Túy Việt

PHI LUẬT TÂN:

Ngày Tháng Êm Trôi


          Chuyến đi này tôi lội bộ đă đời luôn, không phải đi trên đất bằng mà là leo “ruộng”. Một phần ba diện tích ở miền Bắc Phi luật tân là vùng núi non cao ṿi vọi. Đường đi th́ trên đèo cao, dân làng th́ dưới lũng sâu, thế nên muốn đến làng quê phải leo xuống qua từng khoảnh ruộng tầng cấp. Nơi sâu nhất tôi xuống đếm được 510 bậc thang. Tôi đi tất cả 4 làng như thế. Các bậc thang nhiều khi cao đến đầu gối, thế mà con nít phải leo mỗi ngày để đi học, người lớn để đi làm, có khi c̣n phải khiêng vác nông phẩm trên lưng. Họ yêu đất!. Đất là tài sản duy nhất của họ, được truyền thừa từ tổ tiên cả ngàn năm qua. Cuộc sống của người làm nông dường như không thay đổi mấy cho đến hôm nay, trong thời đại kỹ thuật số này. Trẻ em 6-7 tuổi đă phải bắt đầu ra ruộng, học tập cách làm đất, ǵn giữ đất v..v.. Đó cũng là môn học được qui định trong trường.
 


Mỗi năm họ chỉ cấy một mùa, thành quả chỉ đủ dùng cho gia đ́nh hoặc có khi không đủ. Thiếu thốn đối với nông dân th́ đâu có ǵ lạ! Họ xoay xở bằng cách đi làm công cho các gia đ́nh có nhiều ruộng lúa hơn hoặc ra thị trấn kiếm việc làm tạm. Cứ thế xoay ṿng chờ đến ngày gieo hạt th́ ra ruộng, ươm mầm xanh, gặt hạt vàng… Không giàu hơn nhưng êm đềm, trong sạch với hương lúa, khói lam chiều cùng gió núi mơn man.

 

 

 

 

Từ giă làng quê ra phố thị, nơi đây tấp nập hơn nhưng vẫn ngăn nắp, thứ tự. Laoag, Vigan, Sagada, Banaue … là những phố núi, tưởng như khép kín trên đỉnh núi cheo leo; nhưng không, du khách vẫn nườm nượp đổ về đây tắm ḿnh trong tĩnh lặng của núi đồi, hứng làn gió mát đêm trăng thanh, hoặc lắng nghe tiếng lóc cóc của bước chân các chú ngựa kéo xe đỡ cho du khách những bước nhàn du.

 


Cuộc sống êm đềm thanh b́nh này không phải tự nhiên có. Đó là kết quả của nhiều cuộc đấu tranh của dân quê chống lại thực dân cùng các quan chức thiếu đức độ.

 

1. Chống thực dân Tây ban nha:
 

Theo anh Bryan, tua gai của nhóm tôi, th́ nếu Philippines không bị Tây ban nha chiếm đóng, th́ đơn giản Philippines sẽ không có lịch sử, bởi v́ Philippines có quá nhiều đảo nhỏ và mỗi đảo là một vương quốc riêng biệt. Chỉ cho đến khi bị Tây ban nha xâm lăng các đảo quốc mới đoàn kết, hợp nhất sức mạnh để chống lại kẻ thù chung. Lịch sử Phi luật tân bắt đầu từ đấy.

Thật không ngờ sự chinh phục Phi luật tân của Tây ban nha đă mang cái chết đến cho nhà hàng hải lừng danh thế giới: Ferdinand Magellan. Vào năm 1519, trong nỗ lực và đam mê khám phá thế giới bằng đường biển, dưới sự bảo trợ của Nhà Vua Tây Ban Nha, Ông đă dẫn một đoàn tàu gồm 5 chiếc (The Trinidad, The San Antonio, The Concepción, The Santiago và Victoria) cùng thủy thủ đoàn 270 người ra khơi tây tiến.
 

Khởi hành từ Tây ban nha (20/9/1519), đoàn tàu vượt Đại tây dương, dọc bờ nam châu Mỹ, tiếp tục t́m đường sang hướng tây. Chuyến đi không dễ như Ông mong đợi. Băo tố và biển nước mênh mông không hứa hẹn một điều ǵ khiến thủy thủ bất măn. Hai trong số đoàn tàu 5 chiếc của Ông đă quay về Tây ban nha. Ông vẫn tiếp tục đi và sau khi vượt qua eo biển Cape Vírgenes ở cực nam châu Mỹ, Ông vào một vùng biển bao la trước mặt. Gió mát rượi, biển mênh mông và hiền ḥa, Ông gọi nó Mar Pacifico.


Ông tiếp tục dẫn đoàn tàu theo hướng tây bắc, vượt qua đường xích đạo ngày 13/2/1521. Ngày 16/3, Ông phát hiện quần đảo San Larazo , sau đó được gọi là Philippines. Ông được tiếp đón thân thiện bởi chúa đảo Cebu. 8 ngày sau, Ông đă thuyết phục được chúa đảo và nhiều thổ dân chịu lễ rửa tội.

 

 

Hành tŕnh của Magellan (http://www.ferdinandmagellan.com)
 

Với sự cầu viện của chúa đảo Cebu và tin tưởng vào vũ khí lợi hại của Tây phương, Ông hăm hở chinh phục chúa đảo Mactan. Nhưng trái với điều Ông tin tưởng, chúa đảo Mactan – Lapu Lapu, và cư dân chống trả mănh liệt, Magenlan lănh trọn mũi tên độc và qua đời ngày 27/4/1521. Lapu Lapu trở thành người hùng đầu tiên của Phi luật tân (http://www.philippines.hvu.nl/history1.htm )
 

Lapu Lapu
 

Chiến thắng của Lapu Lapu vẫn không ngăn được bước chân xâm lăng của Tây ban nha trong các thập niên sau đó. Năm 1542, viên toàn quyền López de Villalobos được Nhà Vua Tây ban nha gởi đến để cai quản vùng đất đảo vừa mới chiếm này. Ông đă đặt tên cho vùng đất này là Las Islas Filipinas, gọi theo tên Philip của Nhà Vua Áo thời bấy giờ - người sau đó trở thành Vua Philip II của Tây Ban Nha.

(https://en.wikipedia.org/wiki/Ruy_L%C3%B3pez_de_Villalobos).


Năm 1564, toàn quyền Miguel López de Legaspi được gởi đến đây. Ông nhanh chóng thành lập hệ thống cai quản một số lớn các đảo nhỏ mà trước đó chưa hề có nguyên tắc chung. Nền đô hộ của Tây ban nha được củng cố từ đó. Năm 1571, Ông xây thành Intramuros – Manila ngày nay – trên đảo Luzon. Tây ban nha đă chiếm, cai trị Phi luật tân cho đến năm 1899.


Hơn ba trăm năm đô hộ không phải là thời gian dễ dàng cho Tây ban nha v́ họ phải đối đầu với rất nhiều cuộc nổi dậy chống lại họ của cư dân địa phương. Theo tài liệu của Wikipedia th́ đă có 26 cuộc nổi dậy chống chính quyền thực dân trong suốt hơn 300 năm đó (https://en.wikipedia.org/wiki/Philippine_revolts_against_Spain#Basi_Revolt_.281807.29). Song, hầu hết các cuộc nổi dậy đều sớm bị dẹp tan bởi nhiều lư do: nhân lực ít ỏi, vũ khí thô sơ, chiến thuật đơn giản, tổ chức thiếu kinh nghiệm v..v.. Dầu vậy đă có hai cuộc nổi dậy nổi bật về ảnh hưởng và mức độ đẫm máu, đó là cuộc chiến Basi và cách mạng Katipunan.


Trận chiến Basi:
Basi là một loại rượu làm từ nước mía. Đó là rượu truyền thống trong đời sống của người dân Ilocos. Nó có mặt trong các lễ lượt quan trọng như ngày sinh, ngày chết, kết hôn, mừng chiến thắng v..v… Ngày 16 tháng 9 năm 1807, thực dân Tây Ban Nha ban lệnh cấm người dân sản xuất và buôn bán Basi. Đây là ng̣i nổ, bởi v́ cấm sản xuất và buôn bán Basi có nghĩa là triệt tiêu truyền thống và sinh kế của người dân. Nhiều năm trước chính quyền thực dân đă dành độc quyền sản xuất và buôn bán thuốc lá khiến người dân mất một nguồn lợi tức quan trọng; giờ đây lại cấm luôn quyền làm rượu truyền thống, nhà nước thực dân đă đẩy họ đến chân tường. Họ không c̣n ǵ để mất ngoài sinh mạng của họ. Họ bằng ḷng đánh đổi sinh mạng của ḿnh cho cuộc sống công bằng và tự do.


Cuộc chống đối do Pedro Mateo và Salarogo Ambaristo lănh đạo. Khởi đi từ Piddig (miền Bắc Phi luật tân) họ tiến dần xuống phía nam, nơi có trụ sở của chính quyền thực dân. Họ chiêu mộ thêm nhiều người dân trên đường tiến quân.


Ngày 28 tháng 9, đoàn quân đến bờ sông Bantaoay, Ilocos Sur. Họ hăm hở vượt qua sông, nhưng bên kia bờ, chính quyền thực dân với lính tráng hùng hậu, vũ khí tân kỳ đang nhắm vào họ bắn xối xả. Hàng trăm thân người ngă xuống, máu đỏ chảy tràn sông… Người lănh đạo cuộc nổi dậy bị bắt và bị kết án tử h́nh. Cuộc nổi dậy đă nhanh chóng bị dập tắt, nhưng ư chí chiến đấu cho tự do của họ đă nung nấu trong nhiều thế hệ kế tiếp. Năm 1898 người dân Ilocos một lần nữa hiên ngang vũ trang chống lại chính quyền thực dân. Lần này họ không cô đơn nữa, người dân trên toàn lănh thổ Philippines đă chung lưng đấu cật với họ, quyết một trận thư hùng với chính quyền Tây ban nha. Cuộc nổi dậy này được mệnh danh là cuộc cách mạng Katipunan.

(https://www.facebook.com/piddigilocosnorte/posts/472282686135627)
 

Cuộc cách mạng Katipunan:
Sau cuộc chiến Basi, các cuộc đấu tranh của người dân Phi không c̣n đơn thuần là cầm súng; họ mở rộng mặt trận đấu tranh bằng nhiều h́nh thức khác như văn chương, thơ phú, khêu gợi ḷng yêu nước, nâng cao tinh thần đấu tranh dành tự do cho dân tộc, độc lập cho đất nước. Dẫn đầu trong mặt trận này là José Rizal, một bác sĩ y khoa đồng thời là một nhà văn, nhà thơ với nhiều tác phẩm đă tác động sâu sắc đến ḷng yêu nước của người dân và là nguồn gốc dẫn đến cuộc cách mạng Katipunan.


Katipunan nói theo tiếng địa phương là Kataas-taasang, Kagalanggalangand Katipunan ng̃ mg̃á Anak ng̃ Bayan , gọi tắt là K.K.K. (Ghi nhớ rằng hội KKK này không liên quan ǵ với tổ chức KKK tại Hoa kỳ). Tên tuổi gắn liền với tổ chức này từ đầu được biết tới là Deodato Arellano, Andrés Bonifacio, Ladislao Diwa …


Ban đầu đó là một tổ chức bí mật do những nhà ái quốc thành lập. Họ chỉ công khai khi chính quyền thực dân xử tử nhà ái quốc José Rizal vào năm 1896. Mục tiêu của họ là kết hợp toàn thể người dân Philippines thành một khối thống nhất, cùng cầm súng để chống lại chính quyền xâm lược, dành độc lập cho quốc gia, dân tộc. Họ tự thành lập chính quyền cách mạng, mở rộng từ Manila đến nhiều thành phố khác. Đối nội, không phải chỉ chủ trương bạo lực, các nhà ái quốc này c̣n viết sách, phát hành báo chí khêu gợi ḷng yêu nước của mỗi người dân. Đối ngoại, họ dành được sự ủng hộ từ chính quyền Nhật bổn để mua vũ khí. Ư chí của họ đă bùng nổ mạnh mẽ đến tai chính quyền thực dân. Một vài cơ sở của họ bị lộ, một số người bị bắt …


Biết rằng không thể giữ được tính cách một tổ chức bí mật nữa, lănh đạo phong trào là Bonifacio đă công bố chính phủ cách mạng và tuyên bố toàn quốc kháng chiến. Trận chiến khởi đầu ở Manila, nhưng không thành công, trong khi cuộc nổi dậy tại Cavite lại đạt được một số kết quả mong muốn. Ngày 14 tháng 12 năm 1897, chính quyền cách mạng và chính phủ thực dân đồng ư kư kết “Pact of Biak-na-Bato” , một thỏa thuận ngừng bắn giữa đôi bên để chấm dứt cuộc cách mạng và chính phủ cách mạng chấp nhận lưu vong sang Hồng Kông. Tiếng súng chấm dứt nhưng ḷng hờn căm đế quốc của người dân vẫn chưa nguội.


Vài tháng sau đó, ngày 21 tháng 4 năm 1898, hải quân Hoa kỳ phong tỏa Cuba, khởi đầu chiến tranh giữa Hoa kỳ và Tây ban nha. Mười ngày sau, 1 tháng 5, 1898, hải quân Hoa kỳ đánh bại hải quân Tây ban nha trong vịnh Manila, chính thức dành quyền kiểm soát Phi luật tân. Ngày 19 tháng 5 , Aguinaldo , lănh đạo chính phủ cách mạng lưu vong đă trở về Phi luật tân, âm thầm liên kết với Hoa kỳ, phục hồi cuộc cách mạng để chống lại chính quyền Tây ban nha. Chính phủ của ông đă chiếm lại được nhiều thành phố ngoại trừ Manila. Ngày 12 tháng 6, 1898 Ông ra Tuyên Ngôn Độc Lập cho Phi luật tân nhưng cả Mỹ lẫn Tây ban nha đều không thừa nhận. Sự cai trị của Tây ban nha tại Phi luật tân chỉ thực sự chấm dứt bằng Hiệp định Paris năm 1898, chấm dứt chiến tranh giữa Hoa kỳ và Tây ban nha, đồng thời trao quyền cai trị Phi luật tân cho Hoa kỳ.


Thoát nạn bị trị bởi Tây ban nha họ lại rơi vào ṿng thống trị của Hoa kỳ !! Công cuộc dành độc lập quốc gia, tự do dân tộc hăy c̣n rất xa ở phía trước, cuộc cách mạng chống Hoa kỳ bắt đầu.


2) Chống “đế quốc” Mỹ:


Hiệp ước đ́nh chiến Paris giữa Mỹ và Tây ban nha đă không màng đến chủ quyền đất nước của Phillipines. Ngày 4 tháng 2 năm 1899, Arguinaldo phát động một cuộc chiến mới: chiến đấu chống "đế quốc Mỹ". Tương quan lực lượng quá sức chênh lệch, quân đôi cách mạng Phi đă không đủ sức đương đầu với một lực lượng quân đội hùng mạnh, được huấn luyện công phu, trang bị vũ khí thần kỳ của Hoa kỳ, họ đă phải chuyển sang đánh du kích. Họ trở thành một "cục xương khó gặm" cho quân đội Mỹ . Trong 3 năm chiến đấu kế đó, quân đội Mỹ ghi nhận 4200 quân nhân tử trận cùng hơn 20 ngàn chiến binh cách mạng Phi và hàng trăm ngàn dân Phi chết v́ tên đạn, v́ thiếu lương thực hay bịnh mà không được cứu chữa. (https://history.state.gov/milestones/1899-1913/war)


Quyết tâm dẹp tan quân cách mạng, quân đội Mỹ đă phải tung "đội quân đặc nhiệm" ḍ la đại bản doanh quân cách mạng. Ngày 23 tháng 3 năm 1901 đội quân này đă dẫn Đại tướng Frederick Funston với vài người lính xâm nhập tổng hành dinh của Arguinaldo. Không kịp trở tay, Ông dă bị bắt cùng ngày. Ngày 1 tháng 4 năm đó, Ông đành đầu hàng và tuyên thệ trung thành với Hoa kỳ đồng thời rút lui khỏi cuộc chiến. Sự thua cuộc của Ông dă chấm dứt nền cộng ḥa do Ông xây dựng nhưng công cuộc chống Mỹ vẫn c̣n tiếp diễn. (http://asianhistory.about.com/od/p/Biography-of-Emilio-Aguinaldo)


Dù phải đối phó với các trận đánh chống quân du kích, chính quyền thuộc địa vẫn tung ra các chiến dịch nhằm xoa dịu ḷng dân, gọi chung là "chính sách hấp dẫn". Chính sách này cho phép nới rộng quyền tự quản của người dân, hướng dẫn cải cách xă hội và phát triển kinh tế. Nó đă thu hút được sự ủng hộ của nhiều người dân, phần nào làm giảm sự chống đối và góp phần vào việc chiến thắng của quân đội Mỹ.

 

Năm 1907, Quồc hội dân cử dầu tiên dược bầu ra. Năm 1916, Quốc hội Hoa kỳ thông qua Đạo luật Jones Act, hứa trao quyền độc lập cho dân Phi nhưng không ghi rơ ngày tháng nào. Đạo luật c̣n qui định Quốc hội Lưỡng Viện do dân bầu, có trách nhiệm chuẩn y các đề nghị của Viên Toàn Quyền. Riêng ngành Hành pháp vẫn do một Viên Toàn Quyền người Mỹ dảm trách (https://en.wikipedia.org/wiki/Jones_Law_%28Philippines%29).


Năm 1930 Hoa kỳ chịu đại họa suy thoái kinh tế cộng với sự gia tăng hiện diện của quân dội Nhật tại Châu Á, họ đă chuyển hướng chính trị, nhanh chóng trao trả độc lập cho Phi luật tân . Năm 1932 Quốc hội Hoa kỳ thông qua Đạo luật The Hare-Hawes Cutting Act, thừa nhận Khối Thịnh Vượng Phi luật tân (The Commonwealth of Philippines), từ từ trao quyền quản trị chính quyền đến năm 1945 sẽ trao trọn quyền điều hành đất nước cho Phi luật tân.
Theo đúng lịch tŕnh, Phi luật tân đă giành lại nền độc lập vào ngày 4 tháng 7, 1946, gọi tên nước là The Republic of Philippines. Tháng 3 năm 1947 Hoa kỳ và Phi kư kết hiệp ước hỗ trợ quân sự, cho phép Hoa kỳ thuê các căn cứ quân sự trong 99 năm.


Họ được giải phóng, được hưởng tự do trong thể chế cộng ḥa. Họ thực thi quyền công dân, bầu quốc hội, bầu tổng thống để chọn người tài phụng sự đất nước. Họ đă chọn được nhiều vị tổng thống tài ba, song cũng có nhiều nhà lănh đạo đă biến chất khi vào chỗ quyền thế, khiến người dân phải đấu tranh để truất phế những nhà lănh đạo thiếu đức độ đó . Trong số này, đáng kể nhất là Tổng thống Ferdinand Marcos.



3) Chống độc tài - Cuộc Cách Mạng Quyền Lực Nhân Dân:


Quư Anh Chị và Các Bạn thân mến,


Tôi có thể tạm ngưng nói về công cuộc tranh đấu của người dân Phi luật tân tại đây. Họ đă giành được độc lập và một thập niên được Hoa kỳ huấn luyện cách điều hành nhà nước, họ thực sự vững vàng trên nhiều mặt, nhất là mặt thực thi quyền công dân. Song nói đến Phi luật tân mà không nhắc đến Tổng thống Ferdinand Marcos th́ là môt thiếu sót lớn. Thế nên tôi xin kéo dài phần này để nói về vị Tổng thống đằy tiếng tăm và tai tiếng này.


Cũng như những người có tài khác muốn đem tài năng của ḿnh ra phụng sự Quốc Gia, Ông bắt đầu sự nghiệp chính trị với chức vụ Đại biểu Quốc Hội, sau đó đắc cử Thượng Nghị Sĩ, khóa 1959-1965. “Thừa thắng xông lên”, Ông ứng cử Tổng thống và trúng cử Tổng thống thứ 10 của nước Cộng Ḥa Phi luật tân, nhiệm kỳ 1965-1969. Trong nhiệm kỳ này, Ông đă làm được nhiều điều cho dân tộc, nâng cao đời sống người dân, phát triển đất nước trên nhiều mặt như xây dựng hạ tầng cơ sở, cải tiến nông nghiệp, cải cách ruộng đất, chỉnh đốn giáo dục, cải thiện y tế v.v.. Trên trường quốc tế, Ông chủ tŕ Hội Nghị Thượng Đỉnh các Quốc Gia Đông Nam Á nhằm chống lại nguy cơ bành trướng của chủ nghĩa cộng sản trong khu vực. Ông ủng hộ cuộc chiến chống cộng tại Việt nam và đă gởi hơn 10,000 quân nhân đến tham chiến. Ông cũng điều chỉnh hiệp ước Quân sự Mỹ - Phi, cho thuê căn cứ quân sự từ 99 xuống 25 năm.


Với các thành quả rực rỡ trên, Ông tái đắc cử Tổng thống nhiệm kỳ 2, 1969-1972, song nhiều người cho rằng đă có gian lận trong cuộc bầu cử. Thực tế, nhiệm kỳ 2 của Ông kéo dài đến năm 1981.


Nhiệm kỳ này đă mang đến cho Ông rất nhiều thách thức. Trước tiên là lạm phát do giá dầu trên trường quốc tế gia tăng đă tác động mạnh mẽ đến giá cả sinh hoạt trong nước, đồng tiền nội địa liên tục giảm giá. Thêm vào đó là thiên tai liên tục xảy ra, phá hoại nhiều công tŕnh xây dựng cùng mùa màng khiến giá sinh hoạt càng tăng gấp bội.


Người dân đă đặt nhiều hy vọng nơi Ông, nhưng thực tế, Ông cũng là một người như bao nhiêu người khác với nhiều thiếu sót, lầm lỗi. Với quyền lực tối cao trong tay, Ông đă biến chất, muốn ḿnh là kẻ độc tôn. Ông buộc các cơ sở thương mại cùng trường học phải treo h́nh của ḿnh; Ông sửa Hiến pháp để chuyển chế độ Tổng thống sang chế độ Đại Nghị trong ư đồ kéo dài quyền lực của Tổng thống. Người dân bất măn, sinh viên cấp tiến cũng như giới lao động đă nhiều lần xuống đường công khai phản đối, Ông đă không ngần ngại điều quân đội đến đàn áp cùng bỏ tù những nhà đối lập. Khi làn sóng biểu t́nh có bạo loạn dâng cao, Ông đă ban hành luật “quân sự hóa chính quyền”, đặt chính quyền dân sự dưới sự giám sát của quân đội với hai mục tiêu: 1) bảo vệ nền cộng ḥa, và 2) cải tạo xă hội, kinh tế và các định chế chính trị (1972)

(http://www.newworldencyclopedia.org/entry/Ferdinand_Marcos) .


Năm 1981, Ông băi bỏ luật này và chấp thuận một cuộc phổ thông đầu phiếu mới, tái tranh cử chức vụ Tổng thống. Ông thắng!!


Năm 1983, một nhà đối lập chính trị - Ông Benigno S. Aquino Jr - bị ám sát. Sau một năm điều tra, chẳng một ai trong các nghi can bị kết án, song ai cũng tin rằng cái chết của Ông Aquino không ng̣ai mưu mô của Ông Marcos.


  Năm 1986 Ông tranh cử Tổng thống thêm một lần nữa. Đối thủ của Ông là bà Corazon Aquino, vợ góa của Ông Benigno S. Aquino Jr. Khi Hội Đồng Bầu Cử loan báo Ông Marcos thắng cử, một làn sóng chống đối đă diễn ra trong quân đội cùng cả trăm ngàn người dân xuống đường buộc Marcos phải thoái vị. Ḍng người tràn đến Dinh Tổng thống, Ông đă cùng vợ rút khỏi Dinh bằng cổng sau, được Mỹ giúp cho một chiếc máy bay và bay ra đảo Guam. Sau đó Ông được tị nạn tại Hawái – Hoa kỳ (26/2/1986).

Ông mất tại Hawái, ngày 28 tháng 9, 1989. Thi hài Ông được gia đ́nh ướp và mang về trưng bày tại Viện Bảo Tàng Ferdinand Marcos, thành phố Ilocos Norte, nơi Ông sinh ra.
https://en.wikipedia.org/wiki/People_Power_Revolution

 


Quư Anh Chị và Các Bạn thân mến,


Dù bị mang tiếng đế quốc, chế độ thực dân Tây ban nha đă góp phần lớn vào việc phát triển Philippines. Trước tiên có thể nói họ mang đạo Thiên Chúa La mă vào đây ngay từ ngày đầu tiên Ông Magellan cập bến Cebu. Chỉ trong 8 ngày, Ông đă thuyết phục và cải đạo cho chúa đảo Cebu cùng một số cư dân địa phương. Những năm sau đó, chính quyền mẫu quốc Tây ban nha tiếp tục gởi các quan cai trị đến đây. Những vị này bắt đầu thành lập chính quyền các cấp từ cấp nhỏ từng địa phương đến cấp trung ương hay quốc gia, đồng thời mở mang thành phố, tái định cư cho cư dân địa phương.


Theo chân các quan cai trị là các giáo sĩ. Các giáo sĩ tiếp tục truyền đạo, cải đạo cho cư dân, mở rộng hệ thống giáo dục cho đến bậc đại học.


Sang thế kỷ 18, viên Tổng Toàn Quyền José Basco (1778 – 1787) đă đưa Philippine vào quỹ đạo giao thương quốc tế, ghi nhận sự phát triển kinh tế của xứ thuộc địa này, và càng phát triển mạnh hơn trong thế kỷ 19. Vào thời điểm này, nhờ kênh đào Suez đă hoàn tất, một số dân châu Âu đă di cư đến đây. Họ mang vào tư tưởng mới về chính quyền, xă hội, lư tưởng cách mạng v..v.. Đây là một trong các yếu tố dẫn đến cuộc cách mạng Katipunan mà tôi đă nói ở phần trên.


Họ được học hỏi nhiều hơn dưới thời “bị” chính quyền đế quốc Mỹ quản trị. Họ có cơ hội làm quen với các tổ chức chính trị, phổ thông đầu phiếu, tổ chức quốc hội lưỡng viện, huấn luyện quân sự, ngoại giao…tất cả đều chuẩn bị cho họ một nền độc lập bền vững. Anh ngữ được xử dụng như ngôn ngữ chính thức, giờ đây sau cả trăm năm, họ nói tiếng Anh không thua ǵ tiếng mẹ đẻ.

 

*****

 

Các bạn đồng nghiệp người Phi của tôi vẫn thường phàn nàn rằng nhà nước hiện tại ở Phi luật tân thật không đáng tin cậy v́ nạn bè phái, gia đ́nh trị và tham nhũng khá phổ biến, tệ nạn xă hội vẫn c̣n nhiều. Hai ngày trước chuyến đi của tôi th́ có tin hải quan phi trường Manila t́m thấy hai viên đạn trong túi xách của một hành khách. Nghe tin này các bạn Phi làm chung chỗ với tôi đều có cùng nhận xét: đó là thủ đoạn của cán bộ hải quan để làm tiền du khách và ân cần dặn ḍ tôi hăy cẩn thận với hành lư xách tay kẻo kẻ gian bỏ đồ cấm vào th́ phiền cho ḿnh lắm. Tuy nhiên, khi đến nơi, tôi thấy mọi sự rất êm ả, hải quan làm việc rất thân thiện; phi trường không quá đông, không mất nhiều thời gian chờ đợi. Ra đến phố th́ xe cộ đầy nghẹt nhưng không đến nỗi nghẽn cổ chai. Xe chạy chừng nửa tiếng th́ tới khách sạn.


Manila được xây dựng vào năm 1571 – có tên Intramuros, theo lệnh của viên toàn quyền Miguel López de Legaspi, hiện vẫn c̣n nguyên vẹn:

 


Manila ngày nay có 20 triệu dân. Tất nhiên đông đúc th́ chật chội, chen chúc, nhếch nhác, nhưng tôi nghĩ Manila không tiêu biểu cho Phi luật tân. Đi đến các thành phố nhỏ khác thật khác xa với Manila. Một ngày du khách được đi thăm nơi làm muối ăn. Xe vừa ngừng, tôi bước xuống xe và ngửi thấy một mùi hương là lạ. Tôi bèn hít một hơi dài rồi tự thán “ồ, thơm quá!”. Khi vào nơi nấu muối mới biết người ta dùng vỏ trấu để đốt ḷ, th́ ra khói vỏ trấu đă tạo mùi thơm đặc biệt cho vùng làng quê này.
 


Nông thôn – thành thị, khoảng cách giàu nghèo vẫn c̣n xa, nhưng có nhiều lư do cho họ lạc quan:
“Today the Philippines is still poor but things are changing. Since 2010 the Philippine economy has grown at about 6% a year. Today there is reason to be optimistic for the future. Today the population of the Philippines is 103 million.”

(http://www.localhistories.org/philippines.html)
 

103 triệu dân, phát triển kinh tế 6% mỗi năm, đó là điều hứa hẹn một tương lai tốt đẹp. Tôi kính chúc mừng họ./.
 


Viết thêm:


1) Vô cùng thương tiếc:
 


Thực thế Quư Anh Chị và Các Bạn ạ, tôi cảm thấy vô cùng thương tiếc cái chết của Ông Ferdinand Magellan. Một người gan dạ, tài ba đă có một cái chết không xứng tầm của ḿnh !! Một mũi tên độc đă hạ gục Ông, và sau đó không biết Ông đă được an táng ở đâu. Năm 1866, một đài kỷ niệm tưởng nhớ Ông đă được xây nên tại Cebu City, bên bờ biển nơi Ông đă tử trận. Gần đó là tượng Lapu-Lapu, cả Hai Người đều đứng chung trong khu di tích lịch sử Mactan Shrine. Khi sống họ đă t́m đủ mọi cách để tiêu diệt nhau, giờ đây họ cùng được mọi người thành kính ngưỡng mộ.


Rất tiếc lộ tŕnh của nhóm tôi đă không bao gồm địa điểm này, tôi xin cung cấp một ít tin tức để Quư Anh Chị và Các Bạn nếu có dịp đi Phi luật tân nên t́m đến đây để chiêm ngưỡng, để hoài niệm một biến cố lịch sử bi thương lẫn hào hùng.


Kính mời Quư Anh Chị và Các bạn xem một đoạn video về Lapu vs Magellan theo địa chỉ sau:
https://www.youtube.com/watch?v=OBJOE4NOAro
 

 

Tượng đài anh hùng Lapu-Lapu, xa xa là tháp tưởng nhớ Magellan
Nguồn: internet


Dù không đến được trước Đài Tưởng Niệm của Hai Ông, tôi cũng kính cẩn thắp cho Hai Ông một nén nhang tưởng nhớ.


2) Truyền thuyết:
Truyền thuyết dân gian nói rằng Lapu-Lapu chưa bao giờ chết. Ông đă hóa đá và trở thành thần canh giữ cho biển Mactan. Ngư dân trong làng trước khi ra khơi thường phải “xin keo” trước một tượng đá h́nh người đàn ông để được phép đánh cá trong vùng do Ông canh giữ (https://en.wikipedia.org/wiki/Battle_of_Mactan)./.

 


Túy Việt

 

 

Trang Túy Việt

art2all.net