|
PHẦN 2: Bước chân nô lệ
Tôi thương dân tộc tôi đă mấy ngàn năm vùng vẫy vẫn chưa thoát được ṿng kềm tỏa cuả ông láng giềng khổng lồ Trung hoa, một kẻ luôn ỷ thế nước lớn để gây chiến, xâm lấn đất đai, phá hoại cuộc sống an b́nh của người dân quê tôi. Giờ đây tôi thương thêm các dân tộc châu Phi, những người dân chất phác hiền lành cũng mang số phận nước nhỏ như dân tôi. Họ đă bị những kẻ mang danh văn minh nước lớn hà hiếp, tṛng vào họ cái gông nô lệ trong suốt mấy trăm năm liền mà họ không cách ǵ chống lại được. Chắc hẳn quá khứ buồn đau của họ vẫn chưa nguôi ngoai khi tôi hỏi về vấn đề này. Những kẻ săn nô lệ đă làm thế nào để bắt một người khác, đâu có ai chịu đứng yên để ngưới khác trói tay ḿnh lại chứ. Lại nữa người dân địa phương phần lớn ở trong rừng, họ thừa biết cách trốn tránh, dễ ǵ bắt họ. Giọng ông tua gai nghe run run: - Tất nhiên là kẻ săn nô lệ trước tiên không trực tiếp đi bắt người, họ thuê hay mua chuộc một số dân địa phương để làm việc cho họ. Những kẻ làm thuê này chính là tên tội phạm đầu tiên, biết rơ đường đi nước bước cùng nơi trú ẩn của dân chúng, dẫn đường cho kẻ săn nô lệ đến bắt. - Cũng phải có người chống lại chứ! - Đă đành, nhưng họ không có vũ khí lợi hại như của người Âu. Họ chỉ có cung tên và lao nhọn thôi, làm sao địch lại với súng đạn! Một tiếng nổ, một người lăn đùng ra chết, có ai không sợ? Thế là đành phải theo họ thôi. - Tại sao người ta chỉ bắt dân châu Phi làm nô lệ mà không vào những châu Á hay Úc? - Có nhiều lư do. Thứ nhất, người Bồ Đào Nha đă vào Phi Châu đặt nền móng giao thiệp, ngoại giao rồi chiếm cứ từ trước đó khá lâu, khoảng giữa thế kỷ 15. Họ đă có nhiều cơ sở buôn bán, căn cứ quân sự cùng cơ quan hành chánh. Họ hiểu rành rọt địa lư, cách mua bán, trao đổi … có nghĩa châu Phi đă khá quen thuộc với họ. Thứ hai, Columbus vừa t́m ra châu Mỹ, một vùng đất mới tinh đang cần rất nhiều lao động để khai thác. Thứ ba, đáng kể nhất, đó là sức mạnh của dân Phi châu. Rất nhiều người Âu đă theo Columbus đến tân thế giới. Họ mang luôn những chứng bịnh từ xă hội xô bồ làm ô nhiễm không gian trong lành, tinh khiết ở đây. Dân bản xứ do đó bị lây, nhiễm khiến họ chết phải nói gần hết. Nhu cầu lao động tăng cao khi các đồn điền trồng bông, trồng lúa, thuốc lá … đến mùa thu hoạch.
Ông Yao, hướng dẫn viên du lịch .
Đánh hơi được điều này, người Bồ Đào Nha đă nghĩ ngay đến chuyện đưa người Phi châu sang châu Mỹ. Như tôi vừa nói, ban đầu người Bồ lợi dụng kẻ xấu bản xứ để bắt dân. Họ cũng có thể dụ dỗ người khác bằng lời hứa hẹn đi đến nơi tốt đẹp, có việc làm, có cuộc sống tốt hơn. Và sau hết, khi nhu cầu tăng vọt, họ đă không ngần ngại mang súng ống tràn vào xóm cư dân hay đồng lúa, lùa bắt người nông dân bằng bạo lực. Cứ như thế trong ṿng ba trăm năm, lần lượt, Bồ Đào Nha, rồi Pháp, Đức, Anh cùng tham gia vào việc săn lùng và bán 15 triệu người châu Phi sang tân thế giới. Hôm nay chị sẽ xem chợ nô lệ tại thị trấn Salaga này. Ngày mai, chị sẽ có dịp t́m hiểu thêm khi đến thăm hai lâu đài nhốt nô lệ nổi tiếng của Ghana: Elmina và Cape Coast.
Salaga, một thị trấn nhỏ ở trung tâm Ghana, được chọn làm địa điểm đầu tiên để tập trung những người bị bắt làm nô lệ bởi v́ đây là giao lộ nam - bắc, đông –tây vào châu Phi. Hướng bắc lên tới vùng sa mạc Sahara, tây đến Côte d’Ivoire, đông đến trung tâm châu Phi, nam đến bờ Đại tây dương với những hải cảng sầm uất, sẵn sàng tải họ sang tân thế giới.
H́nh trích từ internet
Ở đây, sau một hành tŕnh dài băng qua sa mạc hay rừng rậm, họ được cho tắm để lấy lại sức và tái tạo chút sinh khí. Kế đó, họ sẽ bị xếp loại theo giới tính và tuổi tác trước khi bị bán cho những kẻ buôn người từ miền biển phía nam lên mua. Họ tiếp tục hành tŕnh về phương nam dưới đ̣n roi, lời chửi rủa của kẻ buôn người cùng với sự đói khát, bịnh hoạn, và tất nhiên không chừa cái chết. Trải qua hơn ba trăm năm Salaga đă chứng kiến biết bao nhiêu triệu lượt người anh em của ḿnh đă bị trói hoặc xích thành chuỗi, mang ra chợ để kẻ có tiền hoặc có quyền đến sờ, nắn, cân, trả giá bằng tiền hoặc trao đổi bằng một loại hàng hóa khác. Salaga cũng đă không đếm nổi bao nhiêu người anh em của ḿnh đă chết thảm v́ bị hành hạ, bị tận dụng đến sức cùng lực kiệt, thân xác bị bỏ rơi bên đường. Những người c̣n lại chưa hẳn là may mắn hơn. Trên hành tŕnh dằng dặc về phương nam, nào ai biết được những ǵ đang chờ đón hay dành cho số phận của họ. Họ “được“ kẻ buôn người “trang điểm” bằng cách cạo trọc để không ai nh́n thấy tóc bạc (nếu có), bằng cách thoa dầu dừa lên ḿnh cho da bóng lên để trông trẻ trung hơn, khỏe mạnh hơn trước khi trao tay cho kẻ buôn nô lệ từ châu Âu đến.
Kẻ buôn người đang kiểm tra món hàng (H́nh trích từ internet)
Bước chân nô lệ chưa dừng lại tại đây. Họ trở thành món hàng trong tay kẻ buôn người từ châu Âu đến, được đưa vào “tồn trữ” hay “đóng gói” thật chặt hết mức trong tầng hầm của các “lâu đài” do các quan chức người Âu xây dựng trong quá tŕnh t́m và chiếm thuộc địa, chờ đợi ngày lên tàu xuyên Đại Tây Dương đến tân thế giới. Đó là những cái hầm tối thui, trước đây được dùng để chứa hàng hóa. Không có cửa sổ, không có cửa thông hơi, không có đèn, không có nhà vệ sinh… Họ ăn uống, tiêu tiểu, và ngay cả kinh nguyệt phụ nữ, tràn lên nền đá từ năm nọ đến tháng kia, từ đợt người này sang đợt người khác … cho đến giờ này nền đá kia vẫn c̣n bốc mùi.
Thỉnh thoảng họ được cho ra ngoài để tắm. Phụ nữ đôi khi được cho ra làm phụ bếp hay việc nhà, nhưng hiếm khi thoát tầm ngắm của các viên toàn quyền. Mỗi tháng một lần, vài cô gái được mang ra sân để cho viên toàn quyền từ bao lơn trên cùng nh́n xuống, ngắm nghía, rồi chỉ tay chọn một cô. Ngay lập tức cô gái đó được tắm gội sạch sẽ, được dẫn vào cầu thang riêng, qua cánh cửa sập, vào thẳng pḥng riêng của ông toàn quyền (HTTP://AFRICAN-ARCHITECTURE.BLOGSPOT.COM).
cầu thang có cửa sập dẫn vào pḥng riêng của viên toàn quyền
Không bằng ḷng ư? Muốn chống lại? muốn phản kháng? muốn bênh vực đồng bạn của ḿnh? Th́ đây, “xà lim này sẽ dẫn hồn mày ra khỏi xác”. Không một nô lệ nào sống sót khi bị giam vào đây, con buôn rất sẵn ḷng cho họ chết dần chết ṃn trong đói khát để dằn mặt hay răn đe những người c̣n lại.
Họ phải sống trong t́nh trạng vô cùng khắc nghiệt đó của kẻ buôn người ít ra là 12 tuần lễ, thời gian tối thiểu cho một chuyến tải hàng qua ba lục địa, từ Ghana đến châu Mỹ, qua châu Âu, rồi trở về Ghana.
Tam giác giao thương. H́nh trích từ internet
Tàu đến!!! Không c̣n tiếng kêu thương nào kinh hoàng hơn, thảm thiết hơn, năo nuột hơn!!! Họ được kiểm tra một lần cuối để xem có đủ sức chịu đựng chuyến hải tŕnh dài đăng đẳng hay không. Họ lần lượt bước qua cánh cửa “một đi không trở lại”, cố dành lấy giây phút cuối cùng quay đầu nh́n về quê cha đất tổ, không một vẫy tay tiễn đưa, không ai nói lời từ biệt, h́nh ảnh cuối cùng mà họ nh́n được là ṭa lâu đài đă giam giữ họ trong nhiều tháng qua. (HTTP://AFRICAN-ARCHITECTURE.BLOGSPOT.COM)
Biết bao nhiêu người đă tuyệt vọng và đă chủ động t́m đến cái chết trong thời khắc này. Họ lao ḿnh xuống biển, họ húc đầu vào thành tàu, họ nín thở, họ nhịn ăn … cho dù họ được đối xử tử tế hơn đôi chút so với trước khi lên tàu. Bước chân họ đă xa, quê nhà đà khuất bóng, h́nh ảnh quê hương c̣n đọng lại trong đáy mắt họ là một trong hai lâu đài nơi đă giam giữ họ trong nhiều tháng trời: Elmina Castle hoặc Cape Coast Castle .
Năm 1471, trên quá tŕnh t́m đường qua Ấn và viễn đông, các tàu buôn của Bồ Đào Nha , dưới quyền điều khiển của Joao Satarem và Pedero D’escobar, đă cập bến Elmina. Họ sớm t́m được mối lợi lớn trong việc trao đổi hàng hóa: súng, thuốc súng, rượu, thuốc lá đổi lấy vàng, ngà voi, hương liệu … Đi kèm với mối lợi kinh tế là mục tiêu truyền đạo, họ thấy rằng cần phải bảo vệ độc quyền đó cho ḿnh. Do vậy, năm 1482, dưới sự chỉ huy của Don Diego d’Azambuja, một đoàn hải thuyền gồm 12 chiếc, chở 600 công nhân và vật liệu xây dựng, cập cảng Elmina, thương lượng, đổi lấy một mảnh đất để xây một pháo đài, nhưng cuối cùng họ đă xây một lâu đài như h́nh trên. Cũng cần biết rằng trong số người trên đoàn tàu này có cả Christopher Columbus, người đă đặt chân lên vùng tân thế giới 10 năm sau đó (1492) (Elmina,The Castle & the Slave Trade, Ato Ashun, 2004, p 24). Dù được xây dựng khác nhau về thời gian, địa điểm và kiến trúc, các lâu đài thường giống nhau về cách sắp xếp: tầng trệt là nhà kho chứa hàng (là nơi nhốt nô lệ khi họ trở thành hàng hóa), tầng một là nơi trú ngụ của các nhân viên, quân nhân mẫu quốc và gia đ́nh, tầng hai là pḥng làm việc; tầng trên cùng là pḥng nghỉ mát hay pḥng riêng của viên toàn quyền. Vào thời kỳ buôn nô lệ, tầng hầm của lâu đài này đă từng chứa một lúc đến một ngàn người, 600 nam, 400 nữ. Những phụ nữ này c̣n phải chịu thêm khổ nạn nô lệ t́nh dục cho viên toàn quyền cùng lính tráng lẫn con buôn mẫu quốc. Nếu có bầu, họ sẽ được thả ra. Nhưng khổ thay, rất nhiều người không t́m được đường về quê nhà bởi v́ họ đến đây từ khắp nơi trên châu Phi! Họ phải sống nhờ vào ḷng nhân đạo c̣n sót lại của một số người Âu có quan hệ hôn nhân với người bản xứ (Elmina,The Castle & the Slave Trade, Ato Ashun, 2004, p 43). Lâu đài này sau đó được trao tay cho Netherland vào năm 1637, England 1872.
Cape Coast Castle do Thụy Điển xây vào năm 1653, khi đợt sóng săn bắt nô lệ đang dâng cao. Nó được xây trong ư đồ chứa nô lệ cho nên tầng hầm rất tối và rất nhỏ so với Elmina Castle. Nơi giam nô lệ nam được chia thành năm ngăn, mỗi ngăn chứa hai trăm người , trong diện tích 30’X15’ , nữ bị nhốt trong hai ngăn khác, mỗi ngăn 150 người. (http://www.post-gazette.com/pg/09192/983229-82.stm) Sân trong trong lâu đài này có bốn ngôi mộ. Ngôi thứ nhất là của Mục sư Philip Quarcoo, Giáo Sĩ da đen đầu tiên dược thụ phong ở Anh quốc và trở về phục vụ tại đây. Ngôi thứ hai là của C.B. Whitehead, một quân nhân Anh, bị lính Đức bắn chết trong sân lâu đài này. Hai phần mộ c̣n lại là của Ông Bà George Maclean, một trong những viên toàn quyền Anh, trị vi lâu đài này từ năm 1830 đến 1847. Không có số liệu chắc chắn là bao nhiêu người đă đi qua cái cổng không đường trở lại tại lâu đài này, nhưng thử làm con tính: mỗi ba tháng th́ có 1300 người bị giam ở đây, vậy một năm có 5200 người. Trong ṿng hơn 150 năm , từ khi lâu đài này xây dựng 1653 đến năm 1807 khi nạn buôn người bị băi bỏ, số nô lệ bị bán qua cửa lâu đài này tính tṛn khoản 780 ngàn. Năm 1998, chính quyền Ghana đă chọn ngày 1 tháng 8 làm Ngày Gỉai thoát, khuyến khích các người da đen từ khắp nơi trên thế giới trở về Ghana để cùng vui trong ư nghỉa ngày xua tan buồn đau quá khứ. Họ sẽ trở về từ bên kia cánh cửa “một đi không trở lại”, với biển đón chào “Cổng Trở Về” (Door of Return). Ngày 11 tháng 7 năm 2009, Tổng thống Obama và gia đ́nh đă trở về thật, họ đă đến Ghana, đến lâu đài Cape Coast trong ư nghĩa này. (http://www.post-gazette.com/pg/09192/983229-82.stm)
Tổng Thống Obama, Phu nhân và hai con gái đang đứng tại “Cổng Trở Về” (http://www.jackandjillpolitics.com/2009/07/the-obamas-visit-cape-coast-slave-castle/ )
Việc bắt người làm nô lệ này đă gây nhiều ảnh hưởng nặng nề lên toàn thể Châu Phi và c̣n kéo dài đến ngày nay. Thứ nhất nó gây nên sự thiếu nhân lực trầm trọng. Những người trong lứa tuổi lao động (từ 15 – 35) đă bị bắt, gia đ́nh và làng xóm không c̣n lực lượng lao động chính, đua đến việc sản xuất tŕ trệ. Thứ hai, nó tạo ra một lỗ thủng to lớn về tài năng. Những bộ óc, những đôi tay, những trái tim, lẽ ra để cống hiến cho xứ sở, đă bị cướp đi để phát triển nhà máy, hầm mỏ, ruộng đồng của các xứ xa lạ ở trời tây. Nó đă làm đứt đoạn sự tiếp nối và phát triển truyền thống văn hóa. Và sau hết, nó gây ra một sự sợ hăi triền miên, sợ bạo lực, sợ bị bắt, bị giam làm nô lệ. Tôi đă t́m được câu trả lời cho thắc mắc của ḿnh mà tôi đă nêu ở phần trên.
IN EVERLASTING MEMORY OF THE ANGUISH OF OUR ANCESTORS MAY THOSE WHO DIED REST IN PEACE MAY THOSE WHO RETURN FIND THEIR ROOTS MAY HUMANITY NEVER AGAIN PERPETRATE SUCH INJUSTICE AGAINST HUMANITY WE THE LIVING, VOW TO UPHOLD THIS
Trong nỗi nhớ khôn nguôi niềm đau của tổ tiên chúng ta Xin cho anh linh tổ tiên được yên giấc ngàn thu Xin cho những ai trở về sẽ t́m được nguồn cội Xin nhân loại chớ bao giờ tái phạm những điều phi lư chống lại loài người như thế Chúng tôi, những người sống c̣n, thề sẽ ǵn giữ những điều này. (Nguồn: Castle & Fort of Ghana, Kwesi J. Anquandah, 1999 Atalante, Paris, p. 50)
Đă hơn hai trăm năm qua… trong nỗi đau chưa nguôi, Ghana đă và đang làm lại cuộc đời với những điểm son đáng quư.
|
||||||||||||||||||||||