơn là 50A TD63/05. Đoàn xe từ Quảng Ninh về tới
Lam Sơn, trên 100 người tù cao tuổi được chở tới phân trại A, số c̣n lại
“đóng quân” tại Phân trại B. Tâm trạng phơi phới về cuộc “đổi dời”, hy
vọng đời tù sẽ khấm khá hơn ở một địa điểm mới, đến đây như chút hơi
khói mong manh vừa chợt tắt. Mỗi toán tù được dẫn về các dăy nhà giam
với tiếng la lối, nạt nộ, hằn học của đám công an.
Buồng giam là những dăy nhà chiều dài trên vài chục thước, thông suốt từ
đầu tới cuối, sâu hút, không có cửa hậu, chỉ có cửa vào như một địa đạo.
Mái lợp tranh, vách đất, nền đất đắp cao khoảng chừng nửa thước thành
hai dăy sát hai bên vách, chừa lại một lối đi ở giữa.
Trời tháng Tám, sau vài cơn mưa nhỏ, cái nắng nhiệt đới oi nồng làm bốc
lên mùi ẩm mốc, hôi hám, ngột ngạt. Qua cung cách “tiếp đón” buổi đầu và
nh́n thấy cơ ngơi nơi ăn chốn ở như thế, mọi người cảm thấy đời tù bắt
đầu khốn nạn.
Phân trại này không có pḥng ăn, chỉ có một hội trường chứa được khoảng
ba, bốn trăm người. Cái nhà này cũng lợp lá, nền đá ong, lát đất sét.
Vách bằng đất phết nhồi rơm, thưng đến ngang lưng quần. Phía trên là một
lớp chấn song bằng gỗ thanh. Khu nhà tù này, ngoài cái chắc chắn, kiên
cố của hai lớp hàng rào, c̣n lại tất cả trông bệ rạc, tàn tệ hơn bất cứ
sự tàn tệ, nhớp nhúa nào khác.
Thời gian đầu, cơm do tù h́nh sự nấu gánh từ nhà bếp vào trại cho mỗi
buồng. Mỗi buồng, mỗi dăy t́m lấy một chỗ nào khô ráo, tương đối sạch sẽ
hơn để mọi người bày chén bát ra chỗ đó. Người chia phần cơm luân phiên
phụ trách mỗi ngày. Gặp ngày vừa mới mưa xong, chén bát bày ra giữa băi
đất, khi nhận phần ăn, mọi người không ai bảo ai đều chùi đít chén vào
quần áo trước khi bâng lên múc ăn. Có thời gian được Ban Giám thị cho
chia cơm và ngồi ăn trong nền đất của hội trường. Hội trường có mái lợp
nhưng mùa mưa vẫn bị ẩm ướt, đất đỏ do giày dép mang vào trông không
khác lối trâu đi. Mùa nắng bụi mù trời. Khi gặp cơn gió, bụi phủ đầy
thức ăn. Thức ăn là bo bo, là khoai ḿ củ, là sắn khô nấu lên, là cơm,
với mỗi bữa có khi mỗi nguời được chia hai th́a cà phê nước mắm sống, có
khi là loại nước-mắm-nêm đen như cà phê đậm, có khi vài gắp rau ḥa
trong nửa ca nước muối.
Bữa ăn của tù “thanh đạm” lắm nhưng vẫn có những người không bỏ được cái
thói “phong lưu”. Vẫn có cái bàn ăn bằng mấy miếng ván mục lượm được đâu
đó đem về đóng lại, vuông vức năm, sáu mươi phân, chiều cao cỡ bàn
sa-lông, ba bốn người chụm vào nhau, ăn th́ ít nhưng nói chuyện th́
nhiều.
Tôi không bao giờ quên được và tôi tin rằng những người có mặt tại hội
trường phân trại B buổi trưa hôm đó hăy c̣n nhớ: Trật Tự trại, là một tù
cải tạo, Nguyễn Văn M. nguyên Thiếu Tá, Trưởng Pḥng Ngoại Kiều Bộ TL/CSQG
đă đá văng cả chén cơm canh của một người tù, chỉ v́ anh này lấy cái rổ
thưa, được đan sơ sài bằng tre để đựng loại đá xanh do tù sản xuất, đặt
úp xuống làm thành cái mâm để chén cơm canh v́ nền nhà lấm bùn đất, ướt
át. N.V. M. đă nổi nóng, hoặc v́ tự ái trước thái độ bất tuân, thách
thức, hoặc để tỏ quyền uy nên đă hành động mất nhân tính trước mặt nhiều
người, sau hai lần anh lên tiếng cảnh cáo không được xử dụng đồ của trại.
Tôi ngồi gần, chứng kiến tận mắt và hằn sâu vào kư ức khó nguôi quên.
Rất tiếc tôi không nhớ tên nhưng tôi c̣n h́nh dung được dáng dấp, diện
mạo của người tù bị đá văng chén cơm hôm ấy. Ông này dân Hố Nai, làm
việc tại PĐU/TƯTB.
Chúng tôi ở Phân trại B chỉ trong thời gian hơn năm tháng, từ ngày 5-8
đến cuối tháng 12-1978 nhưng đây là thời gian xẩy ra nhiều sự kiện rất
bất thường khiến đưa đến việc phân tán tù và chuyển trại. Như nhiều trại
tù khác, Phân trại B cũng chia làm hai khu. Khu A giam tù Chính trị từ
Cẩm Phả chuyển về và khu B nhốt tù h́nh sự. Các dăy nhà giam xây cùng
một kiểu, mái lá vách đất, nền đất, chỗ nằm là bục cao có tráng xi măng.
Hai khu A và B cách ngăn bằng một hội trường và một khu sân băi để mỗi
ngày sắp hàng điểm danh khi lao động đi, về. Nhà bếp nằm ngoài ṿng rào
nhà tù. Cả trại có hai cái giếng, sau khi tù cải tạo chuyển về đào thêm
một giếng thứ ba. Khí hậu vùng này khắc nghiệt, mùa Hè nóng như lửa, lại
chịu thêm ngọn gió Lào khiến toàn thân như đang bị một đàn kiến bu đầy
cắn xé. Mùa Đông gió rừng khô hanh, lạnh như cắt.
Chúng tôi đến đó vào mùa Thu, tiết trời tháng Tám dễ chịu, lại có những
trận băo liên tiếp nên được nghỉ lao động. Thời tiết chuyển dần vào đông,
bầu trời ảm đạm, cây lá úa vàng, trơ trụi, ngơ lối bùn lầy, những mái
nhà tranh như sụp xuống, tối tăm, ẩm thấp trông càng thê lương hơn. Bên
khu h́nh sự cứ mấy ngày lại thấy khiêng một cái ḥm ra khỏi cổng. Đi
chôn tù chỉ có ba, bốn người là đủ. Hai người khiêng ḥm, một người vác
cuốc xẻng và một công an đi theo. Người tù nào được chỉ định khiêng ḥm
đi chôn bạn tù rất lấy làm phấn khởi. Phấn khởi không v́ t́nh cảm dành
cho người bạn tù xấu số, cũng không v́ muốn được ra ngoài hưởng giây
phút tự do; hoặc để thở hớp khí trời tươi mát, mà chỉ v́ cái trứng gà
luộc và chén cơm “cúng linh” đặt trên nắp ḥm. Khi ḥm vừa khiêng ra đặt
lên miệng huyệt, hai người tù vừa buông tay là vội chụp lấy chén cơm và
cái trứng, người nào nhanh tay chụp được trước th́ được dành phần hơn
khi chia cho hai người kia.
Ḥm không phải là cái áo quan dành cho người quá cố, mà là một dụng cụ
như tất cả những dụng cụ khác; như cái xẻng, cái cuốc dùng cho việc mai
táng. Cái xẻng, cái cuốc đào xong huyệt không phải là vứt đi. Cái ḥm
cũng không phải chôn theo người chết. Đáy ḥm là một miếng ván rời có
thể kéo ra đẩy vào như cái nắp hộp. Khi ḥm đă đặt lên miệng huyệt, chỉ
cần cầm miếng ván kéo bung ra là xác rơi xuống. Lấp đất xong, lại khiêng
ḥm về để dùng cho người kế tiếp. Tôi không được chứng kiến, những tù
h́nh sự sau khi đi chôn bạn tù về kể cho chúng tôi nghe như vậy.
Với xă hội văn minh, khi nh́n vào hiện tượng đó, người ta cảm thấy kinh
khiếp lắm, nhưng nhân loại đă từng chứng kiến hàng trăm, thậm chí hàng
ngàn mồ chôn tập thể từ thời Đức Quốc Xă, đến dưới các chế độ độc tài,
cộng sản như mồ chôn tập thể tại Huế hồi Tết năm Mậu Thân, hoặc tại
Bosnia cuối thập niên 90 và mới đây tại Iraq, dưới thời Saddam Hussein.
Người tù cải tạo bắt đầu cảm thấy bất an. Nơi ăn ở lụp xụp dơ bẩn, lao
động nặng nhọc trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt. Khẩu phần ăn so
với trại Quảng Ninh bị cắt giảm đến gần phân nửa. Hàng ngày ít khi được
ăn cơm, thường là khoai ḿ, được quy định “bốn sắn một gạo” nghĩa là nếu
ăn khoai ḿ th́ nhiều gấp bốn lần ăn cơm. Tuy nhiên, trên thực tế mỗi
người chỉ được chia bốn năm mẩu sắn, lớn cỡ ngón chân cái. Món ăn mặn là
nước muối, nước-mắm-nêm đen đục, lỏng bỏng, sặc mùi tanh. Một thời gian
dài ăn bo bo, nhưng cũng chỉ mỗi người được chia lưng chén. Nhiều lần bo
bo chưa chín nhai cả một hai tiếng đồng hồ mỏi cả hàm, nhưng cái dạ dày
vẫn từ chối hấp thụ cho cơ thể, tiêu hóa toàn bộ ra ngoài. Thêm vào đó
là thái độ hằn học, phách lối của đám công an gác tù, tạo nên một t́nh
h́nh căng thẳng giữa hai phía: tù và công an.
Tôi Đi Giữa Đoàn Tù Vác Đá
Công việc lao động đầu tiên của chúng tôi khi về tới Thanh Hóa là vác đá.
Ở Quảng Ninh chúng tôi đă từng được ngồi đập đá trong phạm vi sân nhà
giam. Đó là cơ hội để chúng tôi chụm đầu vào nhau tâm sự nhỏ to.
Tôi nhớ thời xưa khi hăm dọa bỏ tù ai, thay v́ nói tao bỏ tù mày th́ nói
“tao sẽ cho mày đi đập đá”. Câu thành ngữ ấy tôi được nghe từ hồi c̣n
nhỏ, không ngờ rồi chính ḿnh, mới ngoài 30, chưa tới tuổi “bất nhi hoặc”,
c̣n ở thời phơi phới ăn nên làm ra ấy, đă phải nếm mùi đập đá, vác đá.
Bài thơ Tôi Đi Giữa Đoàn Tù Vác Đá đă được nữ nghệ sĩ Bích Ty lấy
đâu đó trên báo đem vào CD thơ Người Mẹ Da Vàng, là khúc tâm sự mô tả
cảnh thực sống động của đoàn tù vác đá tại Phân trại B Lam Sơn, Thanh
Hóa, trong đoàn người ấy có tôi, tác giả bài thơ.
Vào những ngày đáng nhớ ấy, bầu trời xám xịt, sương mù lăng đăng xuống
thấp, đoàn người nối đuôi nhau đi trong hơi lạnh, mỗi người một khối đá
nặng trên vai. Đá được lấy ở một chỗ từ bên kia chân núi, đoàn tù vác đá,
đi gần giáp ṿng quanh ngọn núi tới phía bên này, gom đá về một chỗ. Sau
vài ṿng đi tới trở lui, mồ hôi ran rỉ, mặc dù trời đă vào đông. Có
người cởi lớp áo ngoài, có người lấy chiếc khăn rằn, biểu tượng của miền
Nam xếp lại lót lên vai kê tảng đá để khỏi đau, khỏi bị trầy da. Sau hai
ba ṿng đi tới, đi lui vai tôi rướm máu. Tôi cảm thấy đau vai th́ ít mà
đau xót tự cơi ḷng th́ nhiều.
Tôi nh́n đoàn người lờ mờ trong sương mù buổi sáng từ đầu tới cuối, rồi
chợt liên tưởng đến những đoạn phim đoàn nô lệ thời Trung cổ mà tôi đă
được xem ngày nào thời c̣n đi học. Công việc lao động như thế, ngoại
cảnh như thế, nội tâm người tù như thế đă đưa tới một t́nh trạng đầy bất
an và bất trắc.
Từ các dăy nhà giam bắt đầu có những “hoạt động” chống đối ngấm ngầm,
thể hiện dưới nhiều h́nh thức. Việc trước tiên là thái độ tiêu cực, bất
hợp tác, lăng công bằng cách khai bệnh tập thể. Lúc đầu mỗi đội 70 người
có khoảng vài chục người ra sân sắp hàng xuất trại đi làm. Những người
đi làm, thấy những người ở nhà vẫn phây phây, lại bị anh em nh́n bằng
con mắt không thiện cảm nên càng về sau, mỗi đội chỉ c̣n năm bảy người
hay nhiều lắm hơn chục người ra sân, c̣n nữa nằm trùm chăn bất động.
Đến thời hạn tam cá nguyệt, các tổ đội được chỉ thị họp kiểm điểm về các
mặt tư tưởng, lao động, học tập. Sau “khóa họp” đó tù phải ngồi viết bản
“thu hoạch”. Theo quy định thông lệ tù tự nêu lên những ưu khuyết điểm,
những vi phạm, những thành tích. Rồi sau hết là viết lời cam kết phát
huy ưu điểm, khắc phục nhược điểm, bày tỏ “tin tưởng vào chính sách của
đảng và nhà nước, an tâm cải tạo, lao động sản xuất vượt chỉ tiêu...”
Nhưng lần đầu tiên toàn bộ tù cải tạo phân trại B thay v́ viết kiểm điểm,
thu hoạch, lại đồng loạt viết kiến nghị lên án chế độ lao tù và đ̣i hỏi
cải thiện đời sống tù nhân. Dĩ nhiên là mỗi dăy nhà, mỗi tổ, đội vẫn có
những người “ngoan ngoăn” vâng lời Ban Giám thị, viết tờ thu hoạch rất
ăn ư với chính sách của “đảng và nhà nước”. Nội dung kiến nghị, chúng
tôi rỉ tai và đồng ư trước với nhau cùng nêu lên những điểm như sau:
- Thứ nhất: Chúng tôi được tuyên án tập trung cải tạo ba năm, mà nay đă
hơn ba năm rồi vẫn chưa được thả và chưa biết lúc nào th́ được về với
gia đ́nh. Sức khỏe ngày càng suy yếu, làm cho chúng tôi lo lắng.
- Thứ hai: Điều kiện ăn ở quá tồi tệ. Chỗ nằm ẩm thấp,
hằng đêm rệp kéo lên từng đàn, đầy trong chăn chiếu và quần áo. Yêu cầu
trại cho xịt rệp tất cả các dăy nhà.
- Thứ ba: Mức ăn ngày càng bị giảm thiểu, không c̣n
đủ tiêu chuẩn cho một người b́nh thường không phải làm việc, có thể sống
được, nhưng đây lại cho những người ốm đau, mất sức hưởng mức ăn đó mà
phải lao động nặng nhọc.
- Thứ tư: Yêu cầu công khai hóa tài chánh theo tiêu
chuẩn Bộ Nội Vụ cấp cho mỗi đầu người và mỗi tuần lễ phải công bố một
lần.
- Thứ năm: Yêu cầu cho được nghe đài, được đọc báo
Nhân Dân và Quân Đội Nhân Dân.
- Thứ sáu: Yêu cầu được gửi và nhận thư gia đ́nh mỗi
tháng một lần như nội quy đă phổ biến.
- Thứ bảy: Mỗi người nêu thêm ư kiến, nguyện vọng
riêng.
Mỗi người viết theo cách riêng của ḿnh nhưng yêu cầu
làm thế nào để thể hiện được nhận định chung của tập thể.
Khi những tờ “thu hoạch” ấy được tổ trưởng, đội trưởng gom lại nộp cho
cán bộ quản giáo, thật là một cú bất ngờ, trước hết làm cho đám quản
giáo rồi đến ban giám thị choáng váng. Buổi chiều hôm ấy thay v́ đi lao
động, quản giáo vào họp từng đội giải thích đường lối chính sách, cho
mọi người được phát biểu (để nắm t́nh h́nh và t́m đối tượng). Trong buổi
họp kiểm điểm ấy, riêng ở đội tôi sau khi quản giáo dài ḍng về những
giải thích, phân bua, vuốt ve và hăm dọa, có vài người lên tiếng, trong
số đó có anh Phan Thanh Việt, Nghị Viên tỉnh Quảng Nam. Phát biểu của
anh Việt gần như là đúc kết những nhận định và đ̣i hỏi của tù mà anh em
chúng tôi đă trao đổi với nhau từ trước. Tiếp sau anh Việt, tôi giơ tay
xin nói, nêu lên những nội dung tương tự trong bản thu hoạch mà tôi đă
viết. Tôi cố ư tránh đả kích chế độ. Kinh nghiệm từ hồi c̣n ở khu Tư
trước năm 1955, người nào đụng đến chế độ và lănh tụ là có thể mất mạng,
làm tôi e dè. Tôi phát biểu:
“Chúng tôi không chống đảng và nhà nước, nhưng chính sách đảng và nhà
nước đưa ra không được thi hành đúng. Chúng tôi được kêu án ba năm,
nhưng thực sự không biết ngày về. Chỗ ở dành cho chúng tôi quá tồi tệ.
Khẩu phần ăn bị cắt xén, chúng tôi không tin cán bộ cách mạng ăn cắp cơm
tù. Chúng tôi mất liên lạc với gia đ́nh, không có thư từ như nội quy ấn
định mỗi tháng một lần nên thực sự khó mà an tâm cải tạo. Chúng tôi mong
Ban giám thị xem xét nguyện vọng của chúng tôi”.
Buổi học tập kiểm điểm kết thúc sau ba tiếng đồng hồ. Anh em tù hả hê,
đă được x́ bớt những ấm ức chất chứa từ bao lâu nay. Một người bạn tù,
anh Lê Văn Tr. hiện ở Houston vừa ra khỏi buồng họp, lại gần tôi nói nhỏ:
-“Ta không nói được, ta cảm ơn mi đă nói thay ta và các anh em khác”. Từ
Long Thành chúng tôi đă gần gũi hiểu nhau và thân t́nh, tri kỷ cho đến
nay.
Chúng tôi coi đây là một biến cố trong một loạt biến cố khác diễn ra sau
đó. T́nh h́nh đă âm ỉ ngay từ sau khi bước xuống xe đến trại này. Nhiều
hiện tượng tiêu cực mà tù từng chứng tỏ bằng lời nói và hành động.
Khoảng hai tháng sau, một buổi sáng thức dậy trên một số cửa buồng giam
đă dán một tờ giấy học tṛ, ghi bằng chữ in: CHÚNG TÔI Đ̉I HỎI ĐƯỢC ĐỐI
XỬ THEO QUY CHẾ TÙ CHÍNH TRỊ VÀ ĐƯỢC TÔN TRỌNG NHÂN QUYỀN. Dưới tiêu đề
ấy là một số điều được liệt kê ra. Đây là một loại truyền đơn viết tay.
Người viết đă nhại một nét chữ khác hẳn với nét chữ của ḿnh nên công an
đă không t́m được thủ phạm. Mấy tuần lễ sau tôi được biết người viết
những tờ “truyền đơn” ấy là Lê Thiên Sơn. Anh đă qua đời tại Sài G̣n năm
1989.
Vong Thân Và Phản Bội
Khi hoàn cảnh ngày càng khó khăn, ví như bóng tối đồng lơa với tội ác,
một số trong đoàn tù bắt đầu ló mặt phản bội tập thể. Nguyên nhân của
hành động bán rẻ lương tri và nhân phẩm của những người tù ấy là do bản
chất ích kỷ và hèn nhát. Động lực thúc đẩy họ làm ăng-ten, công khai hợp
tác đắc lực với cai tù, với Ban Giám thị, nhận làm Ban Thi Đua, Trật Tự,
Đội Trưởng là v́ nông nổi tin tưởng được cộng sản trả công, cho về sớm,
được hưởng một số ưu đăi khẩu phần ăn và để tránh lao động nặng nhọc như
mọi người. Con số những kẻ vong thân này không nhiều nhưng đối với tập
thể tù cải tạo th́ đây là một nỗi đau tinh thần, một nỗi ô nhục, làm tổn
thương niềm tự hào và danh dự của người chiến sĩ Quốc gia. Nhiều người
từng khốn đốn v́ đám này.
Nạn nhân của đám ăng-ten ấy cũng không phải là ít. Sự tổn hại mà nhiều
gia đ́nh nạn nhân phải hứng chịu không phải là nhỏ. Nhiều người chết
trong tù v́ bị chính đám trật tự tay sai đánh đập hành hạ như trường hợp
Dân Biểu Đặng Văn Tiếp ở trại Thanh Cẩm; hoặc như cái chết của Lê Quảng
Lạc ở trại Lam Sơn mà tôi là người đă được nạn nhân nói lại lời trăn
trối. Lê Quảng Lạc chết v́ chính sự tiếp tay của những kẻ tay sai, của
những người phản bội cùng hàng ngũ với anh. Tôi tin rằng c̣n nhiều lắm
những nạn nhân ở nhiều trại khác không được nói ra, điển h́nh như vụ Bùi
Đ́nh Thi để được dư luận biết tới.
Trở lại t́nh h́nh ở phân trại B, trước sự thật đám ăng- ten, tay sai cai
tù ló mặt, một nhóm hành động kín gồm mấy anh em tâm huyết (Lê Thiên Sơn,
Nguyễn Thành Tr., Lê Văn Tr., Ngô Văn Th.) họp bàn với nhau phải có biện
pháp với bọn họ. Lúc đầu nhóm bàn nhau giao cho một vài anh ra giếng lấy
cớ hắt nước vào “ăng ten”, tự làm ướt bản thân rồi xông vào vừa đánh vừa
nói lời cảnh cáo. Một anh đứng bên cạnh hỗ trợ khi cần sẽ tiếp tay. Nếu
nội vụ được đưa lên Ban Giám thị th́ khai là hai bên gây gổ v́ làm ướt
nhau. Biện pháp này chỉ xẩy ra một lần. Tay ăng-ten nín thinh không dám
báo cáo, nhưng nhóm nhận thấy không ổn v́ có thể cả hai đều bị cùm và
cuối cùng th́ ăng-ten thế nào cũng khai báo và được cho ra khỏi xà lim
trước. Do đó nhóm bàn lại cách khác.
Trong nhóm, có người sẵn sàng ra tay hành động; có
người lại chỉ có khả năng vạch kế hoạch, chứ không dám làm. Khi họp nhau
chúng tôi giao cho ba người cùng làm một việc. Nếu một người khi thấy
công việc được giao đă xong rồi th́ rút lui và không cần biết ai đă ra
tay. Nhờ đó trong ba người không ai biết ai đă ra tay trước.
Đối tượng thứ hai là Th/tá CSQG Phan Tuấn A. sau một đêm thức dậy thấy
cái túi xách “marin” đựng đầy quần áo tốt mang theo đă bị một lưỡi dao
cạo râu nào đó rạch dọc, rạch ngang mấy đường, cắt đứt cả quần áo bên
trong. Một người khác là “Đạt Râu” ngủ dậy thấy một con nhái chết nằm
trong cái loong Guizgot đựng nước uống. Về nhân vật này có đặc điểm là
khuôn mặt hao hao giống “bác”, nên “lăo” để bộ râu dài cho thêm giống.
Lăo lúc ấy cỡ tuổi trên năm mươi nhưng làm ra bộ đạo mạo và là một tay
đội trưởng đắc lực trong vai tṛ phụ tá quản giáo. Mặc dù có những phản
ứng quyết liệt như vậy của anh em, nhưng đám ăng ten, đội trưởng cai tù
này h́nh như đă chấp nhận thái độ “dấn thân khuyển mă” nên tỏ ra bất
chấp, ngày một lún sâu vào tội lỗi.
Ở mỗi giai đoạn khó khăn lại có một hai kẻ xuất đầu lộ diện công khai
tách khỏi tập thể, đứng về phía cai tù. T́nh trạng sinh hoạt ngày càng
căng thẳng, nguyên nhân theo tôi một phần do nơi giam giữ, chỗ ăn nằm
quá xập xệ dơ bẩn; phần khác, tác động mạnh nhất là do thái độ của đám
công an. Họ đă quen thói hống hách, coi thường, hành hạ đánh đập, làm
nhục đám tù h́nh sự. Họ không được học tập trước về cung cách, thái độ
cư xử với tù chính trị, với tù cải tạo miền Nam. Họ không nhận thức được
hai loại “tội phạm” này hoàn toàn khác biệt. Người gác tù không thể chỉ
dùng mệnh lệnh, và roi đ̣n để cảm hóa con người. Làm sao để chúng tôi
không phản ứng trước hành động rất vô kỷ luật của chính người gác tù như
trường hợp sau đây.
Một buổi chiều chủ nhật, tại một dăy nhà giam, một bạn tù, anh Nguyễn
Ngọc Nghĩa kê ba cục đá, chụm mấy que củi nấu một lon nước sôi. Người
công an ngồi trên vọng gác thay v́ bảo tắt bếp không cho đun nấu th́ lại
nói vọng xuống những lời la lối hạ cấp, anh Nghĩa không trả lời. Người
gác tù liền bắn một phát súng thị uy viên đạn cắm cách chỗ anh Nghĩa
ngồi không đầy nửa thước.
Biến cố đó mở đầu cho giai đoạn đấu tranh công khai bùng nổ khi cả Phân
trại B được cấp một bữa ăn trưa bằng củ khoai ḿ luộc không lột vỏ. Hôm
đó, ngay sau khi nhà bếp gánh khoai ḿ tới, nhóm anh em từng gặp nhau,
họp chớp nhoáng đồng ư với nhau cần có phản ứng và quyết định ngưng chia
phần ăn. Mỗi người đi tới mỗi buồng, mỗi dăy thông báo cho anh em “nồng
cốt” báo cho tất cả không ăn trưa và yêu cầu Ban Giám thị giải quyết.
Tất cả mọi người đều đồng ḷng nhịn ăn để yêu sách. Ăng-ten, đội trưởng
cai tù đành im lặng v́ tất cả mọi người đă một ḷng. Có một chi tiết tôi
không quên và tôi muốn nhắc lại. Trong khi gặp vài ba anh em thông báo
nhịn ăn trưa, tôi vào trong nhà chạy từ đầu dăy tới cuối dăy yêu cầu
ngưng việc chia sắn. Tôi dừng lại chỗ nằm của một ông Đ/tá nói với ông:
- Nhờ anh nói chuyền với anh em trong kia là không
chia phần ăn trưa nay.
Ông Đ/tá huơ tay – "Không, không, anh nói với người
khác. Tôi không biết." Rồi ông kéo chiếc chiếu quấn tṛn nằm im như con
sâu trong tổ. Nhiều anh em chúng tôi không ngờ, trừ một số rất ít, mọi
người c̣n lại một ḷng một dạ đưa đến kết quả toàn diện như vậy.
Cũng như ngoài xă hội, trong tù có ba thành phần rơ rệt: - Thành phần
tích cực, dấn thân, chấp nhận hậu quả để công khai bày tỏ thái độ qua
các h́nh thức đ̣i hỏi, đấu tranh. - Thành phần tiêu cực là những người
tách rời khỏi tập thể, khỏi cộng đồng tù chính trị, đứng về phía quyền
lực và bạo lực để khống chế, hăm hại anh em đồng đội. Thành phần đông
đảo là khối đa số thầm lặng. Tuy thầm lặng, không trực tiếp tham gia các
hành động bày tỏ công khai, không lên tiếng đối kháng, nhưng không bao
giờ họ hùa theo hay cảm t́nh với đám ăng ten, thi đua, trật tự... Họ lại
là thành phần ngấm ngầm tán dương, yểm trợ và nể trọng những người dám
đứng mũi chịu sào trước những bất công áp bức của bọn cai tù.
Sau một giờ chiều hôm ấy, anh em yêu cầu các đội trưởng thông báo cho
cán bộ quản giáo và Ban Giám thị giải quyết. Sắn vẫn để nguyên ở đó và
mọi người vẫn nằm chờ đợi. Tất nhiên là ai cũng đói, cái đói kinh niên,
cái đói tàn hại đến cả thể chất lẫn tinh thần, nhưng không một người nào
tỏ ra nao núng. Đến 7 giờ tối ban Giám thị vào từng dăy nhà, tập họp tù
lại để giải thích. Ông trại trưởng tên là Quế. Thường tù phải gọi là Ban
Quế. Trước hết ban Quế đổ tội cho đám nhà bếp h́nh sự làm việc tắc trách
chứ không phải do chủ trương của Ban Giám thị và hứa sẽ chấm dứt việc
cho ăn khoai ḿ không bóc vỏ. Trên thực tế, đội nhà bếp cũng có một công
an quản giáo, và không một người đội trưởng nào được làm khác lệnh của
quản giáo. Quản giáo đội nhà bếp có nhiệm vụ kiểm tra thức ăn trước khi
cho gánh xuống các buồng giam.
Điều thứ hai Ban Quế khiển trách tù đă hành động vô tổ chức, như là thứ
“không có học thức”. Điều thứ ba ông “yêu cầu ai có ư kiến ǵ nêu lên để
Ban Giám thị giải quyết chứ không được hành động như vừa rồi”. Có người
đặt vấn đề về nơi ở, về lao động. Về mức ăn đă được thông báo là bốn sắn
một gạo, trong khi sắn hay gạo cũng chừng ấy. Câu trả lời của Ban Quế
khiến mọi người phải nhắc lại câu nói của Tổng thống Thiệu. “Đừng nghe
những ǵ CS nói...” Ông Quế nói như đinh đóng cột, không một chút lật
lọng nào: Nói bốn sắn một gạo là đúng rồi. Nhưng bốn sắn là sắn khi vừa
nhổ lên gồm cả vỏ, cuống, rễ và đất c̣n bám theo!
Lần tuyệt thực nhịn ăn này đă làm cho số đông anh em tù lên tinh thần để
tiếp tục có những đ̣i hỏi khác hợp t́nh hợp lư, không nhằm sách động
hoặc cố ư chống đối vô cớ.
Đ̣i hỏi tiếp theo là xin Ban Giám thị phải công khai
hóa tài chánh chi thu theo ấn định cấp phát mà mỗi người tù được hưởng.
Kèm theo biện pháp cho đại diện khối tù đến kiểm tra nhà bếp mỗi ngày –
kiểm tra thức ăn có bị lấy cắp bớt không? Nước uống có được đun sôi
không? Cả hai đ̣i hỏi này đều được đáp ứng. Mỗi ngày có hai người được
các dăy nhà luân phiên đề cử, được nghỉ lao động, ra nhà bếp làm công
việc kiểm tra tại chỗ. T́nh trạng có chút khả quan, nhưng không có ǵ
khá hơn. Đói vẫn đói, thiếu vẫn thiếu, bệnh tật vẫn bệnh tật. Cái chết
vẫn lấp lửng đâu đó phía trước. Biết đâu, về lâu về dài, sau tù h́nh sự
sẽ đến tù chính trị, lần lượt thay nhau chung cái ḥm không đáy kia.
Cuộc đấu tranh giành sự sống do đó vẫn tiếp tục bằng h́nh thức này hay
h́nh thức khác.
Về phía Ban Giám thị, họ ra sức t́m cho ra bằng được những “phần tử” mà
họ cho là cầm đầu chống đối, sách động. Những người được nhắm tới là
những ai thường có biểu hiện tiêu cực “chây lười lao động”, hoặc những
người do ăng-ten báo cáo có tư tưởng chống đối.
T́nh trạng gay cấn giữa đôi bên không những không nhẹ
bớt mà ngày càng trầm trọng thêm. Việc chống đối lao động trở thành mục
tiêu công khai khi t́nh trạng sức khỏe ngày một sa sút. Trước t́nh h́nh
đó ban Giám thị tập họp toàn thể tù cải tạo tại hội trường để lại giải
thích, lại vuốt ve, lại hăm dọa. Trước đó Ban Giám Thị đưa ra biện pháp
cấp phiếu quà. Mỗi phiếu nhận quà không được quá 5kg. Nguyên tắc người
nào không vi phạm và đi lao động đều được phát mỗi tháng một phiếu để
gửi về cho gia đ́nh. Trên thực tế đă hơn ba tháng không ai được phát một
phiếu nào.
Trước khi tập họp tại hội trường mọi người đồng ư với nhau là tẩy chay
vụ phiếu quà để không bị Ban Giám thị dùng phiếu quà làm mồi nhử, làm áp
lực. Nhưng rồi tại hội trường có hai người xé rào: Ông B. Ngh. Giám đốc
Nha Nghi Lễ Phủ Thủ Tướng đứng lên bày tỏ ḷng cảm ơn đến ban Giám thị,
nguyện tin tưởng và an tâm cải tạo. Xin Ban Giám thị cho được nhận thư
và quà gia đ́nh mỗi tháng. Có tiếng từ trong đám tù ngồi dưới la lớn:
Quỳ xuống! Quỳ xuống! từ đó ông này có hỗn danh Bửu Quỳ. Người thứ hai
là Đ/tá cựu tỉnh trưởng Vĩnh B́nh, đứng dậy trong tư thế nặng nề mệt
nhọc xin Ban giám thị cho được nhận phiếu quà mỗi tháng và thay v́ phiếu
quà quy định 5kg xin tăng lên 10 hay15 kg để trại viên bồi dưỡng đủ sức
lao động. Ông Đ/tá này đang trong t́nh trạng bị phù thủng nặng, nhiều
người tỏ ra ái ngại và lo lắng cho ông, nên dù rất khó chịu, cũng thông
cảm trường hợp xé rào đó.
Tiến Vào Kamphuchea
Chuyển Trại, Phân Tán Tù
Để phá vỡ t́nh trạng cù cưa căng thẳng ấy, sáng sớm ngày 7.1.1979 toàn
thể tù được phân tán đi các trại khác. Khoảng 100 người cao tuổi hơn
được chuyển sang Phân trại A, số c̣n lại sang trại C. Ba trại A, B, C
nằm ở vị trí đỉnh của một tam giác, cách nhau không xa lắm, có thể đi bộ
được. V́ thiếu phương tiện nên số tù chuyển đi C phải tự khuân vác đồ
đạc và đi bộ hết cả quăng đường. Đây là một trường hợp trái với nguyên
tắc an ninh khi di chuyển tù nhân. Nhưng v́ không có phương tiện, bất
khả kháng, đành chịu!
Phải chăng do một sự t́nh cờ của định mệnh lịch sử để có một ngày trong
đời không ai có thể quên. Ngày 7 tháng 1-1979 vào lúc 5 giờ sáng Hà Nội
cho lệnh động binh với 100 ngàn quân ồ ạt vượt biên giới Tây Nam, tiến
vào Kampuchea lật đổ chế độ Khmer Đỏ của Pol Pôt. Hơn hai tiếng đồng hồ
sau đó, vào lúc 8 giờ sáng, trên 700 tù cải tạo tại Phân trại B, Lam Sơn,
Thanh Hóa được lệnh chuyển trại, phân tán bằng đường bộ, lội qua đường
ṃn và các thửa ruộng. Một số ít đi về hướng phân trại A, số đông c̣n
lại đến phân trại C. Đoàn tù kẻ mang, người vác, áo lạnh, mũ trùm đầu
bước đi rời rạc, nặng nề kéo dài đến hơn cây số. Đi cuối đoàn nh́n ra
phía trước, tôi có cảm tưởng như đám bộ lạc Eskimo đang di chuyển trên
cánh đồng tuyết. Mỗi đ̣an đi cách nhau một khoảng chừng năm trăm thước,
có công an súng dài, súng ngắn đi kèm hộ tống. Súng dài là loại công an
gác tù, súng ngắn K54 là quản giáo. Đến gần trưa cuộc “chuyển quân” hoàn
tất. Bảy trăm tù được biên chế theo tổ đội mới, được chỉ định pḥng ốc,
chỗ nằm.
Các dăy buồng giam ở phân trại C khang trang hơn gấp nhiều lần so với
bên phân trại B. Buồng giam xây bằng gạch, mái lợp ngói, sân trước tráng
xi măng, chỗ nằm có hai tầng. Tầng trên sàn gỗ, tầng dưới là bục xi măng.
Mỗi người một chỗ nằm rộng đúng 80 cm. Trại này được xây dựng trên góc
một g̣ đất cao. Phía trước cổng trại là một đầm nước trồng cây sen và
cây súng, chạy dài như một ḍng suối cạn, bờ cao ngang bề mặt sân trại
khoảng hơn năm sáu mét.
Khu đất trước cổng ngoài ṿng rào nhà tù mới được xây
một dăy xà lim nhiều pḥng bằng đá lấy từ ngọn núi Mành cách đó khoảng
non một ngàn thước. Xà lim được xây bằng mồ hôi nước mắt của hàng trăm
tù cải tạo đẩy xe cút kít chở đá về trong suốt mấy tháng. Họ xây xà lim
để giam nhốt chính họ, giam nhốt chính những đồng đội, chiến hữu của
ḿnh. Người “khánh thành” dăy xà lim này là Ông Nguyễn Mậu (*), với ba
tháng kỷ luật cùm chân, nằm trong bóng đêm với rệp. Dăy xà lim là một
công tŕnh mới trong một số công tŕnh khác như “ao cá bác Hồ” dưới chân
núi Mành, sân cây cảnh trước cơ quan v.v...
Song Nhị
[(*) Xem thêm Phụ đính 2, trang 459]
Trở về
Nửa Thế Kỷ Việt Nam
art2all.net
|