Thân Trọng Thủy

 

LÀM

 

 

Làm nghĩa là ǵ? Đại Nam Quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của (viết đúng như ở b́a gốc là :Đại Nam Quấc âm tự vị của Húnh Tịnh Paulus Của) giải nghĩa như sau: Làm là dấy việc, gầy việc, ra tay, ra công, chuyên chủ việc ǵ. Định nghĩa đó có vẻ không ổn lắm, v́ ta lại có thể thắc mắc thế dấy việc, gầy việc là ǵ? C̣n nữa, ai cũng biết có khi làm  nhưng chẳng hề ra tay mà chỉ ra chân (như làm bàn chẳng hạn), chẳng hề ra công (như làm cha, làm mẹ, làm anh, làm em…) hay chẳng hề chuyên chủ việc ǵ cả (như làm ǵ, làm sao, làm chi, làm ghi…) Thiết tưởng khó mà t́m ra được một định nghĩa vừa ngắn gọn vừa đầy đủ. Một số từ điền tiếng Việt hiện đại có phân biệt 12 nghĩa khác nhau, nhưng có lẽ những cuốn từ điển đó chỉ phân loại một cách khái quát mà thôi chứ thực tế - cũng như động từ ăn và động từ nói-  động từ làm chắc là có nhiều nghĩa hơn.

 

1. Trước hết làm được dùng thay thế cho nhiều động từ khác nhau và, v́ thế, nghĩa của nó cũng rất đa dạng :

 

*  Ăn : Làm một chén, làm một bữa, làm một bụng, làm ba miếng.

Nhưng xin đừng lỡ miệng mà nói :”Làm bậy ba miếng rồi đi cho kịp giờ”, nói thế người ta cười cho đó, v́ “làm bậy ba miếng” hiểu theo nghĩa xấu là… eo ôi, ẹ lắm!

* Uống : Làm một ngụm, làm một lon, làm một vại, làm vài ly. Ông chồng rất khôn khi biết cách trả lời vợ như thế nầy: “Anh đâu có uống nhiều, anh chỉ làm ít ly thôi mà, say đâu mà say!” Nhưng làm ít ly nghĩa là làm y lít!

*  Ngủ : Làm một giấc.

*  Hát : Làm tuồng.

*  Học : Làm ba chữ .

Tưởng làm ba chữ mà chơi vậy / Bỗng chốc nên quan đă sướng chưa! (Nguyễn Công Trứ / Thua bạc)

Làm ba chữ ở đây c̣n có nghĩa là đánh ba đồng ba trự, tức là đánh bạc.

*  Đánh cờ, đánh bài : Làm một ván.

*  Du lịch : Làm một chuyến ṿng quanh châu Âu.

*  Gây gỗ, la mắng: Làm một trận.

*  Đọc, viết: Làm một mạch mười trang không nghỉ.

*  Bắn: Làm một phát.

*  Đánh, đấm: Làm một cú ngay giữa  mặt.

*  Ghi chép :  Làm sổ.

*  Sáng tác :  Làm thơ, làm văn.

*  Viết  :  Làm đơn, làm giấy.

*  Nghiên cứu & viết: Làm sử, làm ngôn ngữ.

 “Chúng tôi vốn là dân làm ngôn ngữ nên nội dung các nhận xét có nghiêng hẳn về phía ngữ học…” ( Nguyễn Đức Dương / T́m về linh hồn tiếng Việt )

*  Chế tạo :  Làm nước mắm, làm hộp quẹt.

*  Xây cất  : Làm nhà.

*  Chất, đổ :  Làm một đống choán hết lối đi.

*  ( Mụt nhọt ) sung tấy : Làm mủ.

    [ Đừng lầm với Làm mũ ( dấu ngă ) là làm nón mũ .]

 *  Bài tiết: Làm một băi, Làm xấu.

 *  Bài tiết không kiềm chế được: “Ông cụ lại làm trong quần rồi!”

 

2.  Làm  là thực hiện một vai tṛ, trong tuồng, trong kịch hoặc ngoài đời :

 

-  Sử dụng vào một mục đích nào đó :

*  Lấy đất làm chiếu, lấy chợ làm nhà.

*  Lành làm gáo, vỡ làm môi.

Áo vải thô nặng trịch, lạnh làm mền, nực làm gối, bốn mùa thay đổi bấy nhiêu; khăn lau giắt đỏ ḷm, trải làm chiếu, vận làm quần, một bộ ăn chơi quá thú (Nguyễn Công Trứ / Hàn nho phong vị phú)

 

-  Đóng vai: “Lan làm Trưng Trắc c̣n Mai làm Trưng Nhị.      

 

-   Ở một địa vị nào đó, giữ một vai tṛ nào đó :

* Làm dâu, làm rể.

Làm dâu khó lắm chị ơi /Vui chẳng dám cười, buồn chẳng dám than. (Ca dao).

* Làm cha làm mẹ, làm ông làm bà, làm con làm cháu…

Ta thường nghe nói : “Tao mà nói láo th́ tao làm con mầy!”, hoặc khi nghe nói:”Nè, đừng làm cha nghe không!”, hoặc “ Đừng có làm trời làm đất!” th́ phải hiểu là “Đừng có mà chơi trội! Đừng có muốn làm ǵ th́ làm”  chứ không phải chữ “cha” hay chữ “trời, đất”ở đây hiểu theo nghĩa thông thường đâu. 

* Làm anh làm chị (khác với làm anh chị tức là làm du côn du đăng:

«Làm anh ăn trước bước đầu / Vẽ vời em út ngơ hầu thay cha » (Ca dao).

« Làm anh khó lắm/ Phải đâu chuyện đùa/ Với em gái bé / Phải người lớn cơ! /.. Làm anh thật khó / Nhưng mà thật vui / Ai yêu em bé / Th́ làm được thôi. » ( Phan Thị Thanh Nhàn- Làm anh ).       

* Làm trai th́ phải:

"Làm trai quyết chí tu thân / Công danh chớ vội, nợ nần chớ lo."

"Làm trai cho đáng nên trai / Xuống Đông đông tĩnh, lên Đoài đoài tan ( Ca dao )."

chứ đừng như thế nầy:

"Làm trai rửa bát quét nhà / Vợ gọi th́ dạ:”Bẩm bà tôi đây”  th́ nhục lắm!

* C̣n làm gái th́:

"Làm thân con gái chớ thương chồng người."

và                       

"Làm thân con gái chớ ăn trầu người (Ca dao)."

"Làm hoa cho người hái, làm gái cho người cḥng (=ghẹo)",  nhưng mẹ dặn ai mời trầu th́ đừng ăn. 

*  Làm vua làm quan, làm vương làm tướng, làm ma làm quỉ…

Tôi làm trạng nguyên, anh tể tướng..”(Nguyễn Vỹ / Nhớ Trương Tửu)

Ta thà làm quỉ nước Nam c̣n hơn làm Vương đất Bắc." (Trần B́nh Trọng). 

 

* Làm bạn, làm chủ, làm thuê, làm thầy, làm thợ,  làm người :

"Trời đất sinh ra chán vạn nghề / Làm thầy làm thợ với làm thuê." (Tú Xương / Tự trào)

- Làm chủ một hăng buôn là làm với tư cách người chủ, làm chủ t́nh thế là giữ thế mạnh, thế chủ động cho ḿnh.  Trái với làm chủ là làm thuê tức là làm cho người khác để được trả công.

- Làm khách thường dùng với nghĩa : làm ra vẻ người lạ, không thật t́nh ( trong tiệc tùng, ăn uống).

- Làm người :

« Kiếp sau xin chớ làm người/ Làm cây thông đứng giữa trời mà reo .» (Nguyễn Công Trứ) 

Có một câu của Đỗ Phủ ai cũng nhớ: “Nhân sinh thất thập cổ lai hy”, Cụ Đồ Chiểu đă dịch câu đó thành văn vần rất hay: “ Làm người trong cơi gió mưa / Bảy mươi mấy mặt người xưa thấy nào” (Nguyễn Đ́nh Chiểu / Lục Vân Tiên). 

Nguyễn Công Trứ muốn kiếp sau làm cây (cây thông), c̣n một tác giả khác lại muốn làm cá, làm chim:

“Hoặc làm cá bể đông vùng vẫy/ Hang cửu nguyên t́m lấy nương thân/ Làm chim bay chín tầng vân/ Dọc ngang trời rộng mười phân thanh nhàn (Hồng Vân/ tự thán). 

Nhưng “ làm trâu làm ḅ” chắc không ai muốn, v́ không ai muốn ngu (ngu như ḅ), lại càng không muốn bị người khác gọi ḿnh là ḅ, là trâu, như cái ông cử nhân trong giai thoại sau đây :

 Một ông Cống mới thi đỗ, đệ đơn lên huyện xin làm thịt trâu để khao. Lúc ấy đang có lệnh cấm mổ trâu. Bà huyện Thanh Quan (thường hay thay chồng giải quyết đơn từ) muốn đùa ông Cử nên phê vào đơn rằng:

Người ta th́ chẳng được đâu/ Ừ th́ ông Cống làm trâu th́ làm”.

Ông Cống nhà ta chắc phải ngậm bồ ḥn làm ngọt v́ “làm trâu” ở đây c̣n có nghĩa là “làm con trâu” (cho người ta cỡi) chứ đâu phải chỉ là làm thịt trâu.

Nhưng lỡ kiếp sau có làm chó thật th́ cũng xin:

“Nếu làm chó, hăy làm chó của samourai” (tục ngữ Nhật)

Hoặc ao ước như một nhà thơ sinh viên Huế thuở nào:

“Kiếp sau nếu làm chó, xin được là chó berger, c̣n nếu làm người xin được là người sư  phạm."

 

* Làm mai là làm trung gian trong hôn nhân. Người ta cho rằng làm mai là một trong bốn cái ngu ở đời:

"Ở đời có bốn cái ngu / Làm mai, gánh nợ, gác cu, cầm chầu."(Ca dao)

 

* Định vị trí, phân ngôi thứ: Làm vợ cả, làm vợ thứ, làm lẽ, làm thiếp, làm bé, làm chủ, làm tớ…

Gió xuôi chạy lá buồm mền / Muốn vô làm bé biết bền hay không?" (Ca dao)

Tiên Dung nói với Chử Đồng Tử: “Chàng có muốn lấy nàng kia làm thứ thất không?” 

“Đời Hùng Vương có một người tên là Mai An Tiêm, người ngọai quốc, mới được 7 tuổi, do thuyền buôn chở tới. Vương mua về làm đầy tớ” (Hồ Đ́nh Chữ / T́m hiểu thần thoại và cổ tích thời Hùng Vương)

“Người hiếu nữ tên gọi là Vương Thúy Kiều v́ việc cứu cha nên phải bán ḿnh làm thiếp cho khách họ Mă lấy số tiền sính lễ là bốn trăm năm mươi lạng bạc." (Bản dịch Kim Vân Kiều nguyên truyện)

 

  3.  Làm  là thực hiện một công việc, một nghề nghiệp nào đó :

 

* Chuyên về một nghề : làm thợ, làm báo, làm quan, làm công chức, làm chính trị, làm cách mạng.

*  G̣, sửa khung xe: Làm đồng

*  Nấu ăn: Làm bếp

*  Xếp đặt pḥng, giường ngủ: Làm pḥng, làm giường

*  Vỡ đất: Làm đất

*  Cày cấy, trồng trọt: Làm ruộng, Làm rẩy

*  Đốn củi: Làm củi

*  Chữa bệnh: Làm thuốc

* Tổ chức, cử hành: Làm lễ

*  Sửa sọan thức ăn :  Làm cơm, làm gà.

* Sửa sọan bữa ăn lớn để cúng giỗ hoặc cưới xin: Làm cỗ, làm tiệc, làm chay.

“Con c̣ mắc ṛ mà chết / Con quạ ở nhà mua nếp làm chay .”(Ca dao).

* Cúng vong hồn lúc măn tuần: Làm tuần

* Bán trôn nuôi miệng: Làm đĩ, làm gái, làm tiền

* Nâng giá, đẩy giá lên để mong hưởng lợi: Làm giá

* Nhận việc làm xong mới nhận tiền công, không tính thời gian: Làm khoán

 

4.   Làm  là thực hiện một hành vi, hành động nào đó :

* Ra dấu: Làm hiệu

* Làm bộ làm điệu để ṿi vĩnh v́ biết được nuông chiều: Làm nũng

* Bức bách: Làm ngặt

* Khiến người khác phật ḷng: Làm mếch ḷng

* Bố thí, giúp đỡ người khác: Làm phước, làm phúc, làm ơn

* Làm chuyện lếu láo, hống hách: Làm tàng

* Lên mặt tự cao tự đại: Làm phách

* Bắt bí, lấn tới khi đă được lợi thế: Làm già

Đừng lầm với “làm nhà” mà ở thôn quê miền Trung người ta phát âm là “làm già”. Có người nói vui rằng khi  dự tính chi phí làm nhà phải tính già lên một chút, v́ thế nào cũng sẽ có chi phí phát sinh không lường trước được. Rơ ràng là làm già chứ không thể làm non được.

* Giữ một chức vụ, nhưng thực tế không làm ǵ cả: Làm v́

* Đưa bóng vào lưới của đối phương : Làm bàn

( Bàn đây là bàn thắng, không phải là làm bàn, làm ghế như trong câu đối thoại sau: « Nếu sai lời tao sẽ làm ghế cho mầy ngồi. »

* T́m cách ḥa thuận với người đă giận dỗi với ḿnh: Làm lành

Chồng giận th́ vợ làm lành / Miệng cười hớn hở rằng: Anh giận ǵ?/ Thưa anh, anh giận em chi / Muốn cưới vợ lẽ em th́ cưới cho” (Ca dao)

* Giả vờ: Làm bộ

* Giả vờ không quen không biết: Làm ngơ, làm lơ

“Đă không như là mơ, nếu t́nh cờ gặp xin cứ làm ngơ”(Trần Thiện Thanh / Gặp nhau làm ngơ)

* Nêu mẫu mực cho người khác theo: Làm gương

« Cho hay những kẻ tài t́nh lắm / Trời bắt làm gương để thế gian » (Phạm Quí Thích / Tổng vịnh truyện Kiều)

* Đứng ra xác nhận những điều ḿnh đă chứng kiến: Làm chứng

* Để chứng thực một điều ǵ: Làm bằng

* Biếu xén vật ǵ để làm vui ḷng ai: Làm quà

* Tô điểm sắc đẹp, sự quyến rũ cho ḿnh : Làm đẹp, làm dáng, làm duyên.

* Gây khó khăn cho người khác : Làm khó

* Quấy nhiễu, làm rộn người khác : Làm phiền

* Làm chuyện sai quấy: Làm bậy

“Do đói quá, người ta đă làm bậy” (Vơ Hương An / Chuyện đời vay trả)

“Chúng bây loài bọ gậy / Ở nước chỉ hay quấy / Xuống dưới đă ăn càn / Lên trên lại làm bậy » (Khuyết danh / Vịnh con muỗi)

* Làm cho hănh diện, tự hào: Làm đẹp mặt

“Mong cho anh sớm thành tài / Trước làm đẹp mặt nở mày mẹ cha…” ( Ca dao)

* Gây tiếng động : Làm ồn

Tuy nhiên, trái nghĩa của làm ồn là làm thinh, mà thinh (= thanh) lại có nghĩa là tiếng!

-  Làm thinh là t́nh đă thuận

-  Lần tiếng sẻ hỏi ai đàn tá?/ Dừng tiếng đàn nấn ná làm thinh’’

(Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị, bản dịch của Phan Huy Thực)

Sở dĩ có sự “tréo cẳng ngỗng” đó là do chữ nầy nguyên là hàm thinh, hàm nghĩa là ngậm như trong hàm huyết phún nhân (=ngậm máu phun người), lâu ngày hàm thinh bị dùng chệch thành làm thinh.

 

5.  Làm  với một vài sắc thái chỉ cách thức, mức độ thực hiện:

*  Làm qua loa cho có lệ: Làm lấy rồi, làm lấy có

*  Làm không chú tâm, không kỹ lưỡng : Làm ẩu.

Bắt chước một cách giả trá và làm tổn hại đến cái chân thật : Làm giả

*  Làm không suy nghĩ, không cẩn thận :  Làm bừa, làm đại.

*  Làm lần đầu, chưa phải chính thức, c̣n sửa : Làm nháp

*  Tự ḿnh làm, không nhờ ai khác giúp: Làm lấy

* Làm cho mau rồi, cho xong chuyện: Làm phứt, làm phứt cho xong.

* Giải quyết rạch ṛi cho rơ trắng đen: Làm cho ra ngô, ra khoai

* Phóng đại quá đáng một sự việc để gây bất ḥa, tranh căi: Làm to chuyện

 

6. Tính đa nghĩa của làm c̣n thể hiện ở các trường hợp dùng với nghĩa bóng, nghĩa mở rộng, nghĩa cũ, nghĩa mới, và thú vị nhất là dùng như tiếng lóng, dùng trong thành ngữ, tục ngữ .

 

* Tạo ra nhiều tiền của: Làm giàu

* Phát triển, làm cho phong phú: Làm giàu vốn từ vựng, làm giàu kiến thức.  

* Bỏ số lẻ thập phân hoặc bách phân của một con số: Làm tṛn (rounding)

* Thực hiện đầy đủ (nhiệm vụ): Làm tṛn

Làm tṛn c̣n được sử dụng như “ thực hiện”, “ hoàn thành”:

…. “Xem như đang chết dần/ Người không biết xoay trở/ Khi công việc lở dở/ Hay đau khổ v́ yêu/ Người không dám biết liều/ Để làm tṛn mộng ước…(Thân Trọng Sơn / Đừng để ḿnh chết dần chết ṃn – chuyển ngữ từ bản tiếng Pháp thơ của Pablo Neruda)

* Làm thịt  là giết ( thú vật ) nhưng Bọn côn đồ đă làm thịt cô gái  th́ hiểu là cưỡng bức.

* Làm cỏ  là nhổ cỏ, giẫy cỏ và c̣n có nghĩa là tiêu diệt, tàn sát.

* Làm tiền không phải chỉ là kiếm tiền mà c̣n hàm ư kiếm tiền một cách bất chính. C̣n nếu kiếm tiền bằng “vốn tự có” th́ làm tiền đồng nghĩa với làm gái hay làm đĩ.

* Làm nhục là làm tổn hại danh dự người khác bằng lời nói, hành động, sức mạnh, uy quyền. Tuy nhiên nhiều lúc người phụ nữ bị làm nhục th́ không phải chỉ danh dự bị tổn hại !

 

- Một số từ xưa ngày nay ít dùng, có thể khó hiểu :

* Làm lưng :  Giữ làm vốn liếng, tạo số tiền ban đầu để làm ăn.

“ Đêm hôm cũng giấn ḿnh đi / Sang đây kiếm ít đem về làm lưng (Hồ Huyền Quy /Truyện Trinh thử)

* Ở Huế trước kia có một từ rất hay mà hiện nay ít thấy dùng: Làm hoanh.

“ – Chiều nay mời cả nhà đi kéo ghế ở “Cháo ḷng Đồng Ư”. Tôi bao.

“_ Này, không có tiền th́ đừng làm hoanh nghe!”

 

-  Ngược lại, một số từ mới xuất hiện, ban đầu là tiếng lóng rồi phổ biến dần :

* Làm phao :Lén lút chuẩn bị tài liệu để quay cóp trong pḥng thi.

* Làm luật : Nộp tiền hối lộ cho quản lư bến băi hoặc cho cảnh sát giao thông.

* Làm việc  : nghĩa là bị thẩm vấn

Nó vừa được mời lên phường làm việc với công an.

 

- Trong quan hệ nam nữ, để chỉ “ chuyện ấy ” có khi không cần phải nói làm t́nh mà chỉ là làm  hay làm ăn :

- Bố đă 75 tuổi rồi, đâu c̣n làm ăn ǵ được nữa!

- (Bạn bè hỏi nhau): “Tối qua mầy chở nhỏ X. đi chơi, có làm ăn ǵ được không?”

- (Trong pḥng, nữ thúc giục nam) : “Làm đi anh!”

- “Chị Xấu ôm anh Giàu khóc, nói: “Ôi chồng ơi, chồng ơi, chó mèo c̣n biết làm, răng anh (sao anh) không biết?” ( Nguyễn Quang Lập / Xóm đàn bà hoang).

- “Anh nghĩ coi, ngày chui lủi trong rừng, túi (tối) về uống bát rượu, con cái ngủ hết, điện đóm không có, tui với mạ hắn rủ nhau mần cái hè (làm một cái nhé), rứa là đẻ thôi”.( Nguyễn Thế Thịnh / Đánh kẻng gọi con).

 

“Làm” được gọi là “Mần” ở một số địa phương miền Trung.

Mần việc = Làm việc; Mần ăn = Làm ăn.

Nhiều người nghe không hiểu câu nầy:

“Đôi ta thương chắc mần ri/ Cha mẹ mần rứa anh th́ mần răng”(Ca dao) (thương chắc = thương nhau; mần ri = như thế này; mần rứa = làm thế; mần răng = làm sao).

- « Tau ở nhà tau, tau nhớ mi/ Nhớ mi nên phải bước chân đi/ Không đi mi nói răng không đến/ đến th́ mi nói  đến mần chi  /Mần chi tau đă mần chi được/ Mần được tau đă mần lắm khi (Nguyễn Công Trứ/ thư gởi bồ nhi)

Có một giai thoại: Một hôm ông nghè Tân đi thanh tra các hạt, nhân ghé vào một quán hàng, gặp một người đàn bà nhờ ông viết hộ một cái đơn khai để nộp tiền xin chôn trâu. Ông nghè Tân hỏi đầu đuôi mới rơ quan phủ nơi đó đă ra lệnh rằng hễ ai có trâu chết phải nộp 5 quan. Ông nghè liền viết hộ người đàn bà lá đơn như sau:

“Tôi là phận gái nữ nhi/ Có con trâu chết tôi đi tŕnh ngài/ Vội vàng váy trụt đơn rơi/ Tôi mượn một người mần cái đơn ni/ Quan Tri kia hỡi quan Tri/ Xin quan chấp lấy đơn ni làm bằng/ Dù quan có hỏi mần răng/ Rồi quan cắn cỏ lạy thằng mần đơn”

Người đàn bà kia không biết chữ, cứ cầm cái đơn thẳng đến phủ. Quan phủ xem xong toát mồ hôi, hỏi cặn kẽ rồi cho lính đi ḍ xem ai là kẻ làm đơn. Đến khi biết tác giả bài thơ là quan thanh tra, quan phủ vội vàng đi đón rước rồi van lạy sói trán! Từ đó trong phủ nếu có trâu ḅ chết th́ cứ cho chôn, phủ không dám ṿi tiền nữa.(Trần Trung Viên/ Văn đàn bảo giám)

- Tay cầm quạt giấy che trăng/ Thiếp thương chàng vô tận, biết mần răng đặng chừ (=biết làm sao được bây giờ) (Ca dao)

 - Ví dù đèn tắt đă có trăng/ Khổ em th́ em chịu, biết làm răng đặng chừ ( Bài ca quê hương – Tố Hữu )

 

Đề cập đến cái hay, cái đẹp, cái tinh túy của tiếng Việt, ngoài chữ “làm thinh” nói ở đọan trên, chúng tôi xin nêu thêm một vài từ kết hợp với ‘làm’ nữa:

 

a/.- “Làm đôi” bao gồm hai nghĩa đối lập nhau:

- “Tách làm đôi” và  “Gộp chung làm một” (một đôi) :

Cô kia cắt cỏ một ḿnh/ Cho tôi cắt với chung t́nh làm đôi/ Cô c̣n cắt nữa hay thôi/ Cho tôi cắt với làm đôi vợ chồng” (Ca dao)

Tách làm đôi th́ ta có hai phần, c̣n “làm đôi vợ chồng” th́ lại hàm ư gộp lại.

b/.- Diễn tả một ư phủ định bằng một câu hỏi:

- Làm sao em hiểu được? có nghĩa là: Em không hiểu đâu.

“ Những lừa lọc làm sao Em hiểu được/ Ḷng thơ ngây trong sáng ánh thủy tinh ( Đặng Lệ Khánh / Nh́n cung tên, nhớ Mỵ Châu)

c/.- Những từ kết hợp “làm sao”, “làm cho”, “làm chi” là những từ thường được nhắc đến trên cửa miệng, do đó ta gặp nhiều trong ca dao, tục ngữ, và thơ văn: 

* Làm sao = Cớ sao, tại sao: “Làm sao bác vội về ngay”(Nguyễn Khuyến/Khóc Dương Khuê)

* Làm sao = như thế nào: “Nơi ăn đă vậy, nơi nằm làm sao?” (Ca dao)

* Làm sao = làm thế nào, làm cách nào, liệu cách nào.

- “Làm sao cho đỏ môi nhau th́ làm” (Ca dao)

- “Anh quê mùa, tay chân đen bùn lấm/ Làm sao thành hoàng tử đánh thức em…(Tràm Cà Mau / Em ngủ giấc thần tiên trên rơm)

* Làm sao = Ǵ, bao nhiêu

“Quan chẳng quan th́ dân, chiếu trung đ́nh ngất ngưởng ngồi trên, nào lềnh, nào trưởng, nào bàn ba, xôi làm sao, thịt làm sao, đóng góp là làm sao, một năm mười hai tháng thảnh thơi, cái thủ lợn nh́n thầy đă nhẵn mặt…”(Nguyễn Công Trứ)

* Làm chi:

- “Chàng ơi phụ thiếp làm chi/Thiếp là cơm nguội đỡ khi đói ḷng (Ca dao)

- “Mười lăm năm ấy bao nhiêu sướng/ C̣n trách làm chi đứa bán tơ” (Từ Đạm / Thơ vịnh Kiều)

- “Tui không điên, cũng không hề bối rối / Ngó làm chi cho tủi nhục đau thương…” (Nguyễn Thị Hoàng / Chi lạ rứa)

-  Làm chi cũng chẳng làm chi

Dẫu có làm ǵ cũng chẳng làm sao!

Làm sao cũng chẳng làm sao,

Dẫu có thế nào cũng chẳng làm chi! (Ca dao)

* Làm ghi :

- “Của tin gọi một chút nầy làm ghi”( Kiều )

- “ Trời cao biển rộng đất dày / Núi Nùng sông Nhị chốn nầy làm ghi” (Ca dao).

 

d/.- Làm ǵ  không phải chỉ có ư hỏi mà c̣n là :

* Chối bỏ, phủ nhận: Làm ǵ có!

* Thách thức: Làm ǵ nhau nào!

Có rất nhiều thành ngữ, tục ngữ quen thuộc liên quan đến động từ làm  này :

 *Chín bỏ làm mười, dám làm dám chịu, ai làm nấy chịu, bụng làm dạ chịu, dám nghĩ dám làm

 

Những năm gần đây ta hay gặp một thành ngữ chế diễu hạng người chỉ tay năm ngón, chỉ biết sai khiến hay xúi giục người khác làm, c̣n ḿnh th́ không dám làm hoặc làm không được:

« Dám (Giám) đốc chứ không dám làm »

* Làm cỗ cho ma ăn : Làm khó nhọc để người khác hưởng.

* Quít làm cam chịu :Người nầy làm mà người khác lănh hậu quả.

* Cưa sừng làm nghé :  Làm ra vẻ c̣n tơ, c̣n trẻ.

*  Làm bia đỡ đạn : Chịu búa ŕu dư luận, chịu nguy hiểm thay người khác.

   …

Chúng quen thuộc đến độ dễ dàng đi vào ngôn ngữ hàng ngày của mọi người.

 

Ta hăy nghe một ông chủ la rầy thuộc cấp của ḿnh để thấy rơ điều đó :

 

“ Tôi đă bảo là cứ làm như tôi nói chứ đừng làm như tôi làm mà anh có nghe đâu. Nếu anh làm như tôi làm th́ anh lên làm sếp cho rồi! Anh nên nhớ làm th́ có chúa múa th́ có trống mà anh làm vậy coi sao được, làm thử rồi làm thiệt, làm lui làm tới, làm đi làm lại, làm rồi làm nữa, làm măi làm hoài mà cứ làm sai, làm hư, làm trái, làm thừa làm thiếu, làm quanh làm quất, làm tưới hột sen, chẳng có trách nhiệm ǵ cả. Lại c̣n dám nói “làm cho lắm tắm cũng ở truồng” nữa chứ! Nếu anh siêng năng chăm chỉ một chút th́ có khi tôi cũng nghĩ lại mà chín bỏ làm mười. Đằng này anh là cái thứ làm th́ ốm mà đâm cốm th́ siêng. Thật là đồ làm dối, làm biếng, làm lấy có, làm cho có làm, làm lấy rồi, làm tào lao, làm qua quít, làm bỏ mứa, làm ẩu xỉ tả, làm ẩu làm tả, làm bậy làm bạ, làm cho có lệ, ăn vặt quen miệng làm biếng quen thân, làm qua loa, làm qua-loa-rờ-măng, làm như nhà tṛ giữ nhịp;  người đâu mà ăn th́ như rồng cuốn, nói như rồng leo, mà làm th́ như mèo mửa. Lại c̣n làm bộ làm tịch, nào ai làm t́nh làm tội ǵ anh mà mỗi lần nói động tới là anh làm mặt sưng mày sỉa, anh làm ḿnh làm mẩy; làm kinh doanh mà cứ như làm văn nghệ không bằng, việc cần làm anh không làm, anh đi làm chuyện ruồi bu, anh ra mặt dạy tôi phải biết làm việc thiện, phải biết làm phúc à? Thế anh không nghe người ta nói làm phúc phải tội, làm phúc quá tay ăn mày không kịp à? Thôi không nói nhiều.  Làm trong giờ của nhà nước mà như thế th́ kể từ nay anh phải làm thêm ngoài giờ, làm tăng ca, ăn đến nơi th́ làm phải cho đến chốn, làm cho có mưa gió mà ăn chứ làm cái kiểu đó th́ tôi biết ăn làm sao nói làm sao với cấp trên đây? Tôi nói vậy anh nghe lọt lỗ tai th́ tốt, c̣n nếu anh muốn làm lại cuộc đời, muốn t́m nơi khác để làm quan rồi ngồi không mà ăn được lộc vua, ở chùa ăn được lộc phật, th́ tùy anh, tôi không ép.”

 

Và đây là câu nói lầm bầm của anh nhân viên khốn khổ : “Đúng là đồ làm lớn làm láo, ỷ thế làm ông chủ rồi tha hồ làm tàng, làm phách, làm ta đây, làm mặt làm mày, làm mưa làm gió, làm hùm làm hổ. Rơ ràng là giận ai đâu rồi đem ḿnh ra làm cục kê, làm bia đỡ đạn. Tưởng ổng ăn nên làm ra, tay trắng làm nên sự nghiệp th́ cũng biết nhón tay làm phúc làm phước với kẻ ăn người làm trong sở, nào dè… c̣n lâu ông ấy mới biết làm phúc: làm phúc nơi nao, cầu ao chẳng bắc. Thú thật là đă có lúc ḿnh quyết làm cho ra lẽ, làm cho ra ngô ra khoai, bởi v́ nghĩ ḿnh đây: Vốn đă biết làm thân kẻ khó/ Có dám đâu đánh đọ với giàu (Bần nữ thán), nhưng lúc đói chẳng ăn vụng, lúc túng chẳng làm càn. Phải chi ḿnh biếng nhác, trễ năi làm hư việc của ổng th́ ḿnh cũng đành bụng làm dạ chịu, ai làm th́ nấy chịu, v́ xưa nay ḿnh là kẻ dám nghĩ dám làm, dám làm dám chịu. Đằng này ḿnh thấy ḿnh vẫn luôn luôn làm tốt, thậm chí làm quá tải, lại c̣n làm dâu cả trăm họ mà ổng c̣n chưa vừa ḷng. Ḿnh làm vậy có khác chi làm đầy tớ không công. Ngày ngày làm như đánh vật, làm không kịp thở ăn chẳng kịp  nhai ( Lục súc tranh công ), làm đổ mồ hôi sôi nước mắt, làm ngày làm đêm, làm thâu đêm suốt sáng, làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm, ḿnh vẫn hiểu rằng tay làm hàm nhai tay quai th́ miệng trễ nên luôn luôn làm cật lực, làm hết sức ḿnh, lúc nào cũng vừa làm vừa học, đâu có như người ta làm chơi mà đ̣i ăn thiệt, làm chung mà đ̣i ăn riêng, làm khi lành để dành khi đau chứ đâu có làm đồng nào xào đồng đó, chẳng những một ḿnh ḿnh làm mà c̣n huy động cả nhà góp công góp sức nữa: Thế mà cả gái trai già trẻ/ Đều c̣ng lưng làm nghé làm trâu (Ca dao). Thế mà đói vẫn hoàn đói. Thật là hay làm th́ đói hay nói th́ no. Ổng đă làm mặt lạ với ḿnh, làm tổn thương ḷng tự trọng của ḿnh, nói những câu như giọt nước làm tràn ly, ḿnh c̣n biết làm sao đây hở trời! Thật đúng là làm ơn mắc oán! "

 

 

Một từ với 12 nghĩa ghi trong từ điển ( như đă nói ở phần đầu ) xem ra đă là nhiều. Vậy mà chịu khó t́m thêm một chút bài viết này đă ghi nhận trên 80 nghĩa và chắc chắn là chưa hết. Ai dám bảo là tiếng Việt nghèo ?

 

   Thân Trọng Thủy

 

  

trang thân trọng thủy

art2all.net