Peru- T́nh cảm c̣n theo
Tuư Việt
****
Phần một

Bước chân ra khỏi cửa hải quan của phi trường Lima, tôi đă được nhận ngay một sự giúp đỡ rất tận t́nh của các nhân viên chỉ dẫn. Một thanh niên trong y phục lớn, đứng ngay cửa hỏi tôi cần ǵ, có ai đón không. Trả lời tôi cần một tắc xi. Anh hỏi tiếp đi theo công ty du lịch nào, đáp "Explore". "Thế th́ chị đến bàn Information ở kia, nơi đó có người của công ty Explore, họ sẽ có tắc xi đưa chị về khách sạn."
Đón tôi tại quầy Information là một cô gái trẻ. Cô nói ngay giá tắc xi từ đây về khách sạn là 23 đô la, bà trả tiền tại đây và không phải trả thêm cái ǵ khác cho tài xế cả. Sau khi thanh toán, cô gái liền đẩy cái xe hành lư của tôi ra cửa bên hông. Đứng đợi không đầy ba phút th́ xe đến. Cô nhắc lại một lần nữa xe này sẽ đưa bà về khách sạn và bà khỏi phải trả thêm đồng nào cho tài xế đâu nghe. Tôi cảm ơn cô và an ḷng ngồi vào tắc xi. Không khí nửa đêm lành lạnh, phố Lima êm đềm, yên lặng, người tài xế vui vẻ nói vài câu chào đón ... bấy nhiêu thật đă để lại cho tôi một ấn tượng tốt đẹp.
Cái mỹ cảm đó c̣n theo tôi suốt cả chuyến đi dài qua các thành phố Arequipa, Puno, Cusco, Madre de Dios. Lima là thủ đô, có thể nó được trang điểm kỹ lưỡng hơn để tạo đường nét đáng yêu cho xứ sở, nhưng không hẳn thế. Những thành phố mà tôi đi qua ở rất xa thủ đô Lima, lại ở trên vùng núi rất cao (trên 3000 mét), hoặc ở vùng quê xa phố thị, có nhiều sắc tộc khác nhau sinh sống. Thế nhưng người dân ở đó cũng lịch sự, nói năng rất từ tốn, nhẹ nhàng, đặc biệt không có trẻ em đường phố. Điều đó chứng tỏ họ được giáo dục rất tốt từ trong gia đ́nh đến trường học và do đó đổ ra ngoài xă hội. Đi vào một xóm quê, lèo tèo có hai ba người bán lẻ bên lề đường, tôi đưa ra một đồng Peru (khỏan 30 cents mỹ) rồi chỉ tay vào trái quưt. Bà bán hàng bốc ba trái bỏ vào bao nylon cho tôi. Ăn thử thấy được, tôi quay lại mua cho bà bán hàng bên cạnh. Bà này bán những bốn trái cùng giá một đồng. Tôi thật phục, họ là những người dân quê, biết chắc tôi là du khách, thế nhưng họ không lợi dụng du khách để bán giá cao hơn, ngược lại họ cũng có khuyến măi để bán được nhiều hàng hơn.
Những người dân quê mà c̣n lịch sự như thế th́ những người có đào tạo từ trường lớp hẳn phải đáng nể hơn nhiều. Các tiếp viên hỏa xa, tiếp viên hàng không ... ôi lịch sự khỏi chê. Trước tiên là đồng phục. Nhân viên soát vé xe lửa nam cũng như nữ đều mặc măng tô đen bằng len dài đến nửa ống chân, sơ mi trắng, cà vạt, vét tông, giày đen, trông không biết ai là quản trị gia cao cấp, ai là nhân viên thường. Đến cả nhân viên phục vụ trong toa nhà ăn cũng một đồng phục như thế, chỉ có thêm cái tạp đề trắng quàng ngang bụng hay cái khăn đen vắt ngang tay khi rót rượu cho khách. Họ có một trí nhớ hay nhận xét bén nhạy. Hai trong số các thành viên của nhóm tôi đă đổi chỗ ngồi cho nhau sau khi gọi món ăn. Khi mang thức ăn đến, cô tiếp viên đă ngập ngừng chút đỉnh rồi nói "h́nh như hai ông đă đổi chỗ cho nhau?". Hai ông khách cười x̣a bảo đúng vậy, c̣n tôi không thể nín một tiếng khen rằng cô có trí nhớ tốt quá.

Nhân viên phục vụ trên tàu lửa
Tôi c̣n nhớ, trong chuyến đi Ấn độ năm ngoái, các tiếp viên hàng không nội địa của Ấn chỉ toàn thanh niên trẻ, th́ ở đây các tiếp viên của hăng bay Aero Condor của Peru chỉ toàn phụ nữ, trong đó có một vị trông đă đứng tuổi. Tôi đề cập đến nét đứng tuổi của cô tiếp viên đó để nhấn mạnh rằng cô đă có nhiều năm trong nghề, và qua đó thấy rằng người Phụ Nữ ở Peru cũng có cơ hội nghề nghiệp từ rất lâu trước đây. Điểm lại các nơi tôi đă đi qua th́ rơ ràng người phụ nữ có mặt khăp nơi. Các cửa hàng buôn bán nhỏ đều có một phụ nữ trông coi, cửa hàng lớn như hệ thống Inka Farma (nhà thuốc tây) hiện diện rất nhiều phụ nữ từ dược sĩ đến dược viên, đến thâu ngân và cả người quét dọn. Ở các quầy đón tiếp tại khách sạn số nam nữ tiếp viên ngang ngửa, không biết mèo nào cắn mỉu nào.
Nữ giới Peru quả thật xông xáo, xốc vác ng̣ai xă hội, nhưng thật sự họ cũng có những lănh vực "cấm" riêng. Học sinh nam nữ có trường riêng, chỉ khi vào Đại học hay College mới học chung với nhau. Phá thai là điều hoàn ṭan bất hợp pháp và cấm kỵ của tôn giáo. Đối với giới trẻ, một số rất ít chấp nhận sống chung với nhau trước hôn nhân, phần lớn vẫn c̣n theo phép tắc của gia đ́nh. Tuổi trẻ có cơ hội gặp gỡ và t́m hiểu nhau trước khi đến hôn nhân, nhưng nếu cô gái lỡ dại mang bầu th́ cha mẹ có thể cảm thông, nhưng các bậc ông bà có thể "giết" cổ đấy. Được biết tuổi trung b́nh để hẹn ḥ là 18-20, kết hôn chừng một hay hai năm sau đó. Đối với họ gia đ́nh có bốn con là đông, các bậc cha mẹ đang lứa tuổi trên dưới năm mươi phần lớn đều có bốn con.
Ở đâu cũng vậy, tuổi trẻ là rường cột của quốc gia. Tôi không có số thống kê dân số của Peru, nhưng theo quan sát riêng th́ có thể nói dân tộc Peru là dân tộc trẻ. Đất nước Peru rộng lớn (gấp bốn lần diện tích Việt Nam), địa lư h́nh thể gồm cả núi, biển, hồ, sông và đồng bằng, chế độ khí hậu thay đổi nhiều, hẳn phải là nơi cung cấp nhiều cơ hội để tuổi trẻ phát triển tài năng. Thế nhưng, theo một số bạn trẻ, cơ hội phấn đấu của họ cũng rất khó khăn. Quy chế vào đại học là phải qua một cuộc thi và học năm năm mới xong bậc cử nhân. Hẳn là cuộc thi này rất cam go cho nên nhiều học sinh chọn hệ thống Institute, theo đó họ cũng phải qua một cuộc tuyển sinh nhưng chỉ học trong ba năm thôi. Cuối năm thứ ba sinh viên phải thi tốt nghiệp để lănh bằng. Cả hai hệ thống University hay Institute đều có trường công và tư, gia đ́nh giàu có thể cho con theo học trường tư. Các bạn không may mắn đậu vào các University hay Institutes đành phải kiếm việc làm tạm thời nào đó, chờ sang năm thi lại.
Tôi đă gặp các bạn trẻ này. Họ rất trẻ, tương lai c̣n rất dài trước mặt . Họ gặp nhau và thành lập một băng nhạc dạo, lưu động theo các chuyến xe lửa từ Puno đến Cusco và ngược lại. Hát dạo là một nghề kiếm sống khó khăn, nhưng các bạn trẻ này vẫn phấn đấu, mang tiếng hát, tiếng đàn lại cho hành khách đỡ chán trên một chuyến đường dài hơn 10 tiếng đồng hồ, đồng thời cũng là cơ hội để các bạn trẻ tự tiếp thị sản phẩm của ḿnh: các CD do họ tự sản xuất. Nh́n họ tôi thật thương và cảm phục biết bao! Con đường học vấn cao hơn chưa mở cửa cho họ, nhưng họ không chán nản cũng chẳng bi quan. Họ chấp nhận hoàn cảnh nhưng không đầu hàng số phận, và không bỏ lỡ cơ hội ǵn giữ tài năng, cho dù đó là khả năng phụ . Các bạn trẻ này đă vui ḷng nói chuyện với tôi, chỉ cho tôi coi cái đàn charango. Tôi hỏi một du khách Mỹ về cái đàn này, họ gọi nó là Small Guitar, song tôi không nghĩ nó là ghi ta. Đàn có năm nhóm dây, mỗi nhóm hai sợi, dây chính mang tên sol do mi la mi . Cũng qua họ tôi t́m thấy một loại đàn khác, rất phổ biến trong dân gian Peru, có tên banjodolin.
Các bạn trẻ hát dạo

Đàn Charango Đàn bandoria (trái) và banjodolin
Đàn banjodolin có 4 nhóm dây, mỗi nhóm ba sợi. Đàn bandoria có 5 nhóm dây, mỗi nhóm 2 sợi.
Các bạn trẻ trong băng nhạc trên đây không thuộc sắc tộc Tây Ban Nha, những người đă một thời chiếm Nam Mỹ làm thuộc địa. Họ thuộc về một số sắc tộc sống ở vùng núi cao trên 3300 mét, phía nam rặng Andes. Hướng dẫn viên du lịch cho biết có đến 50 sắc dân khác nhau sống trong khu vực này mà nổi tiếng nhất là sắc dân Inka, đă một thời làm mưa làm gió cả vùng đất lớn bao gồm cả Peru, Bolivia và Chile ngày nay. Những sắc tộc này tự phân biệt nhau bằng các kiểu mũ đội đầu, ngôn ngữ th́ cùng nói tiếng Tây Ban Nha như những người thành thị
Tôi chưa có dịp đi vào các vùng núi non Việt Nam, nơi có 50 người con theo mẹ Âu Cơ đến sinh cơ lập nghiệp, để xem cái nhà sàn, ḍng suối chảy, rẫy nương .. của họ. Nghe "Sơn Nữ Ca" của Phạm Duy hay "Sáng Rừng" của Phạm Đ́nh Chương, tôi tưởng tượng ra những màu xanh êm ả, khói lam sương mai, tiếng cười trong trẻo của cô sơn nữ vang lên trong khung cảnh yên lặng của núi rừng. Những h́nh ảnh đó hiện lên trong tôi để so sánh với phong cảnh của miền núi Andes này. Ở đây chỉ là núi đá và đất. Núi trùng điệp, đất mênh mông, đó là nguyên liệu thiên nhiên để cư dân xây nhà. Họ dùng đất trộn với rơm đúc lại thành từng khối chữ nhật, lớn hơn viên gạch của VN rất nhiều ( tôi đóan cỡ 5x4x3 tấc), rồi phơi khô trong năng và gió. V́ không nung nên gạch không có màu đỏ mà chỉ là màu đen của đất, cho nên nhà, đất và núi cùng một màu, trông cô đơn, âm u và buồn man mác!

Nhà, đất và núi cùng một màu. Nhà quay lưng ra đường
Nhà quay lưng ra đường. Nhà không có cửa sổ, mỗi căn như trong h́nh này là một pḥng, hoặc pḥng ngủ hoặc nhà bếp, không có pḥng khách cùng pḥng ăn. Họ tiếp khách và ăn ng̣ai trời. Một số nơi lợp mái bằng ngói âm dương giống như một số đ́nh làng quê VN. Tôi thắc mắc, người dân miền núi ở đây thật cách xa muôn trùng với dân quê VN, sao họ cũng lợp nhà bằng ngói âm dương giống nhau vậy? Có lẽ phải hỏi các nhà nhân chủng học thôi.

Pḥng ngủ. Nhà bếp

Nhà lợp ngói âm dương
Những người dân miền núi này sinh sống bằng trồng trọt, mỗi gia đ́nh có một mảnh đất và canh tác các loại nông sản như khoai tây, băp. Người ta cho biết, trước đây, vào thời đại Inka, có ít nhất là năm ngàn loại khoai tây khác nhau, nhưng lần lần bị mất giống, đến nay chỉ c̣n khỏan một ngàn rưỡi loại. (Tôi cảm thấy nghi ngờ về số lượng chủng loại khoai tây này lăm, nhưng tra cứu thêm trong wikipedia th́ thấy có 4000 loại, khoai lang có 2016, bắp: 35, cá: 2000, trái cây: 650 – http://en.wikipedia.org/wiki/Peruvian_Cuisine ). Cũng theo tự điển wikipedia th́ khoai tây đă được trồng ở vùng núi cao phía nam rặng Andes từ bảy ngàn năm trước. Nó được trồng ở khu vực này v́ khí hậu qúa lạnh không thích hợp cho việc trồng băp. Nó là lương thực chính của người dân ở đây và chỉ được giới thiệu cùng thế giới sau khi người Châu Âu đặt chân lên Nam Mỹ Châu. Tôi chỉ đủ th́ giờ và bụng để nếm thử hai loại khoai tây và một loại khoai lang do cư dân địa phương đăi. Củ nhỏ, chăc thịt mà dẻo, ăn lúc đói bụng cũng ngon đáo để. Họ cũng có kỹ thuật làm khoai tây khô bằng cách phơi năng gió và cả sương đêm. Khi khô củ khoai tây có màu trắng và xốp, nhẹ hơn khoai tươi rất nhiều. Muốn nấu khoai tây khô phải ngâm chúng vào nước cả tiếng đồng hồ rồi nấu thêm vài tiếng nữa mới đủ mềm để ăn. Đặc biệt người dân ở làng này c̣n nấu một loại xốt từ đá , tôi không nhớ rơ tên của loại đá này (xem h́nh), tôi lấy một ít, thử đem rửa nước lạnh th́ nó mềm và bể vụn ra.

Các loại khoai tây Khoai tây được phơi khô trên đồng

Xốt nấu từ đá - hàng dưới, bên trái Bắp
Đá để nấu xốt - hàng trên, tận cùng bên trái
Bên cạnh khoai tây là rất nhiều giống băp, có giống màu tím đậm, có giống màu đen. Hạt băp rất lớn, ông tua gai cho du khách xem một hột băp lớn gần 2cm, dày khỏan 2-3 mm. Trong các nhà hàng có dọn một loại jello làm từ trái băp đen. Trái cây gồm cả các loại trái nhiệt đới như đu đủ, xoài, măng cầu xiêm, dừa, chuối cùng những loại trái riêng có ở Peru như vài h́nh ảnh mà tôi ghi được như sau:

H́nh bên trái la` trái granadille, tôi không rơ tên trái cây trong h́nh bên phải, chỉ nhớ nó rất thơm. Rủi là khi chúng tôi đến viếng trang trại, trái này chưa được chín nên chưa có dịp nếm.
Cây cỏ ở Peru đặc biệt nổi tiếng "bí mật" là lá Coca. Ngày đến Puno hướng dẫn viên du lịch giới thiệu cho du khách một loại trà địa phương gọi là Coca Tea. Họ nói loại trà này được dân địa phương dùng thường xuyên bởi v́ nó là một vị thuốc giúp cơ thể chống lại các triệu chứng gọi là elevation sickness (hiệu ứng cao nguyên). Tôi đă được khuyến cáo điều này. Trước chuyến đi hai tuần tôi đă phải chích ngừa sốt vàng da, sốt thương hàn, mang theo thuốc sốt rét và thuốc điều chỉnh cơ thể khi lên cao trên 4000 mét. Quả đúng thế, khi đến Puno, du khách được đưa đi thăm thung lũng Colca Valley, trên đường đi xe đă dừng lại ở địa điểm có độ cao 4910 mét. Tôi chuẩn bị bước ra khỏi xe th́ hướng dẫn viên du lịch bảo "cẩn thận đấy, chị hăy coi chừng v́ cao độ đấy nhé ". Tôi mỉm cười gật đầu và từ tốn bước xuống. Thật lạ lùng, ngồi trong xe th́ vẫn cảm thấy b́nh thường, nhưng chỉ đi chừng năm bước sau khi xuống xe, tôi bỗng cảm thấy như bị trượt, chóng mặt và buồn nôn một cách kỳ la. Trời năng, gió nhẹ vậy mà tôi lạnh run dù có mặc áo ấm. Vội nhăm măt lại rồi quờ quạng đi vào quán nước, gọi ngay một ly trà coca nóng; thấy nét mặt của tôi cô bán hàng biết ngay là trúng … cao độ nên cô vội vàng bưng ly trà đến bàn và dịu dàng nói với tôi hăy thong thả, đi chầm chậm thôi, đừng vội . Chỉ uống được nửa ly trà, tôi quờ quạng leo lên xe và ngồi yên, giữ cho cái đầu và cái lưng không đụng vào lưng ghế bởi v́ xe dằn làm cho ḿnh càng khó chịu hơn. Một tiếng đồng hồ sau, xe xuống đến độ cao 4000 mét, tôi vẫn c̣n trong t́nh trạng đó, cho đến chiều khi trở về khách sạn (độ cao 3800 mét) mới hết.
Lá coca đến nay vẫn c̣n là một bí mật. Tôi hỏi người tua gai chỉ cho tôi xem cây coca. Ông nói coca không phải cây mà là bụi, nó mọc ở vùng Cusco và đă từng là tài sản quư báu nhất thời Đế chế Inka. Lúc đến Cusco, tôi đă hỏi thêm để t́m xem cây này mọc ở đâu nhưng không ai chỉ cho cả, tôi chỉ thấy một cây mẫu được trồng trong khuôn viên Machu Pichu như trong h́nh sau:

Sách vở nói rằng lá coca đă không những là một vật phẩm cúng tế Thượng Đế cùng Mẹ Mặt Trăng của người dân vùng núi Andes mà c̣n là một loại thuốc gây mê thiên nhiên cho các ca mổ quan trọng như mổ sọ chẳng hạn, từ 4000 năm trước Thiên Chúa. Người ta truyền miệng nhau rằng nhai lá coca có thể kềm chế được đói, khát, tăng cường lực cho cơ thể, đồng thời bày tỏ ḷng kính trọng Thượng Đế . V́ tính cách thần bí đó, Đế Chế Inka đă dành độc quyền trồng và khai thác quyền lợi từ lá coca . Họ dùng lá coca để trao đổi các sản phẩm khác, làm quà "cống" cho các đồng minh, trả lương cho quân đội và quan chức triều đ́nh. Vào thời kỳ đế quốc, lá coca được dùng để trả thuế cho mẫu quốc Tây Ban Nha. Mặt khác, các viên chức Tây Ban Nha cũng băt đầu "nhai" lá coca để chống mệt mỏi và căng thẳng thần kinh. Hơn thế, các giáo sĩ Tây Ban Nha cũng dùng lá coca như những người bản xứ trong mục đích cải đạo cho họ theo Thiên Chúa Giáo. Ngày nay, trong thời đại cộng hoà, lá coca đă bị giới hạn khai thác v́ chất á phiện đă được t́m thấy trong đó. Các phân tích khoa học và sự cấm sử dụng á phiện đă lấy mất tính chất linh thiêng và nguồn dược liệu truyền thống mà người dân Andes đă đặt vào lá coca từ hàng ngàn năm qua (Coca Leaf - the Whole History, không ghi tên tác giả).
Một số các bạn tôi nói rằng lá coca được dùng để làm nước CocaCola. Tự điển wikipedia cũng nói vậy:
Industrial use
Coca is used industrially in the cosmetics and food industries. The Coca-Cola Company used to buy 115 tons of coca leaf from Peru and 105 tons from Bolivia per year, which it has used as an ingredient in its Coca-Cola formula (famously a trade secret). The cocaine itself does not end up in the drink nowadays, but the non-drug containing flavourings are still used. The cocaine is generally sold to the pharmaceutical industry where it is used for various anaesthetic procedures. [1] In Colombia, the Paeces, a Tierradentro (Cauca) indigenous community, started in December 2005 to produce a drink called "Coca Sek." The production method belong to the resguardos of Calderas (Inzá) and takes about 150 kg of coca per 3000 produced bottles.
( http://en.wikipedia.org/wiki/Coca#Industrial_use )
Ngày nay, lá coca phơi khô được bày bán ngoài chợ , được chế biến thành trà trong bao nhỏ hay làm kẹo ngậm . Vào tiệm ăn, gọi một ly trà coca, du khách sẽ nhận một ly nước sôi trong đó bềnh bồng chừng năm sáu lá coca lớn bằng ngón tay út. Chờ đến khi ly nước nguội vẫn chưa thấy được màu trà coca là xanh hay vàng. Trong các khách sạn ở vùng Nam Andes này đều có sẵn mộ t b́nh trà coca nóng, miễn phí, tại pḥng khách. Những ngày lưu lại ở đây tôi đă uống trà này một hay hai ly ǵ đó trong ngày và không biết có phải nhờ nó hay không mà tôi đă leo nổi 1117 bậc cấp, lên đến đỉnh núi Waynapichu.