|
Thân Trọng Sơn
Về đến khách sạn tôi
mới được biết kế hoạch chặng đường
tiếp theo : vậy là chỉ dừng lại
ở thành phố này hai đêm và một ngày, rồi đi vào,
ghé Đà Nẵng, Hội An chứ không ra Quảng B́nh thăm
Phong Nha nữa. Bây giờ đă là bốn giờ chiều,
tôi có quá ít thời gian với quá nhiều công việc phải
làm nơi
đây. Lật vội sổ tay xem số điện thoại của những
người quen biết, tôi chọn số của Nhă và gọi
ngay. Không chờ tôi nói ǵ nhiều, Nhă cắt lời,
anh chờ đó, N. tới ngay chừ đây. Chưa đầy
mười lăm phút sau đă nghe điện thoại của
pḥng tiếp tân báo có người đang chờ. Tôi chạy
vội xuống : đúng là Nhă thật,
không ngờ hắn lẹ làng đến thế. Lên xe N. chở đi, dành cho anh chiều và tối
nay, mai N. bận cả ngày. Từ đường Nguyễn
Huệ, Nhă chở
tôi ngược lên phía ga rồi rẽ vào đường Lê
Lợi đi theo hướng cầu sáu vài mười hai
nhịp. Mới đi được một đọan, tôi
chưa thỏa thích ngắm nh́n hàng cây hai bên choàng tán lá phủ
mát con đường áo trắng ngày xưa th́ Nhă đă dừng
lại và quyết định việc chi tính sau nhưng chẳng
lẽ về đây mà không ghé thăm trường cũ. Tôi chưa kịp có ư kiến ǵ th́
Nhă đă chạy xe vô cổng trường.
Tuy bây giờ là thời gian nghỉ hè nhưng
vẫn thấy đông người vô ra. Nhă lại gần
chào nhân viên bảo vệ đang
đứng bên trong cổng vào và nói, đây là thầy Thanh
trước có dạy trường ḿnh, đă chuyển đi,
tui đưa thầy vô thăm trường chút nghe. Anh bảo
vệ đồng ư, Nhă quay sang tôi nói không có N. anh không vô được
mô nờ. Tôi ậm ừ may quá. Nhă là bạn,
vừa là đồng nghiệp dạy cùng môn với tôi,
quen nhau đă lâu và thân nhau từ khi cùng đi tu nghiệp ở
Sèvres mười năm trước. Ra trường Sư
phạm sau tôi hai năm, Nhă dạy ở Quảng Trị rồi
đổi vào dạy trường Thống Nhất, mới
chuyển về trường này năm bảy năm ǵ đó.
Với chừng đó thời gian chắc chắn Nhă không
biết nhiều về ngôi trường này bằng tôi bởi
tôi đă từng học bậc trung học ở đây, rời trường
để học đại học mất 4 năm, đi
dạy xa 4 năm và trở về lại trường cũ
nối bước các thầy cô mà phần lớn vẫn c̣n
dạy ở đây.
Từ cổng trường,
Nhă dẫn tôi đi thẳng vào bên trong. Dọc theo những hàng cây đều
hai bên lối đi, chúng tôi tiến gần đến khu vực
trước đây là sân chơi có mái che(préau) và tôi chợt
hiểu tại sao trường học lại được
bảo vệ cẩn thận đến thế, tại sao
phải có người bảo lănh tôi mới được
vào. Thấy tôi ngạc nhiên nh́n tầng lầu ngay phía trên
préau, Nhă giải thích đó là hội trường hàng trăm chỗ với
trang thiết bị rất chuẩn và rất sang, thỉnh
thoảng nhà trường cho các cơ quan bên ngoài thuê làm nơi
hội họp. C̣n bên dưới th́ cho thuê làm
nơi dạy vơ. Nhă nói tiếp, lát nữa đây anh sẽ
thấy cảnh nhộn nhịp đông vui, đó là học
viên các lớp ngoại ngữ, cái trung tâm ni
là của mấy ông Lê văn Giang và Hồ Trang bạn anh đó.
Chúng tôi rẽ phải đi đến
dăy nhà dọc, tôi đến gần căn pḥng cuối cùng
thử t́m dấu vết của Pḥng Giáo sư thuở nào
nhưng bây giờ đó chỉ là pḥng học. Ngay bên trên pḥng này trước đây là Pḥng Khánh tiết
bây giờ cũng là pḥng học. Pḥng Khánh tiết là nơi
diễn ra các sinh hoạt văn nghệ, thuyết tŕnh, phát
phần thưởng…Mới vào học đệ tam, lần
đầu tiên tôi bước vào pḥng này là để nghe chị
Bùi Ánh Loan học đệ nhất thuyết tŕnh về đề
tài “ Một chuyến du xuân”. Bằng giọng nói truyền
cảm, chị đă dẫn dắt người nghe đi
qua nhiều vùng miền của đất nước, lúc
th́ giới thiệu phong cảnh, khi th́ trích dẫn văn
thơ. Học trên ḿnh có hai lớp, sao chị
lại hiểu rộng biết nhiều như thế, tôi
ngồi nghe mà ḷng thầm phục. Các buổi lễ
phát thưởng tổ chức tại đây luôn để
lại một ấn tượng sâu sắc đối với
học sinh và phụ huynh ( học sinh được
thưởng th́ nhà trường mời phụ huynh đến
dự ). Phần thưởng lớp nào, hạng nào cũng
rất lớn, chủ yếu là sách giáo khoa (đủ dùng
cho năm học sau ), sách đọc thêm,
từ điển, vở, dụng cụ học tập… Nếu
là phần thưởng Danh dự toàn trường hay Nhất
toàn Khối lớp th́ “ phải thuê xích lô
mới chở về hết “ v́ đó là phần thưởng
của tổng thống, của bộ trưởng, tỉnh
trưởng … Học sinh được thưởng c̣n có
vinh dự thấy tên ḿnh được in trong cuốn Tưởng thưởng lục
cùng với những trang giới thiệu về trường
cùng danh sách giáo sư và nhân viên của trường. Một
thông lệ rất có ư nghĩa nữa là mỗi năm nhà trường
chọn một giáo sư đọc “ Diễn văn thường
lệ “ vào dịp này. “Được
thay mặt Hội đồng giáo sư để đọc
diễn văn vào dịp lễ long trọng này là một
vinh dự lớn cho tôi, một giáo sư tuổi đời
c̣n rất trẻ và tuổi nghề c̣n đếm được
trên đầu ngón tay … “ Tôi chưa quên lời
phát biểu đó của Thầy Nguyễn Đức Mai,
giáo sư Anh văn, vào dịp lễ phát thưởng năm
tôi học đệ nhị.
Nhă cắt đứt
ḍng suy tưởng của tôi bằng cách kéo tôi đi vào dăy
nhà sau, phía sân vận động của trường. Tôi lặng người ngẩn
ngơ khi dừng chân trước căn pḥng cuối cùng của
dăy nhà. Đây là pḥng học năm đệ
tam của tôi. Mười lăm tuổi, tôi rời ngôi
trường nhỏ trong Thành nội để “lên” học
đệ nhị cấp ở đây, hănh diện được
mặc bộ đồng phục quần tây xanh áo sơ mi
trắng với chiếc huy hiệu thêu chỉ xanh tên ḿnh và
một vạch nằm ngang gắn trên túi áo. Một vạch
là đệ tam, lên một lớp thêm một vạch, chờ
đến khi huy hiệu có ba vạch là rất oai v́ đă
vượt qua cái ngưỡng Tú tài bán phần, rất sướng
v́ được tự xem ḿnh thuộc lớp đàn anh và
nhất là rất thích v́ được … học chung với
con gái ! Thuở đó con trai con gái không học
chung trường nhưng v́ trường
nữ bên cạnh chỉ mở đến lớp đệ
nhị nên lên đến đệ nhất các nàng đều
chuyển sang đây. Sau năm học 62-63,
trong trường lại không c̣n tà áo dài trắng nào nữa,
trường nữ đă mở lớp đệ nhất
rồi. Có một ngàn người vui và một
ngàn người buồn v́ “biến cố” này.
Mười lăm tuổi vào
trường là đúng độ tuổi đi học, cùng
lớp nhiều bạn lớn hơn ba bốn tuổi v́ trường
nhận học sinh đệ nhất cấp từ các trường
ở “phố” và cả các trường ở “làng” nữa,
mà học sinh trường làng đi học chậm vài ba năm
là chuyện thường. Cả khối lớp đệ
tam hầu hết là ban B và ban A, chỉ có một lớp ban
C. Bạn cũ từ đệ tứ lên đều vô B hết,
tôi chọn ban C bị tụi nó chọc là đứa nào dốt
quá không học toán nổi mới vô C. May mà c̣n một ít bạn
đă thân từ trước hoặc mới quen nhưng dễ
chơi. Hồ văn Tiếu, ở đường kiệt
phía sau nhà tôi, mỗi lần rủ hắn đi học tôi
chỉ đứng ngoài cổng chờ, không dám vô nhà v́ sợ
gặp anh của Tiếu là Thầy Hồ văn Thuyết,
dạy Việt văn lớp tôi. Trần Công Tuấn, nhà ở
đường Chợ Cống, cả tin, hiền lành, chọc
chi cũng không giận, bọn tôi thường giấu cặp
của Tuấn để bắt chuộc, lần nào hắn
cũng nhượng bộ. Cái biệt danh
“ Tuấn
ce matin”
hắn không
căi được v́ bài luận tiếng Pháp nào của Tuấn
cũng bắt đầu bằng ce matin. Ba chục năm sau nhắc lại Tuấn
chỉ cười, hồi đó tau cũng giỏi tiếng
Pháp lắm, nhưng tau cứ đúng bài bản, khuôn khổ
chứ không phóng khoáng, bay bướm như tụi mi nên viết
không hay. Tống văn Thịnh có tới hai nhà, một ở
ngả giữa, buôn bán đặc sản hồ Tịnh, một
ở kiệt Âm hồn. Thịnh thích chơi thể thao, đánh
bóng bàn và vũ cầu rất giỏi, lại mê nghe nhạc
v́ nhà có sẵn dàn máy Akai, trong khi bọn tôi chẳng biết
ǵ th́ Thịnh thuộc nằm ḷng bao nhiêu bài của Françoise
Hardy và Sylvie Vartan. Vĩnh Thuyên, nhà ở bên kia
cầu Đông Ba, có vườn rộng, thường rủ
tôi vào đó học bài. Thuyên thường khoe với tôi về
cô em họ, thua bọn tôi hai ba lớp ǵ đó, lúc đầu
chỉ nói tên là Bích Hoàng, măi lâu sau mới chỉ cho biết
người biết mặt, để tau giới thiệu
em tau cho mi. Th́ ra O này cũng ở gần nhà tôi, thỉnh
thoảng tôi nh́n thấy tung tăng áo trắng đi học
trên đường Ngọ Môn, trông cũng “
hay hay”. Để rồi tau giới thiệu, V.T. cứ
nói đi nói lại măi nhưng không hề cho tôi cơ hội
“ tiếp cận” cô em. Một dạo tôi
thấy B.H. biến mất, hỏi Thuyên mới biết O về
ở đâu phía sau chùa Diệu Đế. Có lần tôi đi
về phía đó, t́nh cờ thấy O đi đàng trước,
tôi đạp xe chậm lại cố ư theo cho biết nhà, ngờ đâu o
phát hiện ra nên vụt bỏ chạy. Thế
là tôi bỏ cuộc, không t́m cơ hội gặp gỡ nói
chuyện ǵ nữa. Hoàng mênh mang sương khói c̣n tôi
ngơ ngác nai vàng, người chưa quen biết mà tưởng
là đă thân thiết, nên trong sách vở tôi viết đầy
tên Bella Helena – là Bích Hoàng tôi “dịch” ra như thế ! Sau khi đậu Tú tài tôi ít gặp Vĩnh Thuyên v́
hắn học khác ngành tôi, và cũng không nghe nhắc đến
B.H. nữa.
Mang tiếng dốt toán, vậy
th́ phải cố gắng các môn văn chương và
sinh ngữ cho khỏi mất mặt ! Lớp
chủ trương làm báo và trưởng lớp Văn Bạc
Chinh nói đứa nào cũng phải viết bài hết.
Viết th́ viết, sợ ǵ. Nói th́ dễ nhưng sao làm quá khó, hết thời hạn
nộp bài tôi không có chữ nào, xin anh Chinh gia hạn một
tuần, vẫn đầu hàng. Tôi rất xấu hổ khi cầm
tờ báo lớp, thấy rất nhiều bạn tham gia,
truyện ngắn, tùy bút, thơ lục bát, thơ tự do,
đủ thứ, với tên thật, bút danh bút hiệu kêu
rổn rảng. Lê văn Linh kư là Kim Lê văn, Nguyễn Giảng
kư Hoài Nhân, rồi Lê văn Giá, Tôn Thất Hành, Trần Hưởng
… Đọc thơ của Lam Kiều, bút danh của Nguyễn
Đoán, tôi mới phục và hoảng. Buổi chiều thắt cổ bằng
sợi chỉ hoàng hôn. Làm sao có thể viết được
một câu như thế khi mà Chinh phụ ngâm khúc và Cung oán
ngâm khúc hắn hiểu không bằng tôi ? Th́ ra học văn với viết văn khác nhau
xa.
Vậy mà quá tin vào “tài năng” dân
ban C của tôi, Nguyễn Tâm Hiếu bên lớp B đến
nhờ : Thanh phải giúp ḿnh, báo lớp ḿnh ít bài quá. Không viết th́ dịch cũng được,
Thanh có cuốn Les mains sales của
Jean Paul Sartre không, dịch cho ḿnh vài trang cũng được.
Không cách chi từ chối được, tôi liều mạng
làm theo lời Hiếu để ít lâu sau
nghe H. kể tụi lớp ḿnh phục Thanh ghê lắm. Tôi hỏi nhưng tụi nó đọc bài dịch
có hiểu chi không. H. ngập ngừng không nghe đứa
mô nói chi, chắc là không hiểu ! Mà đúng
thôi, tôi dịch tôi cũng không hiểu th́ tụi nó làm sao mà
hiểu được !
Về môn sinh ngữ
th́ tôi phấn chấn hơn. Mỗi tuần học 6 giờ Pháp và 6 giờ
Anh, cả lớp đều thích, không phân biệt sinh ngữ
chính sinh ngữ phụ ǵ cả. Hai năm đệ
tam và đệ nhị, lớp tôi học Anh văn với
thầy Nguyễn Văn Lâu. Thầy c̣n
trẻ, chắc là ra trường chưa lâu, hiền nhưng
rất nghiêm, có phương pháp dạy linh hoạt, rất
chú ư việc luyện nói cho chúng tôi. Sau này
khi tôi cầm sự vụ lệnh thuyên chuyển về trường
đến tŕnh diện th́ hiệu trưởng lại chính
là thầy. Lên đệ nhất th́ thầy
Nguyễn Văn Chương thay thầy Lâu. Thầy Chương
có thói quen bước chân vào lớp là dạy ngay, không mất
thời gian cho những thủ tục. Thầy giúp chúng
tôi tự tin nhiều bằng cách thường xuyên tổ
chức thảo luận, thuyết tŕnh những đề
tài gần gũi với đời sống.
Những bộ sách chúng tôi học ( Let’s
learn English, Practice your English, Improve your English ) đều do
người Mỹ soạn, chú trọng kỹ năng thực
hành ngôn ngữ, đồng thời giới thiệu về
đất nước và con người , tạo hứng
thú cho người học.
Sách tiếng Anh là thế, trong
khi đó sách tiếng Pháp vẫn c̣n theo
phương pháp cũ, nặng về văn chương, về
ngôn ngữ viết. Cả 3 năm chúng tôi học cuốn
Littérature expliquée, dạy văn học sử Pháp từ thời
trung cổ đến thế kỷ 20, mỗi thời kỳ
học các tác giả tiêu biểu và trích giảng tác phẩm
tiêu biểu. C̣n về văn phạm th́ các thầy chọn
sách để dạy, chủ yếu là cuốn Traité
d’analyse, phân tích từ loại và chức năng của từ,
với lại phân tích mệnh đề. Chính
v́ nội dung giáo tŕnh như thế cho nên chúng tôi ít được
rèn luyện kỹ năng nói mà chỉ chú ư đọc và viết.
Măi về sau, khi tôi bắt đầu đi dạy mới
thấy chương tŕnh đổi sang dùng bộ sách Cours
de Langue et de Civilisation françaises của
Mauger, nội dung và phương pháp tiến bộ hơn.
Ba năm chúng tôi học với 4 giáo sư là các Thầy Nguyễn
Văn Thường, Nguyễn Văn Kháng, Ngô Đốc Khánh,
Phạm Kiêm Âu.
( Thầy Thường chỉ dạy một
thời gian ngắn, sau đó Thầy chuyển sang ngành luật.
) Chính ḷng tận tụy và sự uyên bác của các Thầy đă
khiến tôi càng yêu mến ngôn ngữ này hơn..
Rời pḥng học
năm đệ tam, Nhă dẫn tôi ra phía sân vận động. Tôi lóa mắt trước
sự “hoành tráng” của nơi này. Sân bóng cỏ mượt
và dày, các đường chạy bao quanh, sân và hố nhảy
cao, nhảy xa, khu vực khán đài với các hàng ghế bậc
cấp, các thiết bị tập luyện thể dục… Nhă cho biết trường c̣n có hồ bơi nữa.
Chúng tôi đi ngược trở ra. Nhă giới thiệu kư túc xá của trường, dành
cho học sinh các huyện về học hệ chuyên. Đến cuối dăy nhà phía trái này tôi muốn đi
lên lầu nhưng cửa khóa không lên được. Tôi muốn đi lên lầu để trở lại
pḥng học năm cuối cùng của bậc trung học.
Năm này, có thêm học sinh trường nữ
chuyển qua, sĩ số đông hơn nên lớp tách đôi,
C1 sinh ngữ chính Pháp, C2 sinh ngữ chính Anh. Chia tay một số bạn cũ, bắt đầu
làm quen bạn mới. Công Huyền Tôn Nữ Thanh Hoa, nhà ở
đầu đường Mai Thúc Loan, người cũng
dịu dàng như tên, học giỏi nhất trong số nữ
mới qua. Cao Thị Tú Quỳnh, mặt đẹp, mắt
đẹp, tóc đẹp, dáng đi rón rén, Thịnh đặt
biệt danh là người bắt chuồn chuồn. Hồ
Thị Trúc Mai, thường lặng lẽ kín đáo. La Thị
Quế Trinh, nhà ở phố, trong các bài luận tiếng Pháp
luôn bày tỏ nguyện vọng trở thành nhà giải phẫu
thẩm mỹ. Trần Thị Thùy Trang, chăm chỉ, cẩn
thận, sau học Y khoa. Nguyễn Thị Tố Liên, em gái
một quan chức nổi tiếng trong ngành giáo dục ở
thành phố. Không đầy một
tháng sau ngày nhập học, mọi người đă thân nhau và đă
quen với không khí lớp học có nam có nữ như thế
này. H́nh như có bạn học giỏi và học
chăm hơn trước, h́nh như có bạn học sút đi,
h́nh như có đôi bạn thân nhau hơn mức b́nh thường.
Nhưng nói ǵ th́ nói, ai cũng lo cho kỳ thi
cuối năm, kết thúc một quăng đời làm học
tṛ, mà lo nhất là cái môn học lạ lẫm đến lớp
này mới được học. Một
môn học mà có đến ba giáo sư dạy. Bỡ
ngỡ, ngại ngùng, xen lẫn với ṭ ṃ ,
hào hứng. Cô Tôn Nữ Diệu Trang dạy tâm
lư, cô Tống Nữ Lan dạy luận lư, thầy Trần
Như Uyên dạy siêu h́nh. Cả ba phân môn này của
triết học đều hấp dẫn và thú vị nhưng ư kiến
chung có vẻ thích môn tâm lư hơn v́ nhiều bài học nói đến
những vấn đề gần gũi, thiết thực,
không quá khó như siêu h́nh, không quá khô như luận lư. Cô Diệu
Trang chinh phục
ngay cả lớp bởi ḷng nhiệt t́nh, vẻ quư phái và nét
trẻ trung của một giáo sư mới ra trường
được một năm. Không biết từ khi nào, tôi
bỗng thấy h́nh như ḿnh thân với Tố Liên hơn
hay nói khác đi tôi và Tố Liên thân nhau hơn các bạn khác.
Không hiểu ai rủ ai, thường buổi chiều ra về
T.L. thường dừng lại ở cổng trước
( dành cho giáo sư và nữ sinh ) chờ tôi
ra cổng sau đạp xe vội đến gặp rồi
cùng đi dọc theo đường áo trắng rẽ về
hướng cầu An Cựu, lang thang quanh quẩn đến
lúc chiều tà. Vẫn gặp nhau hàng ngày ở
lớp nhưng nói chuyện có vẻ mất tự nhiên.
Sau đó T.L. thường đến nhà tôi, nói
là để cùng nhau soạn bài nhưng thường th́ khi
T.L. về rồi tôi mới bắt đầu soạn được.
Những hôm trời mưa T.L. vẫn đến, trời lạnh
quá, cho Liên luồn tay vào trong áo len của
Thanh. Hôm sau đến lớp, nói chuyện lại
mất tự nhiên hơn. Chúng tôi bày ra tṛ viết chung
nhật kư, lấy cuốn sổ tay, T.L.
và tôi thay nhau viết rồi chuyền tay mỗi ngày. Tôi nghĩ
cách viết sao cho
kín
đáo để không ai đọc được
:
Uiboi
ohig epo ebk yvoh rvboi
Ikoi oiv ip opk divoh
nkoi xpk oibv.
Tôi
cho ch́a khóa của mật mă : B = A , Liên dịch
ra :
Thanh
nghe đồn đăi xung quanh
H́nh như họ nói
chúng ḿnh với nhau.
Bằng
cách này chúng tôi viết cho nhau mỗi ngày đến gần
hết cuốn sổ ( T.L. nhỏ vào cái
b́a đỏ mấy giọt nước hoa Immortelle, cầm
đến là nghe mùi hương gợi nhớ ) mà không bị
ai phát hiện bí mật ! T.L. cũng quen với cách viết
này :
Tboh
oba uiba Qip ipk cbk nb Uiboi evoh dibp dp upk ohkgq rvb !
Tôi
đọc được ngay : Sáng nay thầy Pḥ hỏi bài mà
Thanh đứng chào cờ tội nghiệp quá !
Mà tội nghiệp thật. Thầy Lê Khắc Pḥ dạy sử
địa rất hay v́ thầy rất thông thái ( nghe nói thầy
tốt nghiệp ĐH Montpellier bên Pháp ), hôm đó thầy dạy
bài địa lư châu Âu, thầy gọi tôi lên bảng, anh nh́n
bản đồ và chỉ coi con sông Danube ở đâu, chảy
qua những nước nào. Trời đất,
sao thầy không hỏi thủ đô, diện tích, dân số
…, tôi thuộc ḷng, c̣n kỹ năng đọc bản đồ
tôi mù tịt. Tôi toát mồ hôi, đưa cây thước
rà qua rà lại vùng Bắc Âu, Na Uy, Thụy Điển, Phần
Lan, không thấy con sông nào hết, hay là phía Nam, tôi chạy
xuống vùng Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, có thấy sông nhưng
chắc không phải là ḍng sông
xanh thầy hỏi. Tôi đứng như
trời trồng. Cả lớp lặng
thinh, ngạc nhiên. Tôi cúi gầm mặt,
không dám nh́n xem phản ứng của Tố Liên thế nào.
Không biết thầy cho tôi mấy điểm, chắc không
tới 18/20 ! Đến khi tôi học năm
thứ ba ĐH tôi gặp lại thầy Pḥ, thầy dạy
môn dịch và tôi lại khâm phục sự uyên bác của thầy
ở lĩnh vực ngôn ngữ !
Nhă tiếp tục giới thiệu,
anh biết rồi đó, đây là một trong ba trường
chất lượng cao của cả nước, Hà Nội
th́ có Chu Văn An, Saigon có Lê Hồng Phong, nhà nước đầu
tư cả chục tỷ, tụi N. dạy lớp chuyên
th́ được phụ cấp lương 150%, kết quả
tốt lắm năm nào cũng trên 90% đậu đại
học, học sinh giỏi quốc gia cũng rất nhiều.
Nhă c̣n nói nhiếu thứ nữa nhưng tôi không
quan tâm mấy đến ngôi trường của Nhă, tôi chỉ
nghĩ về ngôi trường của tôi. Cuối năm
học đệ nhất, thành phố nhiều biến động,
có tin chiến sự bên ngoài, có tin biểu t́nh bên trong. Mà trong tôi cũng có biến động, không biết
từ khi nào tôi và Tố Liên không thân nhau nữa. Tháng sáu thi tú tài, môn chính môn phụ ǵ cũng thi hết,
đậu thi viết c̣n phải vô vấn đáp nữa, kết
quả thi xếp hạng ưu, b́nh, b́nh thứ, thứ.
Và rồi mỗi người tự chọn đường
đi vào tương lai.
Tôi lặng lẽ theo chân Nhă ra khỏi trường, ḷng nặng
trĩu. Tôi học tṛ xa trường năm
63, tôi thầy giáo rời trường năm 78. Từ đó tôi sống ở xứ lạnh, ít dịp
trở về. Lần này trong chuyến đi
liên tỉnh với các đồng nghiệp trẻ, ghé lại
chốn cũ, dừng chân đâu khoảng sáu chục phút mà
đẩy lùi thời gian đến bốn chục năm.
Hạnh phúc thay những ai c̣n có quê cũ để
trở về, c̣n có t́nh xưa mà ngậm ngùi, c̣n có người
xưa để tưởng tiếc. Tôi đọc
thầm câu thơ của Tố Hữu “Ôi cơ chi tôi được về với Huế !”
THÂN
TRỌNG SƠN ( Huế 7/2005 - Dalat 5/2008 )
|