|
Trần Kiêm Đoàn
NẺO ĐẠO VÀO THƠ

Có bao nhiêu người yêu thơ,
làm thơ và đọc thơ th́ có bấy nhiêu lối nghĩ về thơ. Lối nghĩ, cách nh́n
và mức độ cảm xúc về thơ được nói lên thành lời là “định nghĩa” về thơ.
Thơ cũng như t́nh yêu; tần số rung động, bản chất cá nhân, hoàn cảnh
riêng và căn cơ biệt nghiệp vốn đă không ai giống ai th́ dẫu là ca dao
tục ngữ cũng riêng một góc trời, không có hai sự rung động kết tụ bởi
tâm cảm riêng tư xuất hiện hay diễn đạt giống nhau như khuôn đúc! Thơ là
sự khai sinh độc đáo của suối nguồn cảm xúc nên tâm thức thế nào th́ làm
ra thơ ra thế ấy. Ngay cả thời Thịnh Đường ở Trung Hoa, thơ ca phát tiết
như suối nguồn bất tận, thi sĩ xuất hiện nhiều đến nỗi nhân gian cạn cả
giấy mực giấy mực đề thơ. Trào lưu thơ xuất hiện thiên h́nh vạn trạng
nhưng tựu trung cũng chỉ có ba h́nh thức thơ ca là thanh thi, thường thi
và tục thi. Thanh thi gần với đạo (thi = ngôn + tự). Chữ nghĩa đề thơ
phát xuất từ cơi tâm không rỗng lặng cửa chùa vẫn được cho là thanh tú
nhất. Thi sĩ cửa chùa càng vô tâm (đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền – TNT),
càng kiệm lời (thể Haiku), càng bất chấp (khuynh hướng Đạo Nguyên)… th́
thơ càng lắng đọng (Quán Tự Tại) và lan tỏa tới vùng trời không biên
giới (Vô Tận Ư)!
Từ thuở b́nh minh của ngôn ngữ, khái niệm thơ là lời tự t́nh trau chuốt,
là nét nhân văn trang điểm cho cách diễn đạt thanh tao đầy cảm xúc trong
xă hội cổ sơ qua h́nh thức Kinh Thi ở Trung Hoa hay ca dao tục ngữ xứ
Việt ḿnh. Xă hội càng tiến lên với những nhu cầu quan hệ, chinh phục đa
dạng và phong phú hơn th́ thơ là sự trổ hoa của dáng vẻ đời sống tinh
thần và tâm linh thanh khiết. Sự xuất hiện sớm nhất của các h́nh thái
thi ca tâm linh là cổ thư Vệ Đà ở Ấn Độ, Kinh Thi, Đạo Đức Kinh; thơ
Thiền ở Trung Hoa, Nhật Bản.
Các thiền sư vào thơ qua nẻo đạo nên tiếng thơ thường lắng đọng một cách
hồn nhiên mà thăm thẳm diệu lư đến… tự tại, an nhiên như tự t́nh hơi thở
với cảm xúc độc sáng thi ca. Hương thiền đến với vô ngôn và vị thiền
chan ḥa với tâm hư rỗng lặng nên dáng vẻ thơ thiền vượt ra ngoài giới
hạn của lư tính nhân sinh:
Chớ nghĩ Xuân tàn hoa rụng hết;
Hôm qua sân trước một cành mai…
(Mạc vị Xuân tàn hoa lạc tận;
Đ́nh tiền tạc dạ nhất chi mai…)
Măn Giác Thiền sư.
Đă có biết bao nhiêu tác phẩm thiên hạ danh văn nói về thơ Thiền nhưng
thảy đều là những chiếc áo choàng mây bay lộng gió bởi Thiền – tự thể
tánh thi ca – là bất trụ ngôn từ, chẳng dựa vào chữ nghĩa hay bất cứ
hồng nhan sơn hà đại địa nào cả mà là một sự giao ḥa tuyệt đối giữa “ta
và em”… ngă - pháp viên dung… Chớ tưởng em già tàn nhan sắc. Gặp em nh́n
ánh mắt vẫn long lanh.
Đi dưới trời mưa cùng đệ tử, tṛ hỏi:
- Thầy ơi. Chỉ có mưa rơi và chúng ta, tất cả xung quanh đều mơ hồ, mù
mịt, biết trông ngắm vào đâu để làm thơ đây?!
Đạo Nguyên Thiền sư nhẹ nhàng hỏi lại:
- Hăy t́m quanh ta những ǵ không phải là thơ vứt đi th́ thơ sẽ c̣n đọng
lại.
Hai thầy tṛ lặng lẽ bước, không có tiếng trả lời. Sư đọc:
Just hearing
without extra mind
the jewel-like raindrops
dripping from the eaves
are myself.
Tạm chuyển ngữ dựa vào bản dịch tiếng Anh trên đây:
Lắng nghe,
tâm buông thả nhẹ nhàng không bám víu
từng hạt mưa như chuỗi ngọc lưu ly
giọt rơi rơi từ mái hiên bên xối
hiện thân là của chính bản thân tôi
Đạo Nguyên (thiền sư Nhật bản Eihei Dogen; 1200-1253)
Tâm lắng vào cơi vô niệm vô trú… mưa rơi rơi.
Trong khi đó, ḍng thơ mưa của Trương Mỹ Dung – một thi sĩ Trung Quốc
đồng thời với Đạo Nguyên – được ái mộ viết về mưa:
Nguyện tương song lệ đề vi vũ
Minh nhật lưu quân bất xuất thành
Trương Mỹ Dung
Sớm mai chàng đă đi chưa
Xin đem nước mắt làm mưa giữ chàng
Nguyễn Bính dịch
Đạo Nguyên và hạt mưa trên mái hiên chỉ là một: Đạo Nguyên là hạt mưa
đang rơi, hạt mưa trên mái là Đạo Nguyên, cả hai hóa thành một chuỗi
ngọc. Trương Mỹ Dung thấy mưa như nỗi buồn và biến mưa thành nước mắt;
nước mắt hóa thân thành ḍng sông ngăn chận bước đi của người yêu dấu.
Đó là sự khác biệt giữa một bên là một thi nhân t́m đối tượng tạo cảm
xúc, thi hứng bên ngoài ḿnh; và một bên là thiền sư ḥa ḿnh trọn vẹn
với vũ trụ bằng tâm không phân biệt qua từng giọt mưa trên mái am.
Thơ Thiền và “thơ thường” không có biên giới phân định của ngôn từ và
cảm xúc. Có những vần thơ dùng râm ran chữ nghĩa nhà Thiền nhưng rất…
đời thường và ngược lại; có những áng thơ bay lượn trong khái niệm và
cảm xúc mênh mông đầy thiền vị nhưng không mặc áo cà sa, quấn vải thụng
mà mặc quần jean, áo thun sương nắng hồn nhiên của chàng du tử. Lời thơ,
men thơ và ư thơ trong Giấc Mơ Trường Sơn của thiền sư Tuệ Sỹ là một dẫn
chứng điển h́nh.
Thiền trong ư nghĩa tự nhiên và thâm trầm nhất là trạng thái tâm tánh
rỗng lặng, như không: “đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền” (Trần Nhân Tông).
Thấy cảnh là cảnh chính nó mà ḷng không mảy may xao xác th́ đang là
thiền chứ hỏi t́m thiền làm chi nữa!
Ḍng chảy thơ Thiền từ Trung Hoa, Ấn Độ, Nhật Bản vào Việt Nam từ non
hai ngh́n năm trước. Văn học Phật giáo đồng hành với dân tộc là thơ, bởi
thơ là kinh và kinh vẫn đến với t́nh tự dân tộc êm đềm như ca dao.
Gần đây, rất t́nh cờ có duyên được đọc một tập thơ thanh thoảng hương vị
Thiền làm tôi đắm ch́m miên man trong ư nghĩ về một tập thơ Thiền. Tập
thơ mang tên Đôi Cánh Vỗ của Uyên Nguyên đột nhiên kéo tôi
về tuổi thơ Oanh Vũ của Gia Đ́nh Phật Tử ở Làng quê. Ngày đó và bây giờ
Oanh Vũ có bốn bậc cấp: Mở Mắt, Cánh Mềm, Chân Cứng, Tung Bay. Đôi cánh
vỗ của Uyên Nguyên là bước chuyển ḿnh sau khi mở mắt hay sắp sửa tung
bay. Dẫu là bước nào chăng nữa th́ cánh chim vẫn đập, vẫn thanh thoát
chuyển ḿnh vươn lên trong không gian thiền tịnh. Lời ngỏ cho tập thơ
nhè nhẹ như bước chân hài cỏ của một hành giả cửa Thiền từ thuở Em Đi
Chùa Hương:
Từ trong đáy mắt em,
Giữa vô lượng tinh cầu
Muôn vạn chiếc kén tơ
Hóa Thân Đôi Cánh Vỗ
Lời phi lộ của tác giả chia sẻ: “Đôi Cánh Vỗ là đôi cánh của con ấu
trùng vừa thoát ra khỏi cái kén, chuẩn bị biến thành con bướm ngài. Phải
cần một khoảng thời gian luyện tập, làm quen với môi trường mới, con ấu
trùng vừa được chuyển hóa sẽ tự vươn ḿnh cất cánh bay vào đời sống của
chính nó.” Đôi cánh vỗ của con bướm ngài là biểu tượng của nẻo đạo
vào thơ mà hành giả tuy không “nhất bát thiên gia phạn” nhưng đang lên
đường “cô thân vạn lư du” hành tŕ một ḿnh vạn lư quan san trên đường
vào thế giới thơ.

Tập thơ với 270 trang, có 5 phần: (1) Đôi cánh vỗ, (2) Niệm
khúc, (3) Nắng gọi, (5) Ngọn hải đăng và (6) Phần
nhạc phổ thơ. Một nội dung vừa phải cho một tập thơ mang vọng âm và
tư tưởng Thiền với hơn 120 bài thơ đủ các thể loại, ghi dấu từng bước đi
theo ḍng chuyển biến tâm thức và sự hành hoạt kết hợp đôi nếp giao ḥa
là sống đời và sống đạo. Thiền thức thăng hoa tâm và cảnh khiến nhà thơ
chiêm nghiệm nghĩa đời vốn đầy hoa đóm và ảo tướng thực hơn như chính Nó
là Nó:
Vầng dương soi bóng hạc gầy
Cảo thơm hương lấp vũng lầy bến mê
Âm hao chiếc lá bồ đề
Chân như thấp thoáng nẻo vể gần xa
Đạo vị và Thiền vị không nằm êm thấm trong từng câu chữ mà tỏa chiết ra
thành men hương thanh tịnh của cuộc sống.
Tập thơ Đôi Cánh Vỗ với nghệ thuật phối trí màu sắc, tŕnh bày
chương khúc rất dụng công và mỹ thuật cùng kết hợp với kỹ thuật in ấn
trang nhă và hiện đại là nét thu hút đầu tiên của tác phẩm.
Tác giả là một hành giả học Phật kỳ cựu được đứng vào hàng giáo thọ của
hội Thiền Tánh Không. Khuynh hướng sáng tạo nghệ thuật nhất quán với nếp
tinh thần và tâm linh đầy thiền vị được biểu hiện tự nhiên và thường
tại. Uyên Nguyên đi vào thế giới thi ca qua nẻo đạo; làm thơ nghiêm cẩn
mà hồn nhiên như lời tâm niệm chân kinh. Vậy nên, ḍng thơ Uyên Nguyên
thường là mối rung động và cảm nhận thanh thoát nương theo bản tâm tự
tại hơn là nỗi xúc động trào dâng đột biến chơi vơi hoặc vỡ bờ và mất
hút theo cảm tính đời thường. Vị thiền “vạn pháp giai thị Phật pháp” thể
hiện rất rơ qua đề tài chọn lựa đối tượng đề thơ và ngôn từ diễn cảm.
Làm thơ thiền là nghệ thuật “nh́n rơ trăng dưới đáy nước” bởi trăng chỉ
hiện khi nước lặng yên và tâm không xao động.
Hiện tượng Tu sĩ Minh Tuệ -- bộ hành khất sĩ khổ hạnh -- đi ngang
Huế với những cánh sen hồng mà người ái mộ rải trên lối đi khiến tôi
nghĩ đến thơ thiền và hào quang trong suốt của sự cô đơn tâm cảnh vô cầu
của những hành giả theo Phật. Tôi đọc lại tập thơ Đôi Cánh Vỗ
thoảng hương Thiền của Uyên Nguyên và tự nhiên nghĩ về tâm thức Tự Tại
rỗng rang mây trắng của Bát Nhă: cả rừng sách c̣n lại vài trăm chữ; vài
trăm chữ c̣n lại chục chữ và chục chữ rốt lại là Không. Và, tiếng Big
Bang của thi ca bắt đầu từ đó.
California mùa An Cư 2024
Trần Kiêm Đoàn
art2all.net
|