Thân Trọng Tuấn

 

GIANG PHONG NGƯ HỎA

 

  

1. Ngư ông và chim cốc đế - Tranh Nguyễn Hy Vọng M.D.

Dành riêng cho bài “Giang Phong Ngư Hỏa”

 

          Ngày xưa, các cụ thường dậy sớm. Nếu ở kinh đô hay gần các công đường phủ huyện th́ đă có tiếng trống hay tiếng mơ báo giờ khắc của từng canh. Ở nơi đồng nội, các cụ chỉ nh́n qua song cửa, xem hướng trăng sao, nh́n màu trời sắc đất hay xét độ lệch của những chiếc lá dâu mà biết được giờ. Cụ gọi người nhà dậy nhóm bếp pha trà cho cụ. Trong thanh lặng, có thể cụ lẩm nhẩm vài câu thơ cổ khi nâng chén trà đầu ngày.

Ngày nay, các cụ cũng dậy sớm. Trong nhà có sẵn đồng hồ cho các cụ xem giờ rất tiện. Nếu t́nh trạng vật chất đầy đủ, các cụ có thể tự nấu nước pha trà khỏi làm phiền con, cháu. Trăng sao sương sớm vẫn c̣n đó. Hơn nữa, các cụ có máy thu thanh nghe tin tức hoặc máy hát để thưởng thức đủ các loại nhạc và bài hát mà các cụ thích, nên các cụ có thể không c̣n ư ử đọc thơ.

 B́nh cũ rượu mới:

Đối với người Việt Nam, h́nh ảnh của các cụ trong y phục khăn đóng áo dài vẫn c̣n, nhất là trong những ngày lễ hội. Y phục bây giờ lại thuộc loại đắt tiền tốt đẹp đủ thứ, c̣n lộng lẫy màu mè là đằng khác. Nhưng bây giờ nếu có ai cắc cớ đưa bài thơ chữ Hán nhờ đọc th́ mười cụ có lẽ đến chín cụ sẽ từ chối không chịu đọc với lư do có thể rằng th́ là v́ mắt kèm nhèm lại quên mắt kiếng, hay có khi thẳng thắn thú nhận là không biết chữ!

Anh Trúc Chi Tôn Thất Kỳ thường bảo rằng, bây giờ thơ Đường người ta thuộc nhiều, đọc vanh vách, ấy là nhờ có bản phiên âm bằng chữ Việt gốc Latinh. Nhiều người tỏ vẻ thông Nho, cầm bài thơ viết bằng thứ chữ của người Trung Hoa, ngâm nga rất điệu! Nhưng thử xin người này đọc ngược lại bài thơ từ chữ cuối bài thơ đến chữ đầu bài thơ, nếu trót lọt mới thực sự là người đọc được chữ Hán!

Tuy nhiên, đọc được chữ Hán là một chuyện, c̣n hiểu được chữ Hán đúng nghĩa lại là chuyện khác. Ngày trước, học tṛ thường chỉ biết ráng nhớ nằm ḷng những điều thầy dạy hay những ǵ ghi trong sách. Khi lều chơng đi thi, th́ cứ một mực “vâng lời sách hỏi, xin được thưa ra…” theo đúng câu “thuật nhi bất tác”, hoàn toàn lấy lời trong sách ra mà giải, chứ không dám thêm ư riêng của ḿnh. Do đó, nhiều khi sự sai lầm v́ vậy cứ tiếp tục. Chắc hẳn, đối với người có thực tài, có khi tuy biết sai nhưng không dám sửa lời sách dạy, chỉ lờ đi cho yên chuyện. Có người, học chưa giỏi, nên thường dựa theo lời của sách mà tán rộng ra với tất cả khả năng hiểu biết của ḿnh, và dĩ nhiên là toàn những ư ca ngợi chứ không một lời chê! Tán tụng mà đúng nghĩa lư th́ c̣n chấp nhận, chứ tán theo cái lối người mù sờ voi th́ rất đáng thương! Trong phạm vi bài này chỉ nói vớ vẩn mấy thú vui tao nhă như chuyện thi thơ trong những lúc thừa nhàn! Như những lúc người lớn tuổi khi chẳng có việc chi làm, ngâm láo mấy vần thơ! Tuy là lẩm bẩm, nhưng cũng cần theo khuôn theo phép một chút, để tiếng nói của ḷng không bị rơi vào t́nh trạng lấn cấn ngổn ngang! Nếu như quen thói quanh năm suốt tháng rong chơi, lúc tảng sáng đă kêu Lư Bạch ơi ới:

Xuân du phương thảo địa

Hạ thưởng lục hà tŕ

Thu ẩm hoàng hoa tửu

Đông ngâm bạch tuyết thi

春遊 方 草 地

夏賞 綠 荷 池

秋 飮 黄 花 酒

冬 吟 白 雪 詩

 

Hoặc chưa chi mà đă vội lên lầu Đằng Vân khiến Vương Bột vẽ tranh chiều bằng hai câu:

Lạc hà dữ cô vụ tề phi

Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc

落  霞  與  孤  鶩  齊  飛

秋  水  共  長  天  一  色

 

Dưới ánh sáng của dĩa đèn dầu phụng chỉ soi đủ một khoảnh nhỏ trong gian nhà, cụ ông ngồi âm thầm với cái thế giới riêng của cụ. Cái lư của tạo vật luân chuyển đều đặn và rất hững hờ. Tùy theo ngày của tháng, trăng mọc và lặn cũng có giờ. Màn đêm cũng có khi tối đen và cũng có khi bàng bạc. Từ trong nhà, nh́n ra ngoài sân, cụ có thể nh́n thấy ánh trăng đang trong lúc tàn dần, và biết đâu, cụ lại nghe tiếng chuông vọng lại từ một ngôi chùa gần quanh đâu đó! Trăng chưa lặn hẳn. Trời chưa sáng hẳn. Sương mai chưa phủ hẳn không gian. Gà chưa gáy sáng. Mấy con mảnh sành, rế rế im re, không c̣n nỉ non “tiếng tiếng”. Mùa xuân: Con chim chích cḥe vẫn chưa “chập chít”. Mùa hè: bầy ve ve vẫn chưa rổn rảng kêu om. Mùa Thu: Mấy con vạc vẫn c̣n bên bờ ruộng có ḍng nước sỉa. Mùa Đông: Mấy con chim gầm gh́ chưa ra khỏi đám lá xanh. Cuối giờ Dần tức là gần năm giờ sáng: Phần đông những người trong nhà vẫn đang c̣n ngủ, và ngủ rất say, rất ngon, rất “thẳng cẳng”! Trong quen thuộc của hương trà, của hơi ấm nơi chiếc chén chuyền qua ḷng bàn tay, cụ đang sống trong giây phút giao thoa của ngày và đêm, của sự lặng im đang dần dần lên tiếng. Cụ uống trà có giờ. Chim hót, ve kêu cũng có giờ. Đây là cái lư của tạo vật. Từ cái lư, một phút bất ngờ có thể sinh t́nh. Diễn tả được phút trào ḷng này, thường những người mang danh là nghệ sĩ mới làm được qua h́nh thức thơ, nhạc, tranh, văn, v.v. Thơ Đường có h́nh thức ngắn gọn, g̣ bó nhưng rất thực tế, không bao giờ rời xa cái lư của vạn vật. Thực tế nhưng không thô bạo. Bóng bẩy nhưng không hoang đường.  Súc tích nhưng không thừa thải. Ngẫm xem, các bài thơ Đường từ gồm hai mươi (20) chữ, hai mươi tám (28) chữ, hay năm mươi sáu (56) chữ được truyền tụng hầu hết là những bài đă được tác giả cẩn thận không lập lại chữ đă dùng trong cùng một bài, mà vẫn tỏ được ư rơ ràng, âm tiết không chống, lư không nghịch, t́nh thật hài ḥa, càng đọc càng rung động, càng tăng cảm xúc, càng thấy hay!

H́nh ảnh lứa đôi:

Mọi lần. Vài trăm năm trước! Thứ dân Việt Nam có bốn hạng: Sĩ, Nông, Công và Thương. Theo sách vở, kể tản mạn về chuyện Sĩ. Từ ngày khai tâm, học chữ Thiên là trời, Địa là đất đến lúc thành anh Khóa, tức là người đi học và đă qua kỳ khảo hạch tại địa phương được chứng nhận là biết chữ. Đêm đêm, h́nh ảnh vợ quay tơ, chồng là anh Khóa đọc sách bên ngọn đèn dầu phụng chuẩn bị khoa thi thấy thiệt đẹp. Lẩn thẩn nghĩ tới h́nh ảnh hai người thiệt là hạnh phúc. Trục guồng tơ hay bàn đạp khung cửi chắc hẳn phải được nhỏ vào chút dầu phụng để khi chuyển động không phát ra những âm thanh cót két khó nghe. Tuổi tác giữa hai người có thể là ngang trang ngang lứa, hoặc “chị cả” với “em út” v́ tục tảo hôn, hoặc v́ anh cứ măi lận đận công danh nên mợ cả mới nhờ d́ nó liệu mà hầu cho anh ấy. Đêm nào cũng như đêm nấy, vợ tiếp tục châm dầu vào đĩa, chứ nếu chồng làm, có thể dầu dính vào tay rồi khi cầm quyển sách th́ c̣n chi những trang sách quư. Trong gian nhà nhỏ nửa toan làm bếp, nửa toan làm buồng: Chồng ngồi trên chơng học bài, vợ ngồi bên bếp lửa thả từng chiếc kén vào nồi nước sôi, xong dùng đũa khuấy kéo sợi tơ tằm cột tiếp vào sợi trên guồng. Bốn chữ “dùi mài kinh sử”  thiệt là thấu đáo. Học đi học lại cho thật thuộc ḷng, cho dù không có sách và đang bị ức chế vẫn không loạn trí, chồng đọc lại bài văn rành rọt không sai hay thiếu một chữ. Vợ âm thầm làm việc, ráng để yên cho anh ấy học. Người vợ tuy ngồi làm việc dưới bếp trong ánh lửa lù mù, nhưng tai vẫn có thể lắng nghe lời chồng đọc sách. Cho dù vợ có u mê ám chướng cách mấy đi nữa, nhưng đêm đêm nghe tiếng đọc đi đọc lại của chồng những lời trong sách, nếu không thuộc nguyên trang “ḍng sáu, ḍng tám” th́ cũng nhớ được vài câu, và cũng không cần hiểu nghĩa lư làm chi cho rộn chuyện, lại mang tiếng lá lay. Ban ngày, chồng vào trường nghe thầy giảng và làm bài tập. Vợ th́ lo thu vén tần tảo việc nhà. Như vậy là đủ quá rồi, ai yên phận nấy.

Chuyện thời c̣n ông vua trong Đại Nội có thể là như vậy. Khi ông Vua cuối cùng của Việt Nam là Bảo Đại trao ấn kiếm lại cho Việt Minh, th́ trong giai đoạn chuyển tiếp này ở Huế cũng đă có một cặp vợ chồng son thủy chung nếp cũ: Chồng bị Việt Minh lùng giết, phải trốn chui trốn nhũi trên nóc nhà ngay trong khu phố Trần Hưng Đạo đối diện chợ Đông Ba. Vợ hàng ngày lo cơm nước và “đổ thùng!”. Để giúp chồng “giết th́ giờ”, vợ học chồng theo lối “khẩu truyền” các sách Tứ Thư. Chồng vừa ăn cơm, vừa hỏi “chuyện đời xảy ra ngoài phố”. Vợ trả lời chừng chừng cho chồng đỡ xốn xang. V́ chừng chừng, nên nhiều lúc nói vài câu đă hết chuyện. Có khi, chẳng c̣n chuyện chi mà kể. Bữa ăn thường hết chuyện mà vẫn chưa xong. Chồng suốt ngày đêm v́ trốn trên nóc nhà nên thèm nói chuyện, do đó, nghĩ ra cách truyền khẩu cho vợ một vài. Bắt đầu là “Tam Thiên Tự”, kế là bài “Đại Học”, rồi “Luận Ngữ”. Ví như lúc ăn trưa, truyền cho vợ một câu ngắn. Buổi ăn tối, vợ đọc trả bài học được hồi trưa. Nếu thuộc th́ truyền tiếp, không thuộc th́ học lại v́ tháng rộng ngày dài! Vài ngày lại học ôn. Đủ một đoạn th́ giảng nghĩa. Vợ tuy lắng nghe, nhưng làm sao nhớ hết, vả lại đang lo lắng làm cách nào giấu chồng thoát khỏi nạn lùng kiếm của Việt Minh cho thiệt kỹ, giữ chồng như cái kiểu “hột gạo trên sàng, đừng để lọt xuống nia”, cho nên việc nhớ trầm từng câu trong sách qua lời của chồng là đă quá mức, cần chi nghĩa lư cao thâm theo ư của thánh nhân cho thêm nhức óc. Sau hai năm sống chui rúc đến độ da thịt nhăo rệu gần phát thủng và tâm trí gần phát khùng, th́ thế sự xoay vần chuyển sang một giai đoạn mới. Trong một đêm khuya, có tiếng ḿn giật sập cầu Trường Tiền làm xao động mái ngói. Sáng hôm sau, người chồng được đỡ xuống khỏi nơi ẩn núp tối tăm chật hẹp trên nóc nhà. Phải tập hết mấy bữa để bước đi mới vững, đầu gối mới hết run v́ hai năm nay chỉ ngồi hay nằm, thiếu gió, thiếu nắng, không có cơ hội vận động tay chân! Hồi cư! Hai vợ chồng vào sống tại thành phố Nha Trang. Về sau, chồng liên hệ chặc chẽ với chùa Tỉnh Hội Phật Học Nha Trang, lại vào dạy Đại Học Vạn Hạnh. Chuyện này rất ít người biết, kể luôn việc một buổi chiều trên băi biển Nha Trang: Có một thanh niên ôm một cuốn sách thật dày. Lúc ngồi trên băi cát, thanh niên này mở sách ra đọc rất chăm chú. Đọc một lát, lại đội cuốn sách lên đầu, để nguyên áo quần từ từ lội xuống biển, khi sóng nước ngang ngực th́ dừng lại, mắt hướng ra khơi. Lát sau, thanh niên kia lại trở lên bờ, ngồi xuống băi cát, mở sách ra đọc tiếp. Chừng áo quần sắp khô, lại đội sách bước xuống biển. Sự việc tiếp diễn cả giờ, khiến ai cũng để ư. Đang ngồi hóng mát với người con trai tuổi cũng trạc chừng với chàng thanh niên đọc sách kia, thấy vậy động ḷng, bèn xuống băi hỏi chuyện rằng “Đă đói bụng chưa?”. Chàng thanh niên gật đầu. Cuốn sách dày cộm trong tay người thanh niên kia là cuốn tự điển song ngữ Đức-Pháp. Ba người đi ngược về chùa Tỉnh Hội. Người thanh niên kia sau đó được giới thiệu với Thầy Nhất Hạnh, và đă được nhận vào dạy Đại Học Vạn Hạnh. Tên của anh là Phạm Công Thiện. Chuyện nhỏ thứ hai là có một chú tiểu ở Huế, trên đường học đạo, đi bộ vào Nha Trang, ghé chùa Tỉnh Hội Phật Học Nha Trang. V́ là người “Huế”, nên được hỏi thăm. Tuy kinh điển của chú tiểu chưa thông, chữ Hán c̣n mù tịt, nhưng v́ cơ duyên, cũng được đưa vào giới thiệu với Thầy Nhất Hạnh. Thầy xin cho một công việc nhẹ ở Thư Viện Vạn Hạnh để có cơ hội học hỏi tu tŕ. Ba năm sau gặp lại, chú tiểu ngày xưa bây giờ đă giỏi không ngờ, đem kinh Dịch ra giảng lại cho người gặp ở Nha Trang và giới thiệu ḿnh với thầy Nhất Hạnh. Người giới thiệu chú tiểu là người đă và đang dạy Hán Văn cho trường Đại Học Vạn Hạnh: giáo sư Cao Hữu Đính, hôm ấy, ngồi lắng nghe chú tiểu giảng về kinh Dịch, không thể hỏi một câu. Chú tiểu ấy là Tuệ Sĩ! Riêng người học tṛ “vợ”, suốt đời vẫn b́nh thản, lâu lâu đọc một câu học thuộc ḷng của cái thời “trên nóc nhà xưa ấy”; có lần “sự thuộc bài” làm người cháu sắp sửa lấy bằng cử nhân ban Việt-Hán sững sờ. Người cháu hỏi thêm những đoạn trong Luận Ngữ, được bà đọc lại cho nghe một cách “ro ro”. Nhưng hỏi nghĩa lư th́ bà “chịu trịt”, bảo rằng: “Tau không biết. Mi vô trong mà hỏi Cậu!”.

Xét lại vấn đề:

Ngày nay, rất nhiều người thuộc thơ Đường, ngâm đọc “ro ro” theo âm Hán Việt. Khi ngâm lên, người Tàu nghe không hiểu. Lớp trẻ Việt Nam cũng không hiểu. Có thể chỉ mỗi một người “đang ngâm” hiểu. Có người hiểu rất thấu đáo, rất đáng ca ngợi. Tuy nhiên, cũng có vài người tŕnh độ chỉ “học vẹt”, may ra chỉ hơn “người vợ trên nóc nhà” kia vài ba phân là nhiều. Ấy vậy, khi bàn chuyện thơ văn, th́ thường “đại ngôn” theo cái kiểu “xê ra cho người ta giải thích!”. Chẳng thà như lớp học tṛ nhỏ dại, ngây thơ, ví như khi nghe bốn chữ “Ba Hồi Chiêu Mộ” trong câu “Ba hồi chiêu mộ chuông gầm sóng” của Hồ Xuân Hương th́ cho rằng: “Trong lúc chiến tranh, người ta đánh lên ba hồi trống để chiêu mộ binh lính đi đánh giặc!” rồi sau khi nghe lời thầy giảng mới vui mừng thốt lên “À há! Vậy mà em cứ tưởng…”.

Thầy Khổng, Thầy Mạnh là những bậc tôn sư không dám phạm. Trang Chu hoa bướm th́ cứ để yên ông. Xuống tới Vương Dương Minh ra nằm gốc tre để chiêm nghiệm t́m xem v́ sao tre nó “xanh” để biết rơ cái “lư” của sự vật mà không thấy câu trả lời. Từ đây, người ta có thể đặt lại vấn đề, và nghĩ rằng các ngài học giỏi tài cao, kiến thức uyên bác vẫn có lúc sai. Không nói chuyện bên Tàu, chỉ nhắc chuyện bên Việt Nam. Các học giả, sử gia như Ngô Tất Tố, Trần Trọng Kim vẫn có lúc sai. Có lúc các Cụ v́ “lời xưa”“quên lư”. Điển h́nh là khi các cụ dịch bài thơ của Trương Kế mà người Trung Hoa đời sau đặt cho cái tên là Phong Kiều Dạ Bạc, ư và lời của các cụ vẫn theo lối “rập khuôn”. Có lẽ, các cụ cũng đă từng dậy sớm, uống trà, ngâm thơ, ngắm trăng mai, nh́n sương sớm, v.v. thế mà cái việc người ta hiểu bài thơ của Trương Kế theo ư riêng hơn 1,200 năm nay, và sau này nữa, vẫn c̣n dính chắc bởi ư “xưa bày, nay làm” không dám sửa. Có thể các cụ có kiến văn quảng bát, đôi mắt sáng tinh anh, nên chi khi gần về sáng, các cụ thấy cây phong bên bờ sông đẹp tuyệt, trong khi mắt người thường chỉ thấy đen thui! Chỉ có cụ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu là dại, là say rượu, là lơ đễnh sao đó nên không thấy cây phong bên bờ sông, khiến vô số “thức giả” sau này phải nhắc nhở, tự ư thay phiên nhau thêm vào bài thơ dịch của cụ Tản Đà hai chữ “cây bến” và vô số các thức giả khác hùa theo y chang một cái hănh diện là đă làm việc sao y chánh bản! Cụ Nguyễn Hàm Ninh cũng không thấy cây phong. Bài thơ của Trương Kế được khắc vào bia, để trong chùa Hàn San bên Tàu. Theo ảnh chụp, th́ đề tựa bài thơ khắc riêng trên một bia, và cả bài thơ khắc riêng trên một bia khác. Hai chiếc bia đá tảng xếp gần nhau. Cỡ chữ và màu bia cũng khác. Nếu như Trương Kế đặt đề tựa cho bài thơ này th́ đề tựa phải dính liền với bài thơ, có nghĩa là phải chung một tấm bia. Nhưng không! Hai bia cách biệt!

2a. Hai tấm bia Phong Kiều Dạ Bạc và bài thơ

2b. Bài thơ trong chùa Hàn San.

 

Người hiểu chuyện xưa, biết triều đại nhà Đường, thời mà Trương Kế thi đậu và làm quan (năm 753), bài thơ có đầu đề thường phải do quan trường, hay người chủ xướng ra đề. Thi nhân, học tṛ hay người bị bắt làm thơ v́ lư do nào đó, cứ theo đề đă ra mà sáng tác thơ theo quy luật của Thơ Đường. C̣n trong những lúc sáng tác b́nh thường, đại ư bài thơ tự nó đă là đề bài không cần viết ra! Nếu tự ư viết đề tựa của bài thơ ra, có thể bị trách là tác giả bài thơ đă ngạo mạn v́ cho người đọc bài thơ không đủ tŕnh độ để hiểu! Thử tưởng tượng câu chuyện như thế này: Sau khi viết một bức thư tỏ t́nh lâm ly tha thiết dài cả mấy trang, trước khi kư tên, c̣n viết thêm một câu “Tóm lại, đây là bức thơ nói cho em biết là anh yêu em!”, hay táo bạo hơn, ngay đầu trang thư, ghi: “Đây là bức thơ cho em biết là anh yêu em!”. Có khi c̣n cẩn thận bằng cách viết cho to, đồ đậm từng chữ và gạch đít cả câu cho “chắc ăn!”. Nhân chuyện đề tựa bài thơ mấy trăm năm trước, xin hỏi quư vị học giả một câu về việc chỉ v́ một bài thơ bông đùa mà hai cha con vị Khai Quốc Công Thần của triều Nguyễn Gia Long là Nguyễn Văn Thành và Nguyễn Văn Thuyên bị án tử h́nh: Bài thơ này có đề tựa là ǵ?

Khi có bài thơ Đường luật nào đó được hâm mộ, không kể làm bằng Hán văn, hay chữ Nôm, ngày xưa các cụ thường chuyền cho nhau sao lại. Rồi b́nh. Rồi họa. Rồi ngâm, v.v. Nhắc đến bài thơ nào hay, các cụ thường tóm một câu về “đại ư của bài thơ”. Lần lần, mấy “đại ư” này thành cái tên luôn, khỏi cần đọc lại nguyên cả bài! Này nhé, Tam Nguyên Yên Đổ giỏi về thơ nôm, đặc biệt có 3 bài thơ nổi tiếng về mùa Thu. Ba bài này dùng toàn tiếng Việt, tức là tiếng An Nam, tức là tiếng Nôm. Thế mà đề tựa của cả ba bài hoàn toàn bằng chữ Hán: Ba bài này bị đặt tên là Thu ẩm, Thu vịnh và Thu điếu. Lại dạy cho học sinh Việt Nam suốt mấy chục năm dưới dạng chữ Việt gốc La tinh. Hay chưa? Nếu Tác giả đặt đề tựa, th́ chắc không phải là bằng tiếng Hán trong khi ba bài thơ đều bằng tiếng Nôm. Một người đậu đầu ba khoa như vậy, đâu cần khoe thêm là ḿnh giỏi chữ Hán để mang tiếng sính chữ. Trương Kế làm được bài thơ hay tuyệt, người sau này gán cho cái tên là Phong Kiều Dạ Bạc, nhưng may thay đề tựa và bài thơ đồng một thứ chữ của người Tàu, v́ vậy, người Tàu, người Nhật, người Đại Hàn, người Việt Nam có khả năng chữ Hán đều đọc được! Nếu đem ba bài thơ của cụ Tam Nguyên Yên Đổ ra, viết lại bằng thứ chữ trong thời của Cụ, tức là chữ Hán cho đề tựa và chữ Nôm cho bài thơ xong đưa cho người Trung Hoa đọc: Chắc chắn là các người Tàu chỉ đọc được ba đề tựa, c̣n ba bài thơ th́ không đọc được, hoặc chỉ vài chữ như chữ khách, chữ thuyền, chữ thu, chữ một, chữ không, v.v. và mặt mày họ có thể là “ngố” cả ra, trông c̣n buồn cười hơn cả mấy tay Việt Nam “tân học” rành thơ Đường nhưng không quen đọc chữ Hán khi phải đọc bài thơ của Trương Kế trong tấm bia dưới đây:

“Trời đất ơi! Lạ chưa! Bài thơ Tứ Tuyệt, tức là bài thơ Thất Ngôn Tứ Cú của người ta, rành rành có bốn câu, mỗi câu có bảy chữ, sao lại khắc trên bia chỉ có ba ḍng như thế này th́ c̣n chi thể thống cái bài thơ? Lại nữa, lệ viết Khiêm, viết Đài sao quên hết trơn, không đưa chữ Thiên lên trên cao nhất cho đúng phép? Cách mạng Văn Hóa chăng?” Thưa: cứ sang Trung Quốc mà hỏi! Nói tiếng Anh cũng được! Nhưng nên nhớ lại rằng ngày xưa Vương Dương Minh ra nằm gốc tre một thời gian đến độ mỏi mệt nhưng vẫn không biết v́ răng mà tre lại “xanh”!

 

Câu chuyện ngày xưa:

Thời đại các Cụ Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Công Trứ, Dương Khuê cách nay cũng đă gần hai thế kỷ tức là gần 200 năm. Xưa quá rồi! Chỉ có những kẻ yêu thích chuyện cổ mới làm việc mày ṃ, lật trang sử cũ. Ví như, triều Minh Mạng năm thứ 4 (1824) vua cho dựng miếu Lịch Đại Đế Vương 暦 代 帝 王 廟 ở xă Dương Xuân phía nam ngoài kinh thành thờ từ vua Phục Hy xuống Phùng Khắc Khoan. Trước miếu có tấm biển đề Đế Vương Thống Kỷ 帝 王 統 紀. Trong gian phía tây của miếu, có thờ ông Lực Mục 力 牧. Lật trang sách cũ, biết rằng "Vua Hoàng Đế sai ông Lực Mục hái quả ép lấy dầu tẩm bông đốt để làm đèn cho vua hàng đêm soạn duyệt Hà Đồ Thư." Như vậy dầu đốt đèn t́m ra dưới thời Hoàng Đế cách nay đă 4000 năm. Nhớ chuyện xưa, thấy những người làm ruộng, vẫn lấy hai mảnh tre cật khô tức hai mảnh tre khô già nguyên vỏ thường là phần gốc, xát vào nhau để lấy lửa hút thuốc lá ngoài đồng khi con cúi bằng rơm đă cháy hết. Lại nhớ thời người Mỹ cho người Việt Nam hàng triệu cây đèn "Hoa Kỳ" thắp bằng dầu hỏa và bấc vải tỏa ánh sáng lù mù. Người dân quê được phát không cây đèn nhưng phần đông không có tiền mua "dầu hỏa" để thắp. Hơn nữa dân quê ban đêm không cần thắp đèn nhiều v́ thường đi ngủ sớm để lấy sức làm việc ngày hôm sau. Ngày xưa, dân các làng Nguyệt Biều, Lương Quán, Long Hồ, An Ninh v.v. thường tắt đèn đi ngủ khi nghe chuông Thiên Mụ "rung", tức là khoảng 8 giờ tối. Dân các làng khác có thể đi ngủ sớm hơn. Khi nói mấy chữ "nhà không c̣n đèn" có nghĩa là đă đi ngủ. Mùa đông mưa gió, lại càng đi ngủ sớm. T́nh trạng vật chất, hạng làm vườn làm ruộng khá hơn hạng làm thuê làm mướn. Khổ cực nhất có lẽ là dân vạn đ̣, làm nghề đánh cá ven sông. Sống chen chúc trên con đ̣ nhỏ, trời nắng ráo th́ lên bờ kê bếp nấu cơm. Trời mưa băo th́ việc nhen lửa mới thiệt là khổ. Ánh lửa chài leo lét và rất ít thấy xuất hiện về đêm trong vùng thượng lưu sông Hương từ Kim Long trở lên, ngoại trừ vài bóng đèn soi cá lúc đầu đêm. Thuyền đ̣ dưới phố Huế có thể thắp đèn v́ khách thuê hay những ghe con bán hàng rong quà bánh bún cháo. Tuy nhiên khoảng sau nửa đêm cũng chẳng c̣n ánh đèn. Từ bến đ̣ "Cây Đa" của làng Nguyệt Biều nh́n thẳng qua bến đ̣ "Chợ Đồn" của Văn Thánh, trước năm 1975, có một vạn đ̣ tụ tập quanh bến đ̣ Chợ Đồn. Năm 1955, khi đài bán nguyệt trên bến sông nhà ông Đốc Phước cạnh bến Cây Đa xây xong, có cho mở tuồng hát bội thuê ban Đồng Xuân Lâu của Bà Tuần ở Ngă Giữa lên hát cho cả làng Nguyệt Biều xem. Bên kia sông, trên băi đất trống trước đền Văn Thánh có năm làng An Ninh vẫn thuê các ông Hè, ông Chái, và cô Sen lên ḥ giả gạo. Những đêm rằm, ngồi trên đài bán nguyệt nh́n ḍng sông bàng bạc nên thơ, thêm lâu lâu có vài tiếng quạ kêu rời rạc trên cây ươi cao ngất ở góc vườn sát bến Cây Đa khiến thấy câu thơ của Tản Đà "Trăng tàn tiếng quạ kêu sương" thiệt là thấm thía. Bên kia sông, bờ tre che khuất hàng quán chợ Đồn, dưới nước, vạn đ̣ âm u không một ánh đèn. Càng nh́n, cảnh vật càng thấy mông lung, một màu xám đen mờ mịt và xa thăm thẳm. Bên ni làng Nguyệt Biều cũng như bên tê làng Hồ, làng An Ninh không có cây phong. Bến ông Đốc Phước có trồng dừa và bốn cây phượng sát bờ sông. Mùa hè, hoa phượng nở đỏ rực, nên sau này có thêm tên là bến cây Phượng. Lại những đêm hè sáng trăng, xuống ngồi chơi trên đài bán nguyệt của bến cây Phượng: Tàn lá và hoa phượng ban ngày nh́n ngang tầm mắt đẹp bao nhiêu, th́ khi đêm xuống trông càng mờ mịt lạnh lẽo buồn chán bấy nhiêu! Có lần trên đường vào Đà Nẵng, lúc sắp đổ đèo, nh́n xuống rừng cây thấy có mấy cây lá vàng và đỏ thẫm nỗi bật hẵn lên. Hỏi bác tài xế, th́ được cho biết đó là cây Phong! Bến cây Phượng không có cây phong nhưng màu hoa phượng cũng tạm thời gượng ép làm màu quan san của cây Phong rực rỡ lúc ban ngày! Nhưng trong bóng đêm, cảnh gượng ép này không chấp nhận được v́ "cây bến" xám đen bệnh hoạn dưới ánh trăng khuya chẳng có chút ǵ thơ mộng! Nghĩ mà thấy thương cho một số những người theo lệ cũ, hễ người xưa nói là thường phải đúng v́ tin rằng "có tích mới dịch nên tuồng" nên mở lời tán tụng “lời người xưa” không cần phải trái. Nhiều khi tán tụng quá đà đến độ làm cho con quạ phải mọc thêm một cái chân gị thứ ba!

Trước năm 1960, ông Đốc Thân Trọng Phước qua đời. Lúc này, mấy cây phượng và dừa dưới bến sông đang c̣n nhỏ xíu, chưa ra hoa. Ngọn đèn điện trên đài bán nguyệt cũng vĩnh viễn tắt ngóm v́ máy phát điện riêng của ông Đốc Phước không bao giờ chạy nữa. Cho đến sau 1975, bên tê Văn Thánh và bên ni Nguyệt Biều cũng vẫn chưa có đèn đường, cho nên ban đêm cảnh vật thường tối thui. Việc soi đèn bắt cá sau 1975 xảy ra mô ở trong Nam, chứ trên sông Hương tuyệt nhiên mất hẳn kể từ sau biến cố tết Mậu Thân 1968. Trong hoài niệm vu vơ, những câu chuyện vụn trong bữa cơm do ôn mệ kể lăng đăng trong tiềm thức… Mọi lần, Ngài Ngự xuất bôn: Đức Hàm Nghi mới hơn 14 tuổi… Trong khi mọi người bàng hoàng than khóc, th́ cũng có một số người đê tiện, không kể mạng sống chạy ngược vào thành hôi của… Ăn cắp vàng, bạc, châu báu, lụa là, các thứ đồ quư… Cuối cùng là những lu dầu phụng trong kho của nhà vua được gánh lên chứa ở miệt Kim Long… Xưa kia, ông Lực Mục ép dầu cho vua Hoàng Đế. Sau này, dân An Nam đóng ép dầu phụng trả thuế cho nhà vua. Nội tẩm th́ dùng hoàng lạp và bạch lạp tức đèn sáp vàng (thường làm bằng sáp ong) và đèn sáp trắng. B́nh thường th́ đèn thắp bằng dầu phụng tức là dầu đóng ép từ hạt đậu phụng mà ra. Có người c̣n cho là trong cung, tức là chỗ ở của vua, đèn thắp bằng dầu chai, tức là thứ nhựa “dầu rái” dùng để trát thuyền, trát ghe, trát thúng ngăn nước, khi đốt lên khói tỏa mịt mù… v́ đă hấp tấp nghe hai câu ca dao sau đây mà không hiểu nghĩa:

Ai ơi! Chớ phụ đèn chai,

Thắp trong Cần Chánh, rạng ngoài Ngọ Môn!

 Thiệt đáng thương cho cái bông hoa lài mọc hoang mô đó!

 

 

3. Làm dầu ăn (Đóng ép dầu phụng)

(Trích http://nguyentl.free.fr/

autrefois/metiers)

 

 Bài thơ bất hũ:

Lại chỉ những con người “óc mó” mới thỉnh thoảng cắc cớ chơi cái tṛ dùng thuyền văn, nương gió bắc, qua tuốt bên Tàu: thấy bến Phong Kiều sóng vỗ phập phềnh, bệ đá tảng ngả nghiêng loạn thạch. Tên là Phong Kiều nhưng cầu toàn bằng gạch đá nặng nề, chẳng có lấy một sớ gỗ phong gỗ gió. Bến ồn ào phàm tục có treo chuông chia băi hẳn ḥi. Thuyền khách, thuyền buôn, thuyền câu, thuyền sách, tụ hội ngoài thành Cô Tô gần chùa Hàn Sơn nhỏ bé. Con sông đào dài nhất Trung Quốc nối Bắc Kinh và Giang Châu mang tên là Đại Vận Hà tưởng là dài rộng theo như tên, nhưng thật ra bề rộng c̣n nhỏ hơn con sông Đông Ba, nước lại đục ngầu ô nhiễm không thể tưởng. Đại Vận Hà dùng để chở lúa gạo, đào dưới đời nhà Tùy trước khi có Trương Kế. Hàn Giang cũng tưởng đâu nước sâu sóng lớn chạy ngang thành Cô Tô danh tiếng, ai ngờ sông Hàn c̣n nhỏ hơn cả con sông đào An Cựu nắng đục mưa trong! Mấy con kênh và các rảnh nước như bàn cờ trước thành Cô Tô có một loại cá như cá chép nhỏ hay cá đối sông là món lợi của các ngư ông thuộc kẻ vạn Hàn Giang!

C̣n chuyện ông Trương Kế thời xưa, v́ xa nhà và phải lo việc quan kiểm kê hàng hóa trên bến nước ồn ào không ngủ được, làm bài thơ tạo nhiều cảm xúc khác nhau. Có người thưởng ngoạn hứng quá, diễn tả ra ngoài ư muốn của tác giả, thêm thắt nọ kia trái hẳn ư thơ. Ngay đề tựa “Phong Kiều Dạ Bạc” là sau này người ta đặt giùm, chứ tác giả bài thơ cũng không hề hay biết. Trương Kế tiên sinh nằm trên thuyền trong đêm khuya thao thức có thể là chuyện có thật, chứ chiếc cầu Phong dịch từ hai chữ Phong Kiều không biết ở nơi mô? Câu hỏi trớ trêu, thôi th́ cứ gọi đại là Bến Phong Kiều cho tiện. Không cầu th́ bến, sông nước gắn liền hai thứ rất chị em! Hai bên bờ sông Hàn, nội trong tầm mắt quanh bến Cô Tô chắc chi đă có cây phong cho dù Trương Kế có viết rơ mấy chữ “giang phong ngư hỏa”. Câu chuyện đơn giản, khi không lại bày đặt giải thích theo lối suy diễn quá đáng thành ra sai lạc vô cùng.

Chuyện bên Tàu, thời ông Trương Kế cách nay hơn một ngàn hai trăm năm, khúc sông Hàn trước thành Cô Tô, ngư phủ săn cá vào ban đêm với đèn nhựa chai và chim cốc đế. Không dùng lưỡi câu, mắt lưới, mồi, nhữ nọ kia. Một chiếc ṿng tre đan tṛng ngang qua cổ chim cột theo sợi dây vừa để giữ chim khỏi lạc sang thuyền khác, vừa chận họng không cho chim nuốt cá. Dưới ánh sáng cây đèn, đàn cá bu lại, chim lặn xuống nước bắt cá. Ngư phủ kéo chim lên thuyền, một tay bóp họng chim một tay cầm lấy đuôi cá kéo ngược trở ra. Ui cha, phải chăng từ h́nh ảnh này mới nẩy sinh ra danh từ nôm na bóp hầu chặn họng, ăn cướp cơm chim?

Bốn chữ Giang Phong Ngư Hỏa mà dịch là “trên bờ có những cây phong, dưới sông mấy ngọn đèn chong kẻ chài” ngâm ông ổng ba bốn mươi năm nay, bây chừ nghĩ lại thấy thiệt là sai. Tản Đà dịch là “lửa chài soi bóng” vẫn chưa hết ư v́ sự hạn chế của câu thơ lục bát.

Không hiểu v́ sao mà các sách hiện hành đều ghi “lửa chài cây bến”. Nguyên nghĩa chữ Giang Phong là cây phong mọc ven sông. Hồ Phong là cây phong mọc bên bờ hồ. Sơn Phong là cây phong mọc trên núi. Tiền Đ́nh Phong là cây phong mọc trước sân. Hậu Viên Phong là cây phong mọc sau vườn. Ư nghĩa chữ Phong trong câu thơ đă quá rơ ràng, nhưng có lẽ phải hiểu theo nghĩa khác. Nửa khuya, trăng mờ, sương giăng đầy trời là điều ai cũng nh́n thấy. C̣n cây phong, cứ nh́n thử xem, dáng th́ có dáng mù mờ, nhưng màu sắc th́ đen thẩm cũng giống như phần lớn các cây khác trong bóng đêm. Càng lớn tuổi, càng thức dậy sớm. Có khi ba giờ sáng đă dậy uống trà. Giờ này, gặp khi trăng vừa lặn, sương phủ đầy trời, thử khoác áo ấm, không cần đèn, âm thầm ra vườn nh́n ngắm cây phong th́ sẽ bị cụt hứng! (Ngay như tại quận Cam, đại lộ Edinger ngang khúc công viên Mile Square, giữa hai con đường Ward và Brookhurst lúc nửa đêm thu, cây phong lá đỏ lá vàng trông đen thui cũng giống như cây thông lá xanh một thứ!) Ban đêm, ba thứ: ánh trăng tàn, màn sương bạc và tiếng quạ kêu trong đêm đă quá đủ, thêm cây phong vào thành thừa thải v́ không nh́n thấy màu sắc xanh, vàng hay đỏ của lá phong! Cây phong đẹp phần lớn do màu lá dưới ánh sáng thiên nhiên của ban ngày hay đèn nhân tạo có độ sáng cao chứ không phải thứ ánh sáng của mặt trăng, đèn sáp, hay đèn dầu! C̣n như chơi kiểu ưa ngắm cành rụng hết lá trong thời tiết mùa đông, th́ cũng phải đủ độ sáng để thưởng ngoạn, chứ dưới ánh sáng lù mù, cành cây phong trơ trụi trông chẳng khác ǵ chùm xương cá ngổn ngang!

 Thừa thải hay mơ hồ là điều tối kỵ trong thơ Đường! Chữ Giang Phong trong bài thơ nên hiểu theo nghĩa khác. Chữ Phong trong bài thơ ấn chứng ư niệm về màu sắc rực rỡ của lá phong vào mùa thu như ánh lửa. Lửa đèn nhữ cá trên sông rực rỡ sống động như một ḍng sông lá phong. Giang phong ngư hỏa phải gom về một ư. Có như vậy mới đối với giấc ngủ buồn phiền v́ ư niệm đối với ư niệm. Lúc nửa khuya, trăng tàn, quạ khóc. Dân Cô Tô chắc đă ngủ say. Dưới sông ánh lửa kẻ chài. Trên bờ tối mịt ai người thấy phong? Hàn giang nước chảy xuôi ḍng. Trương Kế thao thức, nhưng chắc chi ông ta đă làm thơ trong lúc này. Người ta đồn rằng Trương Kế chỉ làm được ba câu rồi bí! Đến nửa đêm, nghe tiếng chuông trên chùa Hàn sơn vọng về mới làm tiếp câu cuối: “Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.”

Có lẽ Trương Kế thiếu ba chén rượu (bán dạ tam bôi tửu) nên phiền toái không ngủ được trên bến lạnh Cô Tô. Cái xứ chi mô mà núi sông đều lạnh giá nên có tên là Hàn Sơn 寒  山  và Hàn Giang  寒 江.

Sau đây là hai tấm h́nh cây phong  chụp vào ngày 5 tháng 12 năm 2006 tức là ngày 16 tháng 10 năm Bính Tuất (Photo Thân Trọng Tuấn – Mile Square Park)

9. Trên bến Hàn Giang

 

Một chút thăng hoa:

Chuông chùa thường “rung” vào buổi sáng (khoảng trước sáu giờ) và buổi tối (khoảng tám giờ) tức là triêu và mộ. Tiếng chuông buổi tối th́ người quanh vùng vẫn nghe, c̣n tiếng chuông sáng th́ người dậy sớm hay tỉnh ngủ mới nghe, chứ thành phần mê ngủ th́ ít nghe rung. Tiếng trống cầm canh do nhà chức trách lo hàng đêm, có thể nh́n theo hướng chuyển của ngọn lá dâu tằm mà xác định th́ giờ. Chuông chùa Hàn Sơn dộng lúc nửa đêm về sáng, vọng đến tai của thi nhân Trương Kế đang trằn trọc không yên trên bến nước phập pḥng. Thiền gia có thể cho đây là tiếng chuông vô âm vang lừng vọng đến, thức tỉnh cảnh đời đang bị quấy rầy v́ tiếng quạ giữa đêm khuya, cuộc sống vất vả tràn đầy săn bắt, cướp giựt, khổ, chấp, nghiệp chướng, luân hồi, thất t́nh, lục dục, sinh tử, sân si, v.v.

Phật giáo phát xuất từ Ấn Độ. Chuông và Mơ th́ không. Người Việt nam, nói đến chùa thờ Phật, là liên tưởng đến cái mơ gỗ, cái chuông đồng! V́ không phải phát xuất từ Ấn Độ, cũng chưa rơ từ đâu, nên cứ tạm thời cho là cho hai thứ này là sản phẩm của Trung Quốc, v́ bên nước Ấn Độ ít thấy dùng hai thứ này. Rồi th́ hai hồi chuông Triêu và Mộ, tức là hồi chuông gióng lên vào lúc chiều tối và hồi chuông lúc ban sáng tinh sương. Cả hai hồi chuông đều đánh đủ mỗi hồi gồm 108 tiếng. Thời nhà Chu, lúc làm niên lịch, bày ra một năm gồm 12 tháng, 24 tiết và 72 hậu. Cọng ba thứ này lại tṛn chẵn 108. Trong một năm, tùy theo bốn mùa và tám tiết, có khi giờ khắc cũng uyển chuyển thay đổi tí ti cho hợp với t́nh trời đất giao ḥa. Đêm bắt đầu từ giờ Tuất. Ngày bắt đầu từ giờ Dần. Cứ cho giờ Tư lúc nửa đêm là vào khoảng từ 11 giờ khuya đến 1 giờ sáng. Tiếng chuông chùa thường “vô đêm” lúc đầu giờ Tuất và “ra ngày” vào cuối giờ Dần. Trăng đêm 16 (ta) mọc đầu giờ Tuất, lặn đầu giờ Dần kéo qua đầu giờ Măo. Trăng tối 20 (ta) mọc cuối giờ Tuất lặn đầu giờ Măo kéo qua đầu giờ Th́n. Từ 16 đến 20 là 5 đêm. Từ Tuất qua Dần là 5 giờ. Cứ cho giờ Dần là khoảng thời gian từ 3 đến 5 giờ sáng. Cuối giờ Dần là khoảng gần 5 giờ sáng. Nếu “dộng” chuông thong thả từng tiếng một, sẽ mất khoảng 1 giờ (giờ âm lịch) tức khoảng gần 2 tiếng đồng hồ hiện đại, tức là một tiếng chuông khi đánh lên cho đến lúc dứt âm dài khoảng chừng 1 phút. Hai nhà sư Phật Giáo đầu tiên từ Tây Trúc sang Trung Hoa dưới triều nhà Hán, được vua Hán Minh Đế cho ở trong Hồng Lô Tự, nên sau này, chỗ sư săi ở gọi là Tự tức là chùa. Hai nhà sư tiên phong này, không rơ danh tánh, và cũng chẳng nghe đề cập ǵ đến vấn đề chuông và mơ! Trước đó, kinh Lễ của Trung Hoa, chẳng thấy đề cập đến chuông và mơ. Thời Khổng Tử, tế lễ cũng chẳng dùng chuông và mơ và cũng chẳng đốt nhang hương. Tại Việt Nam, cho đến vị vua cuối cùng của triều Nguyễn là vua Bảo Đại, tế Nam Giao, tế Xă Tắc chỉ dùng chiêng và trống chứ không dùng chuông và mơ. Lệ xưa, thời chưa có đồng hồ như bây giờ, vẫn dùng tiếng chiêng tức là tiếng của cái phèng la, tiếng trống hay tiếng mơ để báo giờ. Trong khi chưa kịp tra cứu, cứ xem như 108 tiếng chuông sáng hay tối của chùa là mượn của nhà Chu trong việc chỉ định phân chia th́ giờ chứ chẳng phải phát xuất từ Ấn Độ, chẳng phải của Phật Giáo. Trong khi đang viết bài này, bên chùa Hàn San của Trung Quốc, khách du lịch với đủ mọi quốc tịch như Trung Quốc, Đại Hàn, Nhật Bản, Tích Lan, Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam, v.v. tranh nhau mua vé, xong xếp hàng chờ đến phiên để đánh một vài tiếng chuông quán niệm theo câu thơ “Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền!”. Thiện tai! Lành thay!

 Vài điều dẫn chứng:

Cây bàng mọc nhiều ở vùng nhiệt đới. Người Việt nam trồng bàng ở sân đ́nh, sân trường, ven đường, góc chợ, trong công viên, ngay cả cạnh bờ ao, bến đ̣, v.v. Ở Mỹ, các tiểu bang Hawaii và Florida cũng có nhiều cây bàng. Tại Cuba, trong khu vực vịnh Con Heo “nổi tiếng” mọc rất nhiều cây bàng!

Có người cả đời chưa hề thấy cây phong (Acer), nên có khi c̣n lầm cho cây phong là cây bàng (tên khoa học của cây bàng là Terminalia catappa L. họ Combretaceae nguồn gốc từ Mă Lai) tiếng Pháp gọi là badamier; tiếng Mỹ gọi là tropical almond, beach almond, coastal almond, Fiji almond, Indian almond, Malabar almond, myrobalan, sea almond; người Fiji gọi là sivi, tatasova, tavola, tavola lato, tivi, tiviloa; người Phi Luật Tân gọi là talisa, talisai; người Hawaii gọi là kamani, kamai haole, kamani ‘ula’; người Samoan gọi là talie; những dân tộc nói tiếng Spanish gọi là almendra, almendro, almendro de la India; người Tahiti gọi là auari‘i-roa, autara, autara‘a, taraire; v.v.

Về gia phả của cây phong, xin sao lục ra như sau:

Kingdom: Plantae

     Division: Magnoliophyta

          Class: Magnoliopsida

               Order: Sapindales

                    Family: Sapindaceae

                         Genus: Acer (Phong-Maple)

                              Species: A. buergeranum (Phong ba cánh – Trident Maple)

                                              A. saccharum (Sugar Maple) v.v.

 

10. (trái): Cây bàng ở Huế 15 tuổi (Photo: Trần Hữu Sơn Tùng)

11. (giữa): Lá bàng ở Hawaii (ww.hear.org)

12. (phải): Trái bàng ở Hawaii (www.hear.org)

 

Lá phong nhiều cánh như chân gà, trong khi lá bàng to như cái quạt mo.

Tên khoa học là Acer buergeranum L.; tiếng Anh là Maple, tiếng Tàu là Feng 楓, tiếng Việt là Phong.

Xin để ư cách tŕnh bày phổ hệ theo tiêu chuẩn quốc tế là phải thụt vào từng hàng và cách xếp chữ phải như vậy. Cách sắp xếp trên web nhiều khi không đúng, có lẽ v́ thiếu chỗ. Không dám dịch ra tiếng Việt. Xin để cho những người chuyên môn dịch.

Xuống đến lớp thứ sáu là Genus: Acer mới gọi là Phong 楓 hay Maple phân ra hàng trăm loại phong trên khắp thế giới. Acer là tiếng Latin xưa trỏ cây Maple, cây Phong. Á châu có trên một trăm loại phong. Loại Acer buergerianum nguyên thủy của Trung Hoa, gọi là San Jiao Feng (Tam giác phong 三 角 楓) tức là loại phong cánh lá có ba cạnh, lá màu xanh chuyển dần thành lục vàng thường cháy cạnh v́ nắng gió, tiếng Mỹ gọi là Trident Maple hay Three-toothed Maple, thường hay gọi là Japanese Maple vẫn được giới cây kiểng (bonsai) thích dùng trồng thành nhóm (rừng) trong chậu gọi là Bồn Cảnh hay Penjing hay Saikei. Thi sĩ Trương Kế có thể đă thưởng ngoạn lại Tam giác phong này. Về sau, lại thêm giống năm cánh U Jiao Feng (Ngũ giác phong 五 角 楓) rất phổ thông cho nhiều chi thể khác nhau.

13. (trái) Acer buergerianum Ba cánh

14. (giữa) Acer buergerianum Ba cánh

15. (phải) Acer buergerianum Năm Bảy cánh

(Photos Thân Trọng Tuấn- Ba h́nh này chụp sau vườn)

 

Cây Maple của Bắc Mỹ châu ngoài việc dùng trồng làm cây cảnh (Landscaping) trên đường phố hay trong công viên, lấy gỗ, c̣n có loại như Acer saccharum tức Sugar Maple lại được trồng để lấy nhựa luyện làm mật ngọt gọi là Maple Syrup ăn với bánh bột nướng mềm không men là Pancake vào buổi ăn sáng. Chỉ có dân chịu khó và chịu chi mới mua nổi Maple Syrup thứ thiệt, chứ ở các tiệm ăn Mỹ, tuy gọi là Maple Syrup nhưng toàn là đồ giả làm từ bắp tức lúa ngô hay corn ḥa thêm mùi cháy khê giả tạo. Tháng tư, mùa tuyết tan, ở tiểu bang New York, như Rochester cạnh hồ Ontario, là mùa thu nhựa cây phong Acer saccharum. Lái xe ra ngoại ô, đi trong cái lạnh tê tái, tanh tanh v́ muối rải đường, chui vào mấy ḷ nấu ẩm thấp, quê mùa, nghèo nàn, dơ bẩn, nài mua lớp nhựa cháy đáy nồi, xong trên đường về, lâu lâu dùng ngón tay “chấm mút thiệt là ngon tàn cơn gió lạnh”! Gỗ lấy từ cây Maple thuộc loại rất cứng, màu vàng nhạt, dùng làm bàn ghế, đàn guitar, khung thêu, cán búa, v.v. Năm 1976, vượt Niagara Fall, qua bên tê nước Canada, lá cờ quốc gia mang h́nh lá phong ba cánh màu đỏ, bên ni xứ Mỹ không biết v́ sao cho in h́nh lá phong ba cánh màu xanh lục vào thùng rác cạnh ghế đá công viên! Đứng bên tê bờ thác Niagara của Canada, nh́n về Buffalo của Mỹ, cảnh vật đẹp tuyệt vời! Đẹp nhất vào mùa thu, ba màu căn bản xanh, đỏ và vàng của lá cây cách biệt rực rỡ đến bàng hoàng!

 16. A farm with a sugar maple in front yard.   17. Acer accharum

(Photo 16 & 17: Wikipedia) 

 

 

Từ lớp thứ bảy Species, gây thêm các giống mới, mang tên mới chẳng hạn như loại Bloodgood Japanese Maple (Acer palmatum var. atropurpureum) rất được ưa chuộng.

Trên thế giới, có hàng trăm loại phong. Kể sơ vài loại như A. barbatum, A. circinatum, Acer elegantulum Acer forrestii A. glabrum, A. grandidentatum, Acer hyrcanum Acer japonicum,  A. leucorderm, A. macrophyllum, Acer monspessulanum A. negundo, A. nigrum, Acer oliverianum subsp. Formosanum, A. pensylvaticum, Acer pseudosieboldianum, A. rubrum, Acer rubrum var. trilobum, A. saccharinum, A.saccharum, A. spicatum, Acer tegmentosum, Acer tschonoskii var. koreanum Acer ukurunduense, Acer x freemanii, v.v.

Tại Việt Nam, trong 99 ngọn núi của dăy Hồng Lĩnh, nơi đă in dấu chân của thi hào Nguyễn Du thơ thẩn vương màu “quan san”, có rất nhiều cây phong. Cây phong già, ngả xuống, sinh loại nấm quư. Trong Đại Nam Nhất Thống Chí, cuốn thứ ba là Thừa Thiên Phủ, tập Trung, Thái Loại; Hương Tẩm 大 南 一 統 志 卷 之 三 承 天 府 (中) 菜 類 香 蕈香 蕈: “Tục danh nấm cây Phong 楓”. “Bản Thảo”: Hương tẩm sinh trên cây phong mục ở trong núi sâu, nhỏ hơn thứ nấm khuẩn 菌(?) mà lại mỏng, sắc vàng đen, vị rất thơm ngon, làm giai phẩm thực vật, nếu có rắn rít ḅ qua th́ nấm có độc, ăn nhằm th́ nó bắt người cười măi không thôi. Ăn độc ấy phải lấy nước trong dây bí đao mà giải. Trong núi sâu ở các tỉnh đều có, duy ở Lạng Sơn nhiều hơn.”

“Bản Thảo” tức là Bản Thảo Cương Mục của Lư Thời Trân thuộc đời nhà Minh, Trung Quốc, phân chia thuốc ra làm 16 bộ, hợp với cách bào chế của Lôi Công mà trị bệnh. Không thấy ghi cây phong có công dụng ǵ trong vấn đề dùng làm thuốc trị bệnh. Trong cuốn “Những cây thuốc và vị thuốc của Việt Nam” của Giáo Sư Tiến Sĩ Đỗ tất Lợi cũng không thấy ghi.

 

Cây phong Bắc Mỹ:

Tại Orange County của miền nam California, v́ thời tiết không đủ lạnh nên thông không đủ xanh, phong không đủ đỏ và ngân hạnh tức là cây bạch quả ginkgo (Ginkgo biloba L.) không đủ vàng trong dịp lễ Tạ Ơn! Màu sắc của công viên Một Dặm Vuông (Mile Square Park) không tràn đầy mướt mịn.

 Cây Phong loại Sweet Gum (Liquidambar styraciflua) cho trái có gai như quả chôm chôm, màu lá nhiều màu từ xanh tươi qua đỏ, đỏ vàng hay tím nâu trong nắng dịu của mùa thu và xám ngoét ảm đạm trong màn đêm nhất là những khi trở trời bao trùm sương muối. Lá phong Sweet Gum rơi bên các vệ đường Brookhurst, Edinger, Euclid, Warner vàng đỏ tả tơi phía công viên, trong khi mấy cây thông Canary thẳng hàng trên ốc đảo giữa các con đường quanh năm được tỉa gọt theo h́nh bút tháp quạnh hiu. Đặc biệt, trên con đường Edinger, nh́n sang lề đường phía bắc sẽ thấy vài khóm chuối, chùm nhăn lồng, táo tàu, vải trạng, hồng ḍn, đu đủ  măng cầu xiêm của những gia đ́nh gốc da vàng Giao Chỉ! Mỹ-Á giao duyên nhưng h́nh như chẳng ai buồn để ư!

Phổ hệ của loại phong Sweet Gum này như sau:

     Kingdom: Plantae

          Division: Magnoliophyta

               Class: Magnoliopsida

                    Order: Saxifragales

                         Family: Altingiaseae

                              Genus: Liqidambar

                                   Species: L. styraciflua

 

Tên khoa học là Liqidambar styraciflua L.,  tiếng Anh là Sweet Gum, tiếng Việt là Phong Mỹ.

So sánh phổ hệ, th́ cây Sweet Gum khi xuống tới kỳ thứ tư là Order đă thay đổi, tách dần ra theo sự biến dạng của cây.  

20. Liqidambar styraciflua L. 'Rotundiloba'

21. Liqidambar styraciflua L. 'Rotundiloba'   (Đỏ)

(Photo Thân Trọng Tuấn – Mile Square Park)

 Loại Sweet Gum c̣n gọi là Red Gum, tại miền Nam California được trồng rất nhiều tại các khu thương măi, đường phố, công viên và tư gia. Điển h́nh, thành phố Santa Ana của quận Cam có con đường Fairview quen thuộc: những cù lao trên con đường này vào cuối thu rực rỡ màu đỏ màu vàng của cây Sweet Gum xen kẻ với màu xanh đậm của những cây thông Jeffrey già cỗi. 

22. Liqidambar styraciflua L. 'Rotundiloba'

23.Liqidambar styraciflua L. 'Rotundiloba' (Vàng)

(Photo Thân Trọng Tuấn – Mile Square Park)

Từ sau khi lễ Tạ Ân (Thanksgiving) màu lá vàng và đỏ của Sweet Gum có thể trông thấy khắp nơi! Lá của cây Sweet Gum khi ṿ nát có mùi thơm. Gỗ của cây Sweet Gum màu nâu đen hay đen, thuộc loại gỗ cứng, dùng làm khung ảnh rất giá trị. Hạt của cây Sweet Gum nhỏ và không có hai cánh như hạt cây phong. Cây Sweet Gum cũng đang được giới chơi cây kiểng lưu ư.

 24. L. styraciflua L. Chụp lúc 6:45 sáng 5-12-2006 (Photo WD)

  

Thi sĩ Trương Kế:

Về tiểu sử của Trương Kế, không ai biết ông sinh và mất vào năm nào, cũng như t́nh trạng gia đ́nh, vợ con ra sao. Chỉ biết là Trương Kế đậu Tiến Sĩ Cập Đệ 荐 士 及 第 năm Thiên Bảo thứ 13 (năm 754) của thời Thịnh Đường, theo lệ không được ghi tên trong sổ khoa hoạn để được bổ đi làm quan như các khoa xuất thân (*). Theo Đường Thi Tam Bách Thủ của Hành Đường thoái sĩ biên đính ghi: Trương Kế: Tự Ư Tông, Tương Châu nhân, Đăng Thiên Bảo Tiến Sĩ, Kiềm Kiểm Giáo… (Trương Kế tự là Ư Tông, người Tương Châu, đậu Tiến sĩ năm Thiên Bảo, giữ chức Kiềm Kiểm Giáo…) Trương Kế được chức Kiềm Kiểm Giáo, có nghĩa là công việc của ông chỉ lo giữ một chiếc ấn nhỏ tí xíu, khi cấp chỉ huy của ông là các quan Kiểm Giáo kiểm soát hàng hóa trên các tàu chở hàng trước bến Cô Tô xong, áp dấu xác nhận, th́ Trương Kế cũng ḍ lại danh sách xong áp dấu "Kiềm" trước khi chấm dứt cuộc kê cứu hàng hóa xác nhận là không có gian lận! Thời Trương Kế, chữ khắc trên con dấu nét nhỏ như "sợi tóc", không như mấy trăm năm sau, chữ khắc trên ấn của triều đại nhà Tống to như "đầu đũa". Triều đại nhà Đường không có áp tự tức "kư tên", chỉ áp ấn là đủ. Tiến Sĩ Cập Đệ Trương Kế chỉ có chừng ấy công việc. Thuyền cặp bến, kiểm soát xong lúc nào th́ áp dấu ấn lúc đó, không kề giờ giấc, và dĩ nhiên là không có các ngày "thứ bảy, chủ nhật và các ngày lễ" như bây giờ! Quan Kiềm Kiểm Giáo chỉ chuyên đóng ấn Kiềm sau khi kê cứu, c̣n thua cả quan dán thuế chợ thuế đ̣! Vị quan phải thức mà áp dấu kiềm trả nợ áo cơm nhờ một bài thơ mà được người sau vinh thăng khoác cho mối sầu quốc hận thao thức đêm trường trên bến nước Cô Tô một thời vang bóng! Trong việc thăng quan tiến chức, năm Đại Lịch thứ 11 (776), hai mươi hai năm sau ngày đậu Tiến Sĩ, Trương Kế giữ chức vụ cao nhất trong đời là: “Kiểm Hiệu Từ Bộ Viên Ngoại Lang Phân chưởng Tài phú Hồng Châu”. Từ chức Kiềm Kiểm Giáo lên chức Kiểm Hiệu cũng chỉ vài cấp, chứ làm ǵ có chuyện xuất thân Y Công chùi pḥng bệnh viện, sau vài chục năm phục vụ sẽ lên làm Bác Sĩ hay ông cai trường hàng ngày có bổn phận quét lớp và đánh trống, trước khi về hưu sẽ đương nhiên giữ chức Giáo Viên, Giám Thị, Giám Học hay Hiệu Trưởng! Thế sự xoay vần, ở đời có kẻ đâm ra nhầm lẫn, thấy Trương Kế đậu bằng Tiến Sĩ (khoảng năm 753-754 sau công nguyên), dưới đời vua Lư Huyền Tông Đường Minh Hoàng tất là có một bằng cấp rất cao, thuộc hạng Đại Khoa kinh bang tế thế, và cho rằng Trương Kế là “Quan Lớn mới đậu Tiến Sĩ năm ngoái” buồn v́ Tể Tướng An Lộc Sơn náo động triều chính hai năm Thiên Bảo 14 và 15 (năm 755-756) nên mới đi ngao du sơn thủy, thường hay bị mất ngủ khi ghé bến “Phong Kiều”. Nhưng xét lại, bằng Tiến Sĩ của Trương Kế là bằng cấp thấp trong chế độ thi cử của nhà Đường. Nói trắng ra, sức học của Trương Kế chỉ coi như là vừa đủ sức viết và đọc, làm vài bài thơ, đôi ba bài phú theo thể tự do, chứ làm ǵ đủ khả năng để dự các khoa thi Hoành từ hay Bạt tụy của nhà Đường, nói chi đến các khoa Bác học hay Hoành từ mấy trăm năm sau như dưới triều Tống Cao Tông gồm 20 đề mục là chế, cáo, chiếu, biểu, lộ, bố, hịch, châm, minh, kư, tán, tụng, tự, phú và sáu đề tạp xuất chia ra làm ba trường, thể chế mỗi trường lại một bài cổ, một bài kim. Tổng cọng 120 bài thi phải làm cho đúng phân số để đậu Tiến sĩ! Tŕnh độ Tiến sĩ giữa hai triều đại nhà Đường và nhà Tống khác nhau một trời một vực!

Trương Kế có làm một số thơ, hiện giờ ghi lại được khoảng 40 bài, phần nhiều là những bài thăm hỏi qua lại; nổi tiếng có lẽ chỉ được hai bài tứ tuyệt là Phong Kiều Dạ BạcThướng Môn Tức Sự (Tả việc bắt lính). Vấn đề ái quốc hay ưu quốc của Trương Kế chẳng thấy bằng chứng qua thơ của ông! Đành rằng phần lớn luật thơ Đường đều do nhà sư Thích Hiệu Nhiên nghĩ ra, và các người thi đậu đời nhà Đường đều được viết tên lên bia dựng trong khuôn viên chùa Từ Ân, nhưng không phải v́ vậy mà tất cả sĩ tử Trung Hoa đều theo đạo Phật hay tu thiền! Ngày xưa, giữa đêm khuya Trương Kế nghe tiếng chuông “miễn phí”. Bây giờ, chuông chùa Hàn San đánh suốt ngày bởi khách du lịch: Mỗi tiếng chuông phải trả tiền Trung Quốc đến “mấy nguyên”.

 

Tiếng Tàu Tiếng Việt:

Ngôn ngữ nói khác với ngôn ngữ viết. Nói tiếng mẹ đẻ giỏi khỏi cần bàn. Nhưng đọc hiểu tiếng mẹ đẻ phải cần tŕnh độ. Học giả Nguyễn Hiến Lê luôn có những cuốn tự điển trong tẩm tay.

Cần xác định rơ là không phải cứ hễ sinh trưởng tại Mỹ là giỏi tiếng Anh; sinh trưởng tại Nhật là giỏi tiếng Nhật, sinh trưởng tại Trung Hoa là giỏi tiếng Tàu; sinh trưởng tại Việt Nam là giỏi tiếng Việt! Lư do rất thông thường: Nói th́ “thông”, nhưng giải thích th́ “bí”. Phải chấp nhận chuyện “cái đó cũng c̣n tùy người” v́ đâu có phải cứ hễ là người gốc Bắc là đương nhiên biết nấu phở; người gốc Huế là đương nhiên biết nấu bún ḅ; hay người Nam là đương nhiên biết làm đồ nhậu cả đâu! Đem bốn chữ Giang Phong Ngư Hỏa viết theo lối chữ Hán như thế này 江  楓  漁  火xong đi hỏi mấy người Nhật, Trung Hoa, Đại Hàn thử coi. Có khi gặp phải người giải thích loanh quanh đến độ phát nản!

Giáo sư Lương Kiện không phải là nhà ngôn ngữ học, nhưng khả năng tiếng Trung Hoa giỏi hơn rất nhiều người, nhất là đối với người Việt Nam. Tuy ông là người Trung Hoa, nhưng sinh trưởng tại Hải Pḥng, Việt Nam. V́ thời cuộc, ông trở về nước và dạy môn Sử. Giáo sư Lương Kiện hiện nay tuy đă về hưu, nhưng hàng năm vẫn có nhiều dịp ghé lại Hàng Châu, thăm chùa Hàn San. Giáo sư Lương Kiện cho rằng Giang Phong là tên của hai cây cầu Giang Kiều và Phong Kiều cách nhau chừng 500m gần chùa Hàn San; và Ngư Hỏa là ánh lửa chài trên khúc sông giữa hai chiếc cầu này. Lại xác tín rằng, trên bờ Hàn Giang từ xưa đến nay, không hề có cây phong! Khi được hỏi về địa danh Cô Tô, Giáo sư cũng trả lời như anh Nguyễn Hy Vọng M.D. là Cô Tô là tên đặt ra bởi người dân nước Việt thời Ngô Hạp Lư. Người viết sử sau này, chỉ theo âm mà viết, nên chữ Cô 姑 gồm chữ nữ và chữ cổ ghép lại mà thành, như vậy người đời nay hiểu ư nghĩa chữ Cô này là chị hay em gái của cha, là người gái già, là người đàn bà đi tu, chẳng liên can ǵ đến kinh đô của Ngô Hạp Lư là Cô Tô đài hay Cô Tô thành. Cách nay 300 năm, người Việt phát âm “Đức Chúa blời ba ngoy” có nghĩa là “Đức Chúa Trời ba ngôi”. Ngày hôm nay, chỉ c̣n có những người Mường mới phát âm như vậy. Khi nghe, có thể một số người Việt Nam đă cười khinh bỉ, chê rằng “nói tiếng Mường tiếng Mọi!”. Họ quên rằng, trước đó, người dân Việt Nam đă phát âm như Mọi như Mường! Ông vua nước Việt Nam trong cung cũng phát âm như vậy. Tổ tiên của người vừa đọc câu này cũng phát âm như vậy! Ngược ḍng lịch sử thêm hơn 100 năm, tức là khoảng vào những năm 1550, Trạng Tŕnh Nguyễn Bỉnh Khiêm có câu thơ: “Bui một ḿnh ta, khen ta hữu t́nh!”. “Bui” không có nghĩa là “Vui” phát âm “Blui blẻ = Vui vẻ”. “Bui” theo lời vị đậu Trạng Nguyên này hiểu theo tiếng Việt thời ấy có nghĩa là “Chỉ, chỉ có,…” nên khi đọc câu thơ này nên hiểu là “(v́) Chỉ (có mỗi) một ḿnh ta, khen ta hữu t́nh”! Quan Trạng làm thơ tiếng Mường! Có nên khen một câu “V́ cụ đậu Trạng Nguyên, nên biết cả tiếng Mường” được chăng? Lùi thêm 200 năm nữa, tức là lùi lại trên 600 năm, thời vua Lê Lợi đại phá quân Minh vào thế kỷ thứ 15. Ông Nguyễn Trăi có câu thơ: “Hoa nguyệt đơn rùng mới phát lành”.

“Đơn rùng” là cái chi nghe lạ quá! Người tài hoa, viết bài “B́nh Ngô Đại Cáo” là ông Nguyễn Trăi nói tiếng Việt thời đó. Tiếng Việt tự gốc Mường! Đơn có nghĩa là Đến. Rùng có nghĩa là Mùa. “Đơn rùng là Đến mùa”. Hoa và trăng phải đến mùa mà phát triển. Ông Nguyễn Trăi đâu có nói tiếng của người nước ngoài! Khi ông nói vậy, lúc đó, người nghe ai cũng hiểu và khen hay, là chí lư, là đáng khâm phục! Nên mới khắc in thành sách truyền cho tới ngày nay! Sáu trăm năm sau, lúc này con cháu có dịp nghe qua mới thấy ngỡ ngàng sững sốt! Sững sốt v́ không có cơ hội để đọc lời của ông cha người Việt, có khi c̣n vô lễ quay lại chê bai ngôn ngữ của chủng tộc ḿnh “cái thứ nôm na là cha mách qué”. Chê cho đă, nhưng khi hỏi “Mách là ǵ? Qué là ǵ? V́ sao gọi là Nôm? Đă Nôm sao lại c̣n Na, vậy Na là ǵ?” Người Việt đấy, trả lời thẳng ra coi, hay là đực mặt ra, trông thiệt đúng như lời bà Hồ Xuân Hương tả: “Ngây Ngô ngấy ngố!”. Thêm 600 năm nữa, tức là một ngàn hai trăm năm (1,200 năm sau), nghe lời đọc bài Thơ Phong Kiều Dạ Bạc bằng “Hoa ngữ”, cho là “chính văn”, là tiếng nói của “thiên quốc”, là nguồn gốc “kỷ cương”, là ngôn từ của “thiên tử”, của “con trời”, của “cha mẹ”, có thể là như “vịt nghe sấm” không hiểu ǵ cả, hay nghe th́ rơ, nhưng chỉ hiểu lơm bơm; nhưng rất mạnh trong việc “nói hùa” theo mà chê người Việt nam, tức chê ông bà tổ tiên của ḿnh là giống “man di của Phương Nam” theo như lời trong văn thư ngoại giao của vua Trung Quốc gởi cho vua Việt Nam cho đến đời Lê Quư Đôn thời vua Lê chúa Trịnh mới chấm dứt. Không biết người nghe sẽ “ngơ ngác” đến chừng nào? Mà này, “nói hùa” là ǵ đấy nhỉ? Tiếng “Hùa” do đâu mà ra? Dĩ nhiên là không phải từ Thiên Quốc truyền sang! Có bí th́ cứ hỏi Bác Sĩ Nguyễn Hy Vọng M.D.! Tiếng “hùa” là tiếng nói của dân An Nam vẫn c̣n dùng đến bây giờ chứ chưa “cổ” đến độ bị quên lăng! Liệu cao nhân khi đọc ngang đây có thể giảng nghĩa nguồn gốc và ư nghĩa tiếng “Hùa” do đâu mà có? Tục ngữ Việt Nam có câu: “Biết th́ thưa thốt, không biết th́ dựa cột lắng nghe!” Xin nhớ dùm lời ông cha căn dặn.

Nhớ đâu đó kể chuyện cô Mít qua du học bên Pháp hai năm, về nhà sợ mùi nước mắm, nói chuyện th́ thêm vài tiếng Tây cho nó “văn minh”. Nghe chuyện những người chưa ra khỏi nước Việt Nam nhưng kể chuyện bên Tây rơ hơn việc trong bếp của ḿnh! Có người chưa hề qua Nhật mà đă thấy núi Phú Sĩ đẹp hơn núi Ngự B́nh! Có người chưa hề biết cách viết chữ Hán theo luật sơ đẳng ngang bằng sổ thẳng, đường nét trên dưới trái cựa tùm lum mà đă dịch Đường thi rối rít! Ôi chao ơi! Hỡi trời ơi! Ôi là tiếng Việt! Chao là tiếng Việt! Ơi là tiếng Việt! Chao theo tiếng Việt cổ có nghĩa là trời. Ối chao ơi là ối trời ơi! Nhớ ra chưa ơi hỡi người Việt nam của dân tộc có Bốn Ngàn Năm Văn Hiến? Thời buổi “Nhạc Vàng”, ca sĩ Thanh Lan nổi tiếng với bài “Gọi người yêu dấu”! Ôi chao ơi! Khung trời Đà Lạt ngày nào! Em đập “chum” mà anh quên không mua tả, chỉ biết “gọi người yêu dấu”! “Chum” là tiếng Việt, là tiếng Khờ me: “Cánh đồng Chum”! Nhưng mà này, Yêu th́ ai mà chẳng biết! C̣n Dấu th́ nghĩa ra làm sao đấy nhỉ? Chỉ có mấy ngưởi quê mùa chuyên môn t́m nhớ những lời cổ hủ mới biết rằng th́ là mấy trăm năm trước, trong tiếng Việt, Dấu cũng có nghĩa là Yêu! Y như tiếng Đẽ cũng có nghĩa là Đẹp trong tiếng Đẹp Đẽ hay Đai cũng có nghĩa là Đất trong tiếng Đất Đai! Tiếng Việt cả ấy mà! Hơn bốn mươi năm qua, nhớ Việt Nam có một người lăng mạn, vừa đậu “Đíp Lôm” (tiếng Pháp) xong, thi đậu luôn vào trường Nông Lâm Súc ở Lâm Đồng. Sau những buổi thực tập tắm heo, thong thả ra sau rừng nh́n mấy con nai “nào đó” sau gốc thông già mà dâng hồn thơ lai láng! Trong giây phút bi tráng, chàng sinh viên thấy ḿnh văn vơ toàn tài, văn thơ ngang Lư Bạch, vơ giỏi hơn vơ sĩ Minh Cảnh ở Sài G̣n, tài hơn Huỳnh Tiền ở Đà Nẵng và vượt hẳn vơ sư Đoàn Tâm Ảnh trong Nam! Bây chừ, sư Hàn San và Thập Đắc bên Cô Tô hăy tạm thời chờ đó, có dịp ông sẽ tiếp tục b́nh thơ thêm như đă từng làm!

Bác sĩ Nguyễn Hy Vọng M.D. soạn cuốn đại từ điển Nguồn Gốc Tiếng Việt gồm hơn 275,000 (hai trăm bảy mươi lăm ngàn từ ngữ), gần ba triệu chữ, dày quá 4 ngàn trang, dẫn chứng và giải thích xen nhiều thứ tiếng Mường, Thái, Xiêm, Miến, Mon, Nùng, Chiêm, Khmer, v.v. Bác sĩ Nguyễn Hy Vọng M.D. nói thông viết thạo tiếng Việt Nam, tiếng Pháp, tiếng Mỹ, tiếng Mường, tiếng Thái, tiếng Xiêm (Thái Lan), tiếng Miên, tiếng Lào, tiếng Chiêm, tiếng Nùng, tiếng Hmong,v.v. Nếu thắc mắc về tiếng Việt, hay muốn liên lạc với giáo sư Lương Kiện để hỏi tiếng Tàu, xin theo tinh thần Tôn Sư Trọng Đạo, liên lạc với Bác Sĩ Nguyễn Hy Vọng M.D. qua email nhv92782@hotmail.com

 Trong khi viên đại sứ Nhật tại Agentina bị cách chức v́ viết cuốn Người Nhật Xấu Xí th́ cuốn Người Mỹ Xấu Xí được dùng để nghiên cứu về sách lược của Mỹ. Cuốn sách Người Trung Quốc Xấu Xí của Bá Dương nói về cái Vại Tương của Trung Quốc do Nguyễn Hồi Thủ dịch tuy thấy có một cái ǵ không ổn, nhưng rất đầy đủ “lư sự” của người Trung Hoa: Muôn đời bảo thủ!

 

Các bài thơ dịch:

 

25. Cầu Trường Tiền (Buổi Sáng) ( Photo Thanh Nhă 2006)

26. Huế Festival (Buổi Tối) (Photo huefestival.com 2006)

(Ới ai ơi! Cây hoa phượng đâu rồi?!)

 

27. Huế Festival (Buổi Tối)               28. Huế Festival (Buổi Tối)

Photo huefestival.com 2006               Photo huefestival.com 2006

(Lồng đèn ú – Sương rơi! C̣n chi nữa?! Cây bên bờ sao bây giờ chẳng thấy?!)

 

Thời thơ ấu, được các chú các bác truyền khẩu cho một số các bài thơ, trong đó có bài thơ lục bát của Tản Đà dịch thơ Trương Kế. Nhớ rơ ràng là “Lửa chài soi bóng” dịch từ “Giang phong ngư hỏa” chứ không phải là “Lửa chài cây bến” như thấy đă in sau này. Ngoài ra, ở đời, việc vô t́nh sửa thơ cũng thường thấy, và chuyện tự nhiên “đạo thơ” cũng vẫn xảy ra ngay cả với một vài người đă nổi tiếng! Bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc ghi theo âm Hán Việt như sau:

Nguyệt lạc ô đề sương măn thiên

Giang phong ngư hỏa đối sầu miên

Cô Tô thành ngoại Hàn San tự

Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

 

Dưới đây là một số các bài thơ dịch ra tiếng Việt, sao ra để tŕnh làng. Tùy ư người đọc phê phán. 

                I. Những thi sĩ không thấy cây:

1.      Nguyễn Hàm Ninh dịch :

Quạ kêu trăng lặn trời sương,

Lửa chài le lói sầu vương giấc hồ,

Thuyền ai đậu bến Cô Tô,

Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.

 

2.      Tản Đà dịch:

 Trăng tàn tiếng quạ kêu sương,

Lửa chài soi bóng sầu vương giấc hồ,

Thuyền ai đậu bến Cô Tô,

Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.

 

3.      Nguyễn Hy Vọng M.D. dịch – (California 2006)

Trời khuya trăng lặn quạ kêu

Phong kiều in bóng lửa khêu thuyền chài

Nửa đêm chuông gióng thuyền ai

Đến Hàn Sơn tự bên ngoài Cô Tô.

 

4. Vương Uyên dịch 2 bài:

                Bài 1:
Trăng khuất quạ kêu trời phủ sương
Lửa chài bến nước cơi sầu vương
Cô Tô đêm vắng thuyền ai đậu
Tĩnh lặng Hàn San vọng tiếng chuông

                Bài 2:
Trăng tàn sương phủ quạ kêu
Lửa chài, bến nước, dệt thêu mộng sầu
Cô Tô tĩnh mịch đêm thâu
Hàn San chuông điểm thuyền câu lặng tờ

5. KD dịch:


Trời sương, trăng lặn, quạ kêu luôn
Ngủ đối cầu phong lửa cá buồn
Thuyền đậu thành Tô chùa núi Lạnh
Nửa đêm chuông nện tiếng boong boong


 

                II. Những thi sĩ thấy rơ cây:

1.      Trần Trọng Kim dịch:

Quạ kêu, trăng lặn, sương rơi

Lửa chài, cây băi, đối người nằm co.

Con thuyền đậu bến Cô Tô,

Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.

 

2.      Ngô Tất Tố dịch

Quạ kêu, sương tỏa, trăng lui,

Đèn chài, cây băi, đối người nằm khô.

Chùa đâu trên núi Cô Tô,

Tiếng chuông đưa đến bến đ̣ canh khuya.

 

 3. Trần Trọng San dịch 2 bài:

                Bài 1:

Trăng tà, tiếng quạ, vẳng sương rơi,

Sầu đượm hàng phong, giấc lửa chài,

Ngoài lũy Cô Tô, chùa vắng vẻ,

Nửa đêm chuông vẳng đến thuyền ai.

               

                Bài 2:

Quạ kêu trăng lẩn sương trời
Buồn hiu giấc ngủ lửa chài bến phong
Đêm Cô Tô vẳng tiếng chuông
Chùa Hàn Sơn đến thuyền sông Phong Kiều

4: TchyA Đái Đức Tuấn (Mai Nguyệt) dịch 2 bài:

                Bài 1:

Quạ kêu trăng xế trời sương

Lửa chài cây bến đối sườn Sầu Miên

Hàn San vẳng tiếng chuông chiền

Nửa đêm đưa măi đến thuyền Cô Tô

 

                Bài 2:

Quạ kêu trăng xế sương tuôn

Lửa chài cây bến đối buồn nằm khan

Thành Cô Tô miếu Hàn San

Nửa đêm chuông vẳng tiếng sang thuyền người

 

4.      Bùi Khánh ĐảnĐỗ Bằng Đoàn dịch:

Quạ kêu, trăng lặn, khắp trời sương

Cây bến, đèn chài, giấc ngủ suông

Bên núi Cô tô thuyền khách đậu

Chùa Hàn đêm vẳng một hồi chuông.

 

5.      Bùi Khánh Đản dịch:

Trăng lặn sương mờ nghe tiếng quạ
Lửa chài cây ánh giấc chưa yên
Cô Tô bên mái Hàn sơn tự
Đêm muộn chuông ngân vẳng đến thuyền


7. Lê-Nguyễn-Lưu dịch:

Sương mờ, quạ giục ánh trăng phai
Cây bến sầu mơ ngọn lửa chài
Ngoài ngơ Cô Tô chùa núi Lạnh
Nửa đêm chuông vọng tới thuyền ai


8. Ngọc Ẩn dịch:  - (Tokyo 2001)

Quạ kêu, trăng lặn, sương mù
Đêm nằm không ngủ, cây ru lửa chài
Cô Tô đậu chiếc thuyền ai
Nửa đêm vọng tiếng chuông dài Hàn Sơn


9. Nguyễn Thế Nữu dịch:

Quạ kêu, trăng lặn, trời đầy sương
Phong bến, lửa chài, sầu mộng vương
Chùa ngoại thành Tô, trên núi Lạnh
Nửa đêm thuyền khách nằm nghe chuông

10. Nguyễn Khuê dịch:

Trăng lặn quạ kêu trời phủ sương
Lửa chài cây bến giấc sầu vương
Chùa Hàn ngoài ải Cô Tô vắng
Thuyền khách đêm khuya vẳng tiếng chuông

11. Nguyễn Hà dịch:

Tiếng nhạn kêu sương, nguyệt cuối trời
Bờ phong sầu hắt lửa thôn chài
Hàn sơn chuông vẳng Cô tô lại
Khuya khoắt lay thuyền động giấc ai


2. Nguyễn Hùng Lân dịch:

Trăng tà quạ gọi sương lên
Bờ cây chài lửa đôi bên giấc sầu
Chùa Hàn San giữa đêm thâu
Tiếng chuông thành ngoại đưa vào thuyền nhân
 

 13. Phạm-Vũ Thịnh dịch hai bài: (Sydney 16/11/1996)

                Đêm Neo Bến Phong Kiều
                Bài 1:

Trăng tà quạ rúc trời đầy sương
Cây im lửa đóm người nằm suông
Cô Tô bến lặng đêm già nửa
Chùa cổ Hàn Sơn vẳng tiếng chuông
 

                Bài 2:
Trăng tà quạ rúc trời sương
Cây im lửa đóm nằm suông hững hờ
Nửa đêm neo bến Cô Tô
Hàn Sơn vẳng tiếng chuông chùa buồn tênh

 14. Đinh-Vũ-Ngọc dịch:

BAN ĐÊM ĐẬU THUYỀN Ở BẾN PHONG KIỀU
Quạ kêu, Sương phủ, Trăng thâu
Lửa chài, Cây bến lặng sầu trong mơ
Cô Tô, Chùa vắng khuya mờ
Tiếng chuông t́m viếng khách thơ trong thuyền

15. Ngô-Văn-Phú dịch:

ĐÊM ĐỖ THUYỀN Ở PHONG KIỀU
Quạ kêu, trăng xế ngang đầu
Lửa chài cây bến gối sầu ngủ mơ
Thuyền ai ngoài bến Cô Tô
Nửa đêm lạnh tiếng chuông chùa Hàn san ....


 

                III. Thi sĩ thấy cành cây:


16. Ái Cầm dịch hai bài:
THUYỀN ĐẬU BẾN PHONG KIỀU

                 Bài 1:
Quạ kêu trăng khuyết trên cành sương
Đốm lửa hắt hiu giữa đêm trường
Cô Tô thuyền đỗ sầu in bóng
Hàn Sơn Chùa vọng tiếng chuông ngân

 

                Bài 2:
Trăng khuyết trên cành sương quạ kêu
Lửa chài sông quạnh bến cô liêu
Cô Tô thuyền đậu trong đêm vắng
Chuông Hàn Sơn động sóng đ́u hiu


                IV. Thi sĩ vừa không thấy cây, vừa thấy rơ cây:

1. Hải Đà dịch 4 bài:
               ĐÊM NEO THUYỀN CẦU PHONG               

                A. không thấy cây:

                Bài 1:
Tiếng quạ kêu sương bóng nguyệt mờ
Cầu phong đốm lửa giấc sầu mơ
Hàn Sơn khuất băi Cô Tô vắng
Đêm điểm hồi chuông khách sững sờ ...

               
Bài 2:
Nguyệt tà, quạ lảnh lót kêu sương
Ánh lửa cầu phong vỗ mộng thường
Bến vắng Cô Tô thuyền lẻ bóng
Hàn Sơn rền rĩ khách nghe chuông


               
B. thấy rơ cây:

                Bài 1:
Trăng lặn, sương đầy, tiếng quạ kêu
Bến phong, ánh lửa, giấc đ́u hiu
Cô Tô quạnh quẽ thuyền neo bến
Chuông đổ Hàn Sơn vẳng tiếng đều

               
Bài 2:
Quạ kêu, trăng lặn, sương đầy
Bến phong, lửa đóm, sầu say giấc hồ
Hàn Sơn khuất bến Cô Tô
Nửa đêm thuyền khách thẫn thờ nghe chuông …
 

Trong cuốn sách viết về nghệ thuật tiểu cảnh bằng tiếng Mỹ của Quingquan Zhao nhan đề “Penjing: Worlds of Wonderment” xuất bản năm 1998, dịch câu thứ tư của bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc rằng “Lying in the dark with a restless heart - I hear the midnight bell at Chilly mountain Monastery outside Quzhou - announceing the arrival of the boat” đại khái có nghĩa là “Tôi nghe tiếng chuông lúc nửa đêm trên núi lạnh ngoài thành Cô tô báo tin khi thuyền cặp bến”! Người Tàu Qingquan Zhao có tŕnh độ được bằng ban khen của đại học Nhà Nước nói chuyện bên Trung quốc về bài thơ Đường lúc nửa đêm trăng tàn sương phủ đầy trời! 

Bài thơ bằng tiếng Anh như sau:

A Night Mooring by Maple Bridge

 

A setting moon

A cawing crow

Frost-laden sky

Maple by the river bank

Lanterns twinkling from fishing boat

Lying in the dark with a restless heart

I hear the midnight bell at Chilly mountain Monastery outside Quzhou

announceing the arrival of the boat

(Penjing: Worlds of Wonderment - 1997)

 

Anh Trúc Chi Tôn Thất Kỳ sau khi nghe bài dịch trên qua điện thoại, phán rằng: “Cái thằng quá dốt, cả Khoa Văn của đại học Bắc Kinh cũng dốt luôn!”

Theo Trung Quốc cổ thi bách thủ độc (Hoa nữ giáo học xuất bản xă) – 100 bài thơ được đọc bằng quan thoại trong 1 cassette th́ bài Phong Kiều Dạ Bạc dịch ra English như sau:

Mooring at night Maple Bridge

The moon goes down, crows cry under frosty sky

Dim-lit fishing boats ‘neath maple sadly lie

Beyond the Gusu Walls the Temple of Cold Hill

Rings bells which reach my boat, breaking the midnight still

(Tài liệu của anh Lê Văn Lân)

Bản dịch Anh Ngữ của University of Virginia Library

A night-mooring near mapple bridge

While I watch the moon go down, a crow craws through the frost;

Under the shadows of the mapple trees a fisherman moves his torche;

And I hear, from beyond Suzhou, from the temple on Cold Mountain,

Ringing for me, here in my boat, the midnight bell.

 

C̣n rất nhiều bài dịch tiếng Việt, Anh, nhưng không tiện ghi ra, sợ choán chỗ.

Một chút riêng tư:

Tưởng cũng cần nên nhắc lại: Theo ngày giờ âm lịch, một đêm có năm canh. Nửa đêm giờ Tư canh ba. So với giờ hiện tại, tạm gọi giờ Tư nằm trong khoảng 11 giờ khuya đến 1 giờ sáng. Giờ Sửu từ 1 giờ sáng đến 3 giờ sáng. Giờ Dần từ 3 giờ sáng đến 5 giờ sáng. Tháng đầu của một năm là tháng giêng, tức tháng Dần. Giờ đầu của một ngày là giờ Dần, gọi là Triêu. Vua quan bắt đầu làm việc lúc đầu ngày, nên thiết triều vào giờ Dần v́ lẽ ấy. Ngày trước không hiểu chuyện, cứ thắc mắc v́ sao mà vua quan thiết triều làm ǵ mà sớm như vậy. Lẩn thẩn t́m hiểu "hồi chuông triêu mộ" tức là chuông chùa đánh vào ban sáng (Triêu hay Chiêu, đầu ngày) và ban đêm (Mộ, đầu đêm: giờ Tuất tức từ 7 giờ tối đến 9 giờ tối). Chuông đánh 108 tiếng tính theo âm lịch gồm một năm có cả thảy 12 tháng 24 tiết và 72 hậu (12 + 24 + 72 = 108). Trăng càng sau rằm càng mọc trễ:"Mười một lưỡi liềm. Mười hai cù liêm. Mười ba cù léo. Mười bốn trăng méo. Mười lăm trăng treo. Mười sáu trăng tṛn. Mười bảy sảy giường chiếu. Mười tám trăng thiếu. Mười chín nín hông xôi. Hai mươi Tuất rốt. Hăm mốt Hợi sơ...." Ngày hai mươi trăng mọc vào cuối giờ Tuất tức gần 9 giờ tối. Ngày hai mươi mốt âm lịch trăng mọc vào đầu giờ Hợi, tức khoảng sau 9 giờ tối. Vào những đêm này, trăng c̣n cho tới sáng hôm sau, cho nên hồi chuông sáng dưới trăng không c̣n thắc mắc. Người dân quê đi ngủ sớm, khi con trăng hôm mười bảy vừa mọc. Mười bảy sảy giường nằm vào khoảng cuối giờ Dậu  tức là trước bảy giờ tối! Thức khuya làm chi cho hao tốn dầu đèn! Đi ngủ sớm để lấy sức làm việc ngày hôm sau. Học tṛ mới cần thắp dĩa đèn dầu phụng. Câu ca dao:

                Canh một dọn dẹp cửa nhà,

                Canh hai dệt cửi, canh ba đi nằm…

tả công việc của người vợ đảm đang, nuôi chồng ăn học. Đèn trong nhà thắp đến khuya để chồng đọc sách vợ quay tơ. Đến ba bốn giờ sáng lại thắp đèn cho chồng đọc sách. Cả xóm, có khi cả làng chỉ có chừng vài nhà! Dầu thắp đèn phát minh dưới thời Hoàng Đế. Hai ngàn năm sau, thời Tam Quốc, Quan Công không đốt đèn mà “đốt đuốc" đứng hầu chị dâu ngủ suốt đêm làm Tào Tháo càng thêm khâm phục. Một ngàn năm trăm năm sau nữa, năm Gia Tĩnh triều Minh vẫn c̣n dùng đuốc hoa trong đêm tân hôn. Thêm ba trăm năm nữa, Ngô Thời Nhậm của Việt Nam mới viết Tam Thiên Tự, nhắc đến mấy chữ "Chúc đuốc, Đăng đèn". Cho tới năm 1968, tại Thừa Thiên, người dân của một vài làng vẫn c̣n đốt đuốc đi đêm, sau v́ thiết quân luật, cấm đi đêm nên mới bỏ hẳn. Thời thịnh Đường, nằm khoảng giữa thời Tam Quốc và Minh, việc thắp sáng bằng đuốc là chuyện thường t́nh. Trương Kế không dùng "ngư chúc" mà dùng "ngư hỏa" chỉ loại lửa thường, không sang như lửa của bó đuốc. Gượng ép dịch ra tiếng Mỹ là "fire" hoặc "torche" c̣n chấp nhận, chứ dịch là "Lantern" th́ không chính xác. Dân đánh cá tức là dân kẻ chài ngày xưa nghèo khổ, và cho dù có bắt được hủ vàng đi nữa, cũng không thấy có bán loại "đèn lồng, đèn băo" dành riêng cho việc đánh cá để mua! Thời Trương Kế, người Trung Hoa chỉ mới biết dùng lông vịt cột vào sợi dây tơ khi câu cá. Ba trăm năm sau, thuộc triều đại nhà Tống, mới chuyển từ phao lông vịt ra phao bằng cỏ khô. Người đánh cá trên sông Hàn trước thành Cô Tô thời xưa, cho đến bây giờ, không dùng lưới mà dùng loại chim sống dưới nước mang nhiều tên khác nhau như Cốc Đế, Lư Từ, Lộ Từ, Ô quỷ, Thủy lăo nha (**). Ở trên Phá Tam Giang quận Hương Điền tỉnh Thừa Thiên cũng có loại tương tự, người ta gọi là con chim Cột. Tiếng Pháp là Cormoran, tiếng Anh là Cormorant. Tên Điểu học: Phalocrocorax carbo. Ban đêm, chèo thuyền ra giữa sông Hàn, thắp ngọn đèn sáng cho cá kéo đến, xong thả chim lặn xuống nước bắt cá. Khi chim trồi lên, thấy có ngậm cá th́ kéo cá ra, thu lấy, chim lại lặn xuống bắt cá tiếp. Thông thường, khi nói đến đánh cá, ai cũng h́nh dung đến lưới giăng, dây nhợ, lưỡi câu, v.v. Thời Trương Kế chưa có lưới bắt cá mà chỉ có dây câu! Nhà vua có khi ngự xem “đánh cá” là xuống khúc sông hay hồ đă có người vây sáo mành mành chận cá hoặc tát cạn bớt nước, để dễ bắt cá(**). Người Tàu dùng chim Lô Từ để bắt cá như dùng chó để bắt chồn, bắt nai. V́ vậy chuyện “giăng lưới đánh cá” thời Thịnh Đường là chuyện khó tin y như nhà thơ hay rượu Lư Bạch chuyên uống rượu cúc nay bảo rằng ông vẫn uống Cognac hay Whisky  và ngồi xe Ford này nọ!

Từ ư niệm Giang Phong Ngư Hỏa là h́nh ảnh của ánh lửa kẻ chài đốt sáng trên sông khi đánh cá, chiếu lấp lánh trên sông Hàn rực rỡ đỏ cam vàng như một ḍng sông tạo thành bởi những lá phong, để từ đây đối với ư Sầu Miên của khách Trương Kế hoặc bất kỳ ai đó trên bến Cô Tô. Như vậy, Sầu Miên không c̣n là Núi Sầu Miên như TchyA nghĩ! Trên bờ Hàn Giang cũng không c̣n những cây phong ảm đạm dưới sương khuya!

Hơn bốn mươi năm qua, trong những lúc buồn, thường đọc bài thơ của Trương Kế. Tuy chỉ gồm 4 câu với 28 chữ, ấy thế mà vẫn c̣n có lúc quên, không nhớ “trầm” hết tất cả 28 chữ trong bài viết bằng chữ Hán! Khả năng chữ Hán chỉ có bấy nhiêu, nhưng vẫn không lấy làm hổ thẹn. Lại vẫn thường tự răn ḿnh.

Sáng nay, mới làm đại một bài thơ Đường, chẳng biết “niêm luật” như thế nào, nhưng dù có thất niêm, cũng không sao, v́ đến khi đang vừa viết những chữ này, vừa nghĩ tới bài thơ, vẫn c̣n thấy “thích”. Bài thơ như sau: 

                             Sáng nay thong thả ngắm cây si,

                             Cành lá tốt tươi, gốc sù ś.

                             Nâu đỏ da non, tra xám bạc,

                             Trắng tinh nhựa ứa, trẻ đen ch́.

                             Ngoài đất nó lớn cao rậm rịt;

                             Trong bồn hắn nhỏ thấp tí ti.

                             Cho dẫu sắc h́nh bao thay đổi,

                             Lầm đường lạc lối cũng v́ mi!

 

Vài lời quê kệch. Góp ư thơ xưa.       

Cho dù chưa đậu Cử Nhân, với Đoạn Trường Tân Thanh, Nguyễn Du cũng đă là một thi hào.

Cho dù với bằng Tiến Sĩ quèn, chỉ một bài thơ tứ  tuyệt, Trương Kế đă trở thành bất tử!

California, 1-2007

 

 Ghi chú:

- Theo Vân Đài Loại Ngữ của Lê Quư  Đôn quyển thứ 9 mục 259 ghi: “Chim Lư Từ (chim Cốc) theo sách Bản Thảo lông đen như quạ, mỏ dài, hơi cong, tài lặn nước bắt cá. Các thuyền đánh cá vùng nam thường bắt nuôi đến mấy chục con để cho nó bắt cá. Đó tức là chim mà ta gọi là con Cốc. Khi tôi đi sứ qua Dương Sóc và B́nh Lạc thường thấy nhân dân vùng ấy nuôi chim ấy. Họ buộc chân nó vào đầu cần tre to, thả nó xuống nước cho nó bắt cá; nhưng lấy cái giây buộc lỏng vào cổ nó, cho nó không nuốt được cá, thấy nó bắt được nhiều th́ lôi lên, cậy mỏ, lấy cá ra; cũng được khá nhiều. Phải nộp thuế nuôi Cốc.”

- Theo Lương Kiện tiên sinh: …“Trương Kế, chữ Ư Tôn, người Tương Châu (nay là huyện Tương Dương tỉnh Hồ Bắc), thi sĩ khá nổi tiếng của thời kỳ Trung Đường. Năm 753 thi đỗ Tiến Sĩ. Là người có học vấn uyên bác và trú trọng khí tiết, từng làm quan Phán Diêm Thiết tại Hồng Châu (thành phố Nam Xương tỉnh Giang Tây ngày nay), trong những năm Đại Lịch, từng giữ chức Lang Viên Ngoại Bộ Từ Kiểm Hiệu trong triều đ́nh Nhà Đường.” …

…“Trước chùa Hàn San có hai chiếc cầu bằng đá có hơn 1500 lịch sử, tên là Phong Kiều và Giang Kiều, hai chiếc cầu này cách nhau khoảng 500 mét. Câu thơ “Giang Phong Ngư Hỏa Đối Sầu Miên” với từ Giang Phong có nghĩa là đèn lửa ở thuyền trên sông giữa cầu Phong và cầu Giang, chứ không nên hiểu là bến cây phong bờ sông”…  (Trích thư ngày 14 tháng 12 năm 2007)

 - (*) Thi cử triều Đường:

Nhà Đường chuộng văn học, khuyến khích người dân đọc sách, làm thơ, kể chuyện. Theo lệ của nhà Tùy, người dân vừa học vừa đánh đàn gọi là huyền tụng . Trước kia, chỉ có 2 khoa thi là Tú Tài và Hiếu Liêm (Cử nhân ). Lúc mới dựng nước, nhà Đường vẫn dùng hai khoa thi này, nhưng sau đổi bỏ, lập các khoa thi mới cho thích hợp. Lại bày thêm vô số các chức quan cho dù chỉ là quan hàm, hay quan ăn lương tư. Chức quan hàm, chẳng hạn như chỉ có tiếng nhưng không có chức vị, dành cho những ai thông hiểu ba truyện trong kinh Xuân Thu là Tả thị truyện, Công dương truyện và Cốc lương truyện cùng hiểu biết Nghi lễ th́ được triều đ́nh phong chức Tán quan , có khi cấp cho một cây lọng. Vị quan nhỏ chuyên coi việc đóng xe ngựa cho vua gọi là Quan nhân . Đến như những ông làm thuê cho nhà hàng cơm cũng được gọi là Đường quan .

Nhà Đường có 4 khoa thi thường và 1 khoa thi đặc biệt khi cần tuyển chọn thêm nhân tài ra giúp nước.

Bốn khoa thi thường kể từ bậc thấp nhất lên tới bậc cao nhất là:

                1. Khoa thi Minh kinh

                2. Khoa thi Tiến sĩ

                3. Khoa thi Hoành từ 竑慈 

                4. Khoa thi Bạt tụy

Khoa thi đặc biệt gọi là Chế khoa do nhà vua làm giám khảo để chọn thêm nhân tài. Tên của Chế khoa thay đổi tùy theo từng khoa do nhà vua chọn trong danh sách của bộ Lễ dâng lên.

Cách thức thi cử, nhà Đường dùng từ phú để khảo hạch thí sinh. Cách áp vận dễ dàng, không câu nệ luật bằng trắc như triều đại nhà Tống sau này.

Khoa Minh kinh dành cho những ai đă thông nhớ kinh truyện. Sau khi đậu khoa Minh Kinh, nếu giỏi thơ văn sẽ cho dự thi khoa Tiến sĩ. Những người đậu Tiến sĩ, gọi là Tiến sĩ Cập đệ   , chỉ có nghĩa là thi đậu, trái với Lạc đệ   là thi hỏng. Người đậu đầu khoa thi Tiến sĩ tức là người đầu bảng gọi là Trạng Đầu. Vua lại sai chọn người trẻ nhất cho đi xem và hái danh hoa gọi là ông Thám Hoa. Ư nghĩa chỉ có vậy, không c̣n mục đích ǵ khác. Quan trường lựa người viết chữ đẹp nhất, cho lên chùa Từ Ân viết tên những người mới thi đậu lên tấm bia đá. Sau đó vua ban áo mới gọi là lễ Ninh thích, cho danh xưng Tiến sĩ cập đệ. Chưa có lệ vinh quy bái tổ. Những người đậu hai khoa Minh Kinh và Tiến sĩ không được ghi tên trong sổ Khoa hoạn, tức là cuốn sổ ghi tên những người sau khi trúng tuyển các khoa Hoành Từ, Bạt Tụy và Chế khoa sẽ được bổ đi làm quan; do đó những ai đậu Tiến sĩ muốn đi làm quan phải cần biết có chỗ khuyết và nạp đơn do bộ Lại duyệt xét, hoặc được đề cử. Nếu được làm quan, tùy văn hay vơ th́ lên chùa Từ Ân, theo đúng thể lệ, xin dùng son đỏ viết thêm chữ văn hay vơ cạnh tên ḿnh. Quan chỉ là các chức nhỏ nhất như chức Huyện Duyến (thư kư bút thiếp ở quận) hay Huyện Tá (tùy phái) ở các quận huyện xa cách triều đ́nh cả vạn dặm, lo việc ghi chép văn thư sổ sách. Phải mất một thời gian lâu, thêm sự đề cử mới được bổ quan tại triều. Khi được vào làm việc trong các bộ, phủ tại kinh đô th́ bị gọi là hạng “đao bút lại”.

C̣n những người đậu các khoa Hoành Từ, Bạt Tụy và nhất là Chế Khoa, tên được ghi vào sổ Khoa hoạn, bổ làm quan ngay. Việc thăng quan tiến chức rất mau, thường làm quan trong triều, giữ những chức vụ rất quan trọng. Quy chế này áp dụng cho suốt triều đại nhà Đường, cho đến khi nhà Tống cầm quyền vào năm 976, niên hiệu Thái B́nh Hưng Quốc, Tống Thái Tông đích thân coi thi cử nhân, mới định lại thể chế thi cử, nâng bằng Tiến Sĩ lên hàng Đại khoa, khác hẳn với triều đại nhà Đường. Việc vua cho các tân khoa ăn yến, ban thơ bắt đầu từ năm Thái B́nh Hưng Quốc thứ ba (978) dưới triều vua Tống Thái Tông. Lệ xướng danh bắt đầu từ năm Ung Hy thứ hai (985). Lệ treo bảng bắt đầu có từ năm Cảnh Đức (1004). Sử Trung Hoa nhiều khi rắc rối, quy tắc định lệ thay đổi lung tung, không rơ ràng, nên có một số người Việt Nam dễ bị lầm lẫn!

- (**) Vua Thiệu Trị xem đánh cá: “Thiệu Trị nguyên niên, tháng 5, Ngài yết lăng Trường Cơ. Khi về, Ngài ngự chiếc bồng Yêu Nguyệt xem đánh cá tại sông Hương Giang. Bọn thuyền chài và Thị Vệ lén bỏ cá trước vào trong lưới; khi cất lưới lên, cá nhảy lao xao. Ngài biết là dối, dạy các quan theo hầu rằng: “Xưa Hiệu Nhơn nuôi cá, v́ Tử Sản không thấy, nên mới dối Tử Sản, nay phường chài đánh cá, thời ta đă trông thấy mà dám dối ta. Coi một việc cá mà cũng đủ biết bọn hănh thần đáng ghét”. Ngài nhơn ngự chế bài thơ để ghi việc ấy. Trong bài thơ có câu rằng: “Ngư tiều tu trừng, viễn hănh thần” nghĩa là việc cá tuy là nhỏ nhen, cũng nên coi đó mà xua đuổi xa đứa hănh thần.” (Quốc Triều Chánh Biên Toát Yếu).

 

____

Trích từ Một Thoáng Hương Xưa

 

 

art2all.net