|
CHUYỆN GIẦN SÀNG
Ai ơi bưng
bát cơm đầy, Tại miền nam Việt Nam trước 1975, khoảng cuối thập niên 70, nông thôn bắt đầu được cơ khí hóa với máy móc nông nghiệp nhập từ Nhật. Những nhăn hiệu như Kubota, Yanma . . . đă trở thành quen thuộc với nông dân. Nào máy cày tay, máy bơm nước, máy xay xát v.v xuất hiện khắp miền từ Bến Hải tới Cà Mâu. Khoảng mùa hè năm 1967, có dịp về thăm quê, tôi chợt nhận ra cái cối xay lúa và bộ chày đạp giă gạo, vốn có mặt thường trực tại gian nhà bếp của bác tôi, nay không c̣n nữa. Tôi hỏi nó đâu rồi, sao bác không để mà dùng, th́ bà cười, trả lời : “Để làm chi cho chật nhà, cháu. Sẵn cái máy xay lúa của ông Lời ở ngoài xóm đó, chỉ cần bỏ ta mấy đồng bạc là có gạo ăn, xay giă làm chi cho mệt.” Nói “ngày xưa” cho có vẻ to tát chứ thực ra nào có xa xôi ǵ đâu. Với cái tuổi ngoài sáu mươi non choẹt như tôi mà c̣n biết được đôi điều huống hồ là các bậc già cả. Tuy nhiên, e rằng biết mà không nói ra th́ rồi sẽ mai một bởi v́ nó đă và đang đi vào dĩ văng. Để trở thành
“hột gạo trắng ngần”, hột lúa phải qua bốn lần lột xác để đi từ thô (gạo
lứt) đến tế ( gạo trắng tinh); đó là xay, sàng, giă và giần. Mỗi giai
đoạn cần một hai loại dụng cụ khác nhau mà nhà nông không nhà nào thiếu. Thớt trên ṃn thớt dưới cũng ṃn ... Trong cái nghề làm gạo, việc đầu tiên là phải tách hột gạo ra khỏi cái vỏ cứng của nó. Người Anh người Mỹ th́ gọi “rice” tuốt luốt, có vỏ cũng “rice” mà không vỏ cũng “rice”, chín hay sống cũng đều “rice” như nhau. C̣n người Việt ḿnh th́ tinh tế hơn nhiều. Loại hột thu hoạch từ cây lúa được gọi là hột lúa, và cái vỏ của hột lúa là vỏ lúa. Điều này th́ hiển nhiên dễ hiểu, dễ nhận. Đến khi vỏ đi đàng vỏ, ruột đi đàng ruột, th́ vỏ là vỏ trấu (trú) hay trấu, c̣n ruột là hột gạo. Chưa hết, nếu gạo này đem nấu chín th́ gọi là cơm. Thật là lớp lang chi tiết! Với dân tộc miền núi biết trồng lúa rẫy, họ chỉ cần một bộ dụng cụ đơn giản là cái cối và cái chày. Bỏ lúa vào cối giă một hồi cũng tách được gạo ra khỏi vỏ lúa. Đem sảy cho sạch vỏ lúa th́ có ngay gạo để nấu cơm, làm bữa nào ăn bữa đó. Với người Kinh, vốn quá già kinh nghiệm về việc trồng lúa nước, nên dụng cụ làm ra hột gạo cũng có vẻ cao kỹ (hightech) hơn, do đó cái cối xay lúa ra đời ! Cái cối xay lúa, khi hoạt động cũng có vẻ máy móc lắm. Cối được chế tạo bằng ba loại vật liệu thông dụng : tre, đất sét và gỗ (thường là gỗ nhăn). Mời bạn đọc liếc sơ cái h́nh vẽ để người viết dễ thưa chuyện. Cối gồm có hai phần chính: thớt trên và thớt dưới. Thớt dưới cố định, ở trung tâm có một cái chốt dài chừng ba tấc, đường kính chừng 3 phân, dùng làm trục quay cho thớt trên.
H́nh trên: Cối xay lúa, vẽ theo trí nhớ.
Cả thớt trên lẫn thớt dưới đều đan bằng tre, đường kính bằng nhau, chừng 40-50cm, nhưng thớt trên cao hơn thớt dưới, thường gấp đôi. Lưng chừng thớt trên có một thanh gỗ xỏ ngang, hai đầu tḥ ra ngoài, mỗi bên chừng 2 tấc, có đục một cái lổ tṛn để tra cái giàn xay vào. Thanh gỗ này, có hai công dụng: bên ngoài th́ làm tay quay, c̣n bên trong th́ giúp cho cái ổ quay được chắc chắn vững vàng hơn. Bên trong cả hai thớt đều được nong đầy bằng đất sét. Mặt trên của thớt trên, đất sét được khoét thành h́nh miệng phểu, có một lổ thông xuống thớt dưới để làm đường dẫn lúa đi xuống. Hai mặt tiếp xúc của thớt trên và thớt dưới đều có gắn răng cối để khi ma sát th́ làm vỡ vỏ lúa, phóng thích hột gạo ra ngoài. V́ cả hai mặt cùng ma sát nên cùng chịu ṃn như nhau. Từ ư nghĩa đó, thành ngữ thớt trên ṃn thớt dưới cũng ṃn được dân ta dùng để diễn tả cái ư cả hai bên đều thiệt tḥi hao tốn như nhau khi ganh đua hay tranh chấp về một việc ǵ đó. Răng cối là những mảnh gỗ (nhăn) sắp xếp theo chiều thẳng đứng (kiểu trồng răng) với một kiểu thức khéo léo khiến cho khi xay, hai mặt thớt ma sát làm vỡ vỏ lúa mà không làm nát gạo. Một ông thợ đóng cối xay giỏi là người nắm được bí quyết sắp xếp hai hàm răng gỗ đó để đạt mục đích vừa nói. Người ta cưa thân cây nhăn ra thành từng tấm như tấm thớt, dày chừng 7, 8 phân. Đoạn dùng cái chàng của thợ mộc để xắn ra từng miếng lớn nhỏ tùy theo nhu cầu, dày chừng 5-7mm, rối trồng xuống mặt thớt khi đất sét c̣n ướt. Dĩ nhiên cũng phải chèn cho kỹ để răng đứng vững khi ma sát. Thớt dưới
được đan liền với một cái bầu bao bọc chung quanh để hứng gạo đă xay ra. Bầu lại
có chừa một lổ hổng để lùa gạo xuống. Toàn bộ thớt trên và thớt dưới “ngự”
vững vàng trên một cái giá gỗ h́nh chữ thập. Phải công nhận là dụng cụ được
thiết kế một cách khá chu đáo. Khi kỹ nghệ xe hơi ra đời th́ mới phát sinh cái nghề sửa xe và mở garage. Cũng một cách như thế, khi cái cối xay lúa c̣n đắc dụng khắp nơi th́ phải có thợ sửa cối xay lúa. Đa số những ông thợ sửa cối xay đă là những “phó cối” (thợ đóng cối xay), tuy nhiên cũng có người đóng cối xay không được nhưng lại biết cách sửa, phần lớn là sửa răng cối v́ đó là bộ phận làm việc nhiều nhất nên dễ hao ṃn hư hỏng. Những ông thợ này phải quảy cả gánh đồ nghề, lang thang khắp hang cùng ngơ hẽm vùng quê để hành nghề khi mùa màng rảnh rổi, họ vừa làm thợ mộc vừa làm thợ tre. Lúa phơi khô quạt sạch được đổ vào cối. Người ta tra cái giàn xay vào tay quay và vận sức để quay cái thớt trên. Khi mới khởi động th́ phải tốn sức nhiều, cũng kiểu như xe hơi khi mới bắt đầu chạy, v́ khá nặng nề, nhưng khi xay đă có đà th́ có phần bớt nhọc nhằn hơn. Để đỡ tốn sức nâng giữ cái giàn xay, người ta cột một đầu của giàn xay lên cái đ̣n tay của mái tranh. Chẳng phải là máy móc ǵ ghê gớm lắm nhưng khi xay lúa, sự ma sát cũng tạo nên một thứ tiếng động nghe ù-ù như tiếng sấm ầm ́ từ xa vang tới. Người Việt ḿnh có thú chơi câu đố, trong thể loại này có cái món “đố tục giảng thanh” nghĩa là câu đố khi nói ra nghe rất thô tục, nhưng khi giảng giải rồi th́ chẳng có ǵ là “ghê gớm” cả, chỉ là những đồ vật tầm thường, quen thuộc trong đời sống nhưng được nh́n dưới một góc cạnh “tiếu lâm” hơn. V́ vậy, thể loại này thường rất được bà con ưa thích, bởi có dịp cười đùa thoải mái khi tùng tam tụ ngũ. Trong cái mớ thô tục đó, tôi c̣n nhớ được câu này: Ôn(g) nằm
dưới xóc... lên, Ấy, người ta đố cái cối xay lúa đó. Thông minh và dí dỏm lắm chứ. Ở nông thôn, đủ thứ việc trong nhà, việc ngoài đồng, đ̣i hỏi mọi thành viên trong gia đ́nh chung tay mà làm, tùy sức, tùy tuổi: nào chăn trâu, cắt cỏ, xay lúa, giă gạo, bồng em, băm chuối, nấu cám heo v.v. Việc nào cũng là việc, anh chị em chia nhau mà làm, sao cho công bằng hợp lư, để ai nấy cùng vui ḷng, cho nên xay lúa th́ khỏi bồng em, một nguyên tắc phân công đơn giản và công bằng.
Lọt sàng xuống nia Gạo xay ra lẫn lộn với vỏ trấu và lúa c̣n sót lại. Việc đầu tiên là phải tách trấu ra khỏi gạo. Tùy theo số lượng gạo làm ra nhiều hay ít, tùy theo gia cảnh của người làm gạo giàu hay nghèo mà người ta sử dụng những phương tiện khác nhau khi muốn loại vỏ trấu. Nhà giàu, có nhiều lúa th́ phải sắm cái xa quạt (xe quạt lúa), đóng bằng gỗ. Đại khái đó là một cái thùng h́nh khối chữ nhật, có 4 chân đứng, ở trên là một miệng phểu h́nh vuông để đổ lúa vào, ở dưới là một cái máng gỗ cho lúa tuôn ra. Lưng chừng là lá quạt với bốn hay 6 cánh bằng gỗ mỏng gắn vào một cái trục. có tay quay ăn thông ra ngoài. Người ta quay tay quay, tạo thành sức gió để tống rơm rác, lúa lép và vỏ trấu ra ngoài xa, c̣n lúa tốt hoặc gạo nặng hơn sẽ rơi gần hơn, theo cái máng gỗ đi xuống cái thúng để hứng sẵn. Nhà nào không có xa quạt th́ mượn sức gió của trời để gie lúa, gie gạo, nếu gặp ngày có gió. Gie lúa là tách lúa lép và rơm rác ra khỏi lúa chắc; gie gạo là tách trấu ra khỏi gạo. Đứng thẳng góc vói hướng gió thổi, người ta nâng thúng gạo mới xay lên cao và từ từ trút xuống. Vỏ trấu nhẹ hơn sẽ được gió thổi ra xa, c̣n gạo và lúa nặng hơn sẽ tách ra rơi xuống gần hơn. Thông thường, người ta làm sạch trấu bằng cách sảy gạo với cái nia. Nia là đồ dùng bằng tre, h́nh tṛn, phẳng, đường kính chừng 1m, đan kín mặt, chung quanh có cạp vành tre [1]. Nếu bạn đă có dịp thấy cái mẹt (hay cái trẹt), th́ nia chính là cái mẹt phóng lớn ra. Sảy là động tác tung mớ gạo mới xay lên rồi hứng lại. Trong khi rơi xuống, thành phần gạo và lúa v́ nặng hơn nên rơi trước và rơi gần, được hứng lại trên nia, c̣n vỏ trấu thuộc thành phần nhẹ hơn, bay xa hơn và cho rơi xuống đất.
Sảy lúa bằng nia, theo P.Huard
& M.Durand trong Connaissance du VietNam (p.129). Sảy gạo sau khi xay cũng cùng
một cách như thế. Sau khi đă loại được trấu ra khỏi gạo, lại c̣n phải loại lúa c̣n sót (khá nhiều) trong gạo. Đến giai đoạn này người ta cần đến cái sàng. Sàng là đồ dùng đan bằng tre, có mặt phẳng, đường kính chừng 5 tấc, với vành tre nhỏ cạp chung quanh. Sàng có lổ thưa để lọt hột gạo nhưng không cho lúa lọt xuống. Nếu sảy là một động tác tung hứng th́ sàng là động tác xoay tṛn cái sàng theo chiều kim đồng hồ để cho lúa dần dần nổi lên trên, nhóm vào giữa, c̣n gạo th́ lọt xuống nia. Một cái sàng đan khéo, ngoài đặc điểm bền chắc, c̣n phải canh sao cho các lổ sàng để lọt hột gạo mà không cho lúa đi qua. Có cái sàng tốt nhưng gặp người không biết sàng th́ việc làm gạo cũng mất năng suất. Nh́n một người thiện nghệ sàng gạo cũng như thưởng thức một vũ điệu đẹp chốn thôn dă: người phụ nữ nhẹ nhàng đưa cái sàng chuyển động theo ṿng tṛn, nhịp nhàng, uyển chuyển; trên mặt sàng th́ gạo chuyển động như h́nh một cơn băo mà tâm băo là nơi lúa nổi lên và nhóm lại, c̣n dưới sàng th́ gạo rơi xuống rào rào như mưa. Người không biết sàng không làm được điều đó, nghĩa là gạo có rơi xuống nhưng lúa không nổi lên và không nhóm lại. Như bạn thấy đó, khi sàng, người ta không những chỉ có sàng, mà c̣n sảy và lắc nữa, nghĩa làm đủ mọi động tác để cho gạo rơi hết xuống nia, chỉ c̣n lại lúa trên sàng mà thôi. Ấy vậy mà vẫn c̣n những hột gạo trên sàng, rơ ràng đó là những hột gạo”cao số”. Cũng thế, nếu bạn đă từng xông pha tên đạn, trải qua bao gian nan nguy hiểm mà vẫn tai qua nạn khỏi, vẫn mạnh khỏe và sống nhăn với vợ con tới giờ, trong khi bạn bè, bà con, đă có rất nhiều người nằm xuống, th́ bạn đúng là hột gạo trên sàng. Thành ngữ thật là mộc mạc nhưng nghe diễn cảm và gợi h́nh.
Hột gạo trắng ngần Sau khi sàng sảy th́ coi như đă có gạo trong tay, nghĩa là có thể đă có cơm ăn. Nhưng đó là gạo lứt. Măi đến giữa thế kỹ 20 khi phương pháp dưỡng sinh “gạo lứt, muối mè” của Osawa ra đời th́ người ta mới biết đến giá trị của gạo lứt, c̣n trước kia, ngay cả nhà nghèo, người ta cũng chưa ăn cơm với loại gạo này. Gạo cần phải trải qua giai đoạn chế biến thứ ba, đó là giă gạo cho trắng. Dụng cụ dùng để giă gạo là cái cối và cái chày. Người ta thường giă gạo bằng chày vồ hoặc chày đạp v́ lối giă này có năng suất cao, nghĩa là giă được nhiều (v́ cối lớn) và nhanh v́ có thể hai hoặc nhiều người cùng làm.
Cối và chày vồ, vẽ theo trí nhớ. Bộ cối chày vồ gồm một cối với bốn chày, nhưng không phải bao giờ cũng sử dụng hết bốn chày. Cối được để tự nhiên trên mặt đất, chung quanh có lót đồ để hứng gạo rơi vải. Người giă đứng chung quanh , lần lượt giáng chày xuống theo một nhịp điệu nhịp nhàng, đều đặn. Nhờ thay phiên nhau mà giă, có lúc làm lúc nghỉ, nên lối giă này nhanh mà ít nhọc người, lại có bạn cùng làm nên mọi người đều vui vẻ. Bộ cối chày đạp th́ trông đồ sộ hơn và có vẻ máy móc hơn. Cối không để nằm khơi khơi trên mặt đất mà lại chôn xuống 2/3, chừa lại cái vành miệng . Khi giă cũng phải lót đồ chung quanh để hứng gạo đổ. Chày là một cây gỗ dài chừng 3,5 đến 4m, có đường kính khoảng 2 tấc, cũng có thể là một cây gỗ vuông cùng cở, một đầu gắn cái chày lớn (đường kính 15-20cm) dài chừng 5 hay 6 tấc, c̣n đàng kia th́ được vạt cho lép bớt đi và khía lát chả, làm chỗ cho người giă đạp chân xuống. Chày chuyển động chung quanh một cái trục nằm ngang. Trục được gắn vào hai cây cột thấp, chôn chặt xuống đất. Ở vị trí đuôi chày, người ta phải đào một cái hố, bề ngang chừng 4 tấc và sâu khoảng 5 tấc để khi đạp chân th́ đuôi chày mới có chỗ hạ thấp xuống làm cho đầu chày ngóc cao lên cao rồi rơi xuống, tạo thành động tác giă gạo. Khi giă, thường phải hai người mới có đủ sức nặng mà đạp cái chày cho nó ngóc đầu lên. Có khi trong nhà neo người th́ trẻ con 9, 10 tuổi cũng có thể phụ đạp chày với người lớn. Người giă phải bám vào sợi thừng buông xuống từ xà nhà th́ mới có thế đạp chày mà không bị ngă. Nhờ cối to, chày nặng nên mỗi lần giă, gạo đă nhiều mà lại mau trắng. C̣n trẻ con th́ bu lưng người lớn mà đạp, coi như một tṛ chơi hơn là làm việc.
Bộ cối chày đạp, vẽ theo trí nhớ Cũng như đa số các loại hột khác, hột gạo có một lớp vỏ lụa màu nâu bao bọc chung quanh. Lớp vỏ này làm cho hột gạo mất đẹp, nấu lâu chín, ăn cứng cơm và nhám miệng. Mặc dầu về sau này người ta đă khám phá ra rằng chính lớp vỏ lụa này là nguồn vitamin, trong đó đứng đầu là B1, nhưng từ xưa tới giờ bao giờ người ta cũng t́m mọi cách làm sạch cái lớp vỏ lụa đó để cho hột gạo trắng trẻo, trông ngon lành hơn, tránh được những khuyết điểm vừa nói. Lớp vỏ lụa tróc ra thành những mảnh nhỏ li ti, gọi là cám. Gạo đă giă xong, nghĩa là đă đạt độ trắng nhiều hay ít tùy người dùng, nhưng c̣n lẫn với cám và vỏ trấu cùng gạo vỡ vụn (đó là tấm, broken rice) nên cần phải được làm sạch bằng cách giần và sảy.
Cảnh giă gạo và giần gạo, theo P.Huard & M. Durand trong Connaissance du VietNam, p.131.
Hột gạo trên . . . giần Ở giai đoạn cuối cùng của việc làm gạo, người ta phải giần gạo để tách gạo ra khỏi tấm, cám và vỏ trấu vụn. Giần là đồ dùng bằng tre, cách cấu tạo và kích thước, h́nh dáng, y hệt cái sàng, chỉ trừ một điểm: lổ giần nhỏ hơn lổ sàng, chỉ cho tấm cám đi qua mà giữ lại gạo. Động tác giần cũng y như động tác sàng. Trong khi xoay cái giần, tấm, cám và vỏ trấu vụn sẽ rơi xuống nia, những hột lúa c̣n sót lại sẽ dần dần nhóm trên mặt, và được nhặt đi. Trong khi giần, thỉnh thoảng người ta cũng sảy vài cái để giúp đẩy bớt vỏ trấu vụn ra ngoài. Chính v́ cám thường có lẫn vỏ trấu vụn, ăn không được, nên cám chỉ dùng để nấu cám heo. Con heo mập không nhờ chuối cây hay bèo băm vụn mà chính là nhờ cám, phó sản từ việc làm gạo. Bèo hay chuối cây chẳng qua chỉ là chất độn để đánh lừa bao tử của heo chứ chẳng bổ báo ǵ.
Nghề hàng xáo Do nhu cầu làm ra hột gạo mà nảy sinh ra nghề đóng cối xay lúa và sửa cối xay. Bên cạnh đó c̣n có nghề hàng xáo, là nghề làm ra gạo để bán cho những người cần có gạo ăn nhưng không có th́ giờ và phương tiện làm ra gạo. Cũng như hầu hết mọi nghề cổ truyền khác, đây là nghề thuộc loại “lấy công làm lời”. Sẵn đồ nghề làm gạo trong nhà, lại sẵn nhân lực, thế là họ mua lúa về, cả nhà xúm nhau lại xay, giă, giần, sàng, rồi gánh gạo đi bán rong. Ngoài hai thúng gạo đầy ở hai đầu, một gánh gạo rong c̣n có thêm hai cái mẹt để đậy gạo, hai cái mủng dùng san sớt gạo khi bán và một cặp ô, ống hay lon sữa ḅ, là dụng cụ đong lường. Ô là một cái bát (tô) tiện bằng gỗ mít, dùng để đong gạo; c̣n ống là một lóng tre dài chừng 3 tấc, đường kinh chừng 3 phân, dùng để gạt gạo phẳng ngang miệng ô. Tôi chưa t́m ra một tài liệu nào của chính quyền xưa qui định về kích thước của cái ô. Bằng kinh nghiệm thực tế, tôi thấy cái ô mà các cô các bà dùng khi bán gạo có kích thước chẳng đồng nhất tí nào, cái sâu cái cạn, cái lớn cái bé, tuy rằng độ sâu cạn và lớn bé này không cách biệt nhau nhiều lắm. Nói chung, cái ô thường có đường kính chừng 15-17cm và sâu chừng 4-cm. C̣n cái ống để gạt, thường người ta dùng loại tre mỏng vỏ hoặc nứa hay lồ-ô để cho ống được nhẹ. Một trong những tiêu chuẩn để người tiêu thụ chọn người bán là cái ô đong gạo. Nếu người bán có cái ô “nơi nới” hay “trộng trộng” (hơi lớn, lớn lớn) một chút th́ được ưa chuộng hơn. Nếu bạn thấy một bà bán gạo có cặp ô ống sẫm màu, lên nước láng bóng th́ biết đó là bậc đă lên hàng sư tỉ hay sư mẫu trong nghề hàng xáo rồi đó. Có khi người mua không đủ tiền để mua 5, 10 hay vài chục ô gạo mà chỉ mua tới số lẻ, chẳng hạn hai ô rưỡi hay hai ô một phần tư th́ người bán đong làm sao? Rất dễ dàng, họ đong nguyên ô rồi dùng tay móc bớt đi một nửa ô, đoạn móc bớt một nửa nữa là c̣n y một phần tư. Cái tài t́nh là họ làm rất nhanh và chính xác tới độ gạo c̣n lại trong ô vẫn đứng phắc như cái bánh được cắt bằng dao! Ô ống là dụng cụ đong gạo truyền thống. Từ ngày tiếp xúc với Tây phương, cái lon sữa ḅ trở thành một dụng cụ đong lường mới, phổ biến từ Nam chí Bắc và dần dần làm cho ô ống biến mất. Với ô và ống, cả người mua lẫn người bán chẳng gian dối ǵ được, v́ không làm biếng dạng cái ô được, chỉ có việc đong đầy gạt sát mà thôi. Với cái lon sữa ḅ th́ lại khác. Lon làm bằng kim loại mỏng nên người mua và người bán có thể làm biến dạng cái đáy lon để thủ lợi. Người bán bao giờ cũng muốn đong non, nên đáy lon được g̣ cho gồ lên bên trong để giảm bớt thể tích của lon, ở quê tôi gọi là lon tộn(g) lên. C̣n người mua th́ ngược lại, bao giờ cũng muốn đong già bằng cách dộng cho đáy lon thụng xuống để tăng thể tích, đó là lon tộn(g) xuống. Gặp khi được mùa, giá gạo rẻ, người bán sẽ chiêu khách bằng cách bán gạo lon tộn(g), dĩ nhiên là lon tộn(g) xuống. Chưa hết, người ta c̣n ăn gian ở cách gạt gạo nữa. V́ đong gạo bằng lon nên thay v́ dùng ống người ta dùng ngón tay để gạt (ngón trỏ hoặc ngón giữa hoặc cả hai). Nếu để ngón tay thẳng mà gạt th́ không nói làm ǵ, ở đây người bán lại ưỡn ngón tay ra, thành ra khi gạt th́ mặt gạo lơm xuống, lợi được vài chục hột (!!). C̣n người mua khi gạt th́ cong cong ngón tay lại, thành ra mặt gạo vổng lên, cũng lợi được vài chục hột (!!). Chẳng qua cũng do cái tội nghèo mà đi t́m cái lợi c̣ con. Do cái lối làm ăn như thế nên việc mua bán một mớ gạo thường mất rất nhiều th́ giờ v́ hai bên mua và bán cứ đong đi đong lại để ăn chắc rằng ḿnh không bị thiệt!
Ḥ giă gạo Hôm đó là ngày đại lễ Kỷ Niệm 100 Năm Quốc Học và 80 Năm Đồng Khánh 26/10/1896-26/10/1996) tại thành phố San Jose của Bắc California. Nhiều nơi trên thế giới cử phái đoàn về dự. Riêng phái đoàn của thủ đô Hoa Thịnh Đốn do BS Trần Đoàn cầm đầu, với hơn chục cựu-học-sinh-hai-thứ-tóc, đă mang theo hành trang của họ một món quà rất đặc biệt cho đại hội, đó là một cái cối và bốn cái chày vồ cùng quần nâu áo vá (mới tinh!) để tŕnh diễn màn ḥ giă gạo độc đáo giữa cái thành phố được mệnh danh là vương quốc điện tử của thế giới này. Diễn viên toàn ngoại ngũ lục tuần cả, trong đó có những người đă từng du học Hoa Kỳ từ cái hồi tôi đang c̣n lo học mờ mắt để bắt cái Tú tài. Hai diễn viên chính, một nam một nữ, gọi là ḥ cái, diễn viên phụ gọi là ḥ xô, gồm hai nam hai nữ thủ bốn cái chày giă làm nhịp và cùng một số khác ḥ phụ họa. Sau mấy câu mở đầu chào khán giả, bên nữ vào cuộc trước. Bên nữ: Bên nam: Bên nữ: Bên nam: Bên nữ: Bên nam: Nếu tôi thay được ánh đèn sân khấu kia bằng ánh trăng rằm hay trăng mười sáu và thay cái sàn gỗ kia bằng cái sân lát gạch th́ khung cảnh thật là lư tưởng cho một đêm ḥ giă gạo nơi thôn dă.
Ḥ giă gạo trên đất Mỹ 26-10-1996, San Jose (ảnh VHA) Nền văn minh nông nghiệp với con trâu cái cày làm vốn, và phó sản của nó là nền thủ công nghiệp, đă đóng một vai tṛ quyết định trong sự h́nh thành nền văn học và nghệ thuật dân gian Việt Nam. Nào là ca dao, đồng dao, tục ngữ, ḥ, vè, múa, hát ... thật là đa dạng và phong phú. Nhưng khi văn minh cơ khí bắt đầu xâm nhập và phát triển theo đà tiến bộ chung của thế giới th́ sớm hay muộn ǵ con trâu và cái cày rồi cũng sẽ chia tay nhau, một đi vào vườn bách thú và một đi vào viện bảo tàng cho hậu thế coi chơi. Tôi biết có bạn đọc sẽ mỉm cười, nhưng nay thử làm một cuộc trắc nghiệm bỏ túi xem sao. Hăy hỏi những người ở lứa tuổi trên dưới ba mươi coi có được bao nhiêu phần trăm biết cái cối xay lúa, và bao nhiêu phần trăm đă từng được thấy cái cối xay lúa, một dụng cụ đă giúp dân ta làm ra hột gạo, ăn no để dựng nước và giữ nước từ mấy ngàn năm nay? Hẳn là cái tỷ lệ phần trăm này cực kỳ khiêm tốn. Khi không c̣n phải giă gạo bằng chày vồ th́ làm ǵ c̣n ḥ giă gạo? Khi không c̣n phải cong lưng đạp nước th́ làm chi c̣n ḥ đạp nước? Huế-Thừa Thiên có một điệu ḥ rất trữ t́nh, đó là ḥ mái nh́, hay c̣n gọi là ḥ mái đẩy. Cùng với nhịp chèo khoan thai khua nước đêm trăng, một giọng ḥ cất lên giữa trời nước mông lung, nghe thật là trữ t́nh, thơ mộng. Nhưng khi không có mái chèo làm nhịp để đưa làn hơi vang đi, thêm vào đó tiếng máy nổ đă “át giọng” tiếng hát mất rồi, th́ c̣n cảm hứng đâu nữa mà ḥ với hát. Trước kia, điệu ḥ giă gạo thỉnh thoảng c̣n được nghe trên Đài Phát Thanh Huế trong chương tŕnh cổ nhạc Trung Phần, nhưng không phải là loại ḥ giă gạo đối đáp chính gốc giữa đôi trai gái tài hoa mộc mạc, mà chỉ là mượn làn điệu để chuyên chở một nội dung khác mà thôi. Trước 1975, có một ông thân hào nhân sĩ ở Phú Vang nặng ḷng hoài cổ, đă bỏ tiền ra tổ chức hai đêm ḥ giă gạo có treo giải thưởng, mục đích là tạo cơ hội cho những nghệ sĩ nông thôn một thời nổi tiếng ḥ đối đáp có cơ hội thi thố tài năng trước khi mai một, sau nữa để cho giới trẻ biết được một dạng sinh hoạt nghệ thuật của chốn nông thôn nay chỉ c̣n là vang bóng. Không có gạo để giă, người ta thay bằng cát, miễn là có cái để đệm nhịp. Kinh tế nông nghiệp tiêu thụ nhiều năng lượng của cơ bắp. Trong khi làm việc,
người ta mượn tiếng hát câu ḥ làm vui. Ḥ hát càng vui hơn, càng hấp dẫn hơn,
càng kích thích hơn khi có tương tác, có đối thoại giữa hai phe nam nữ. Từ chỗ
nghệ thuật phục vụ sản xuất người ta đi xa hơn một bước nữa để biến nó thành
nghệ thuật tŕnh diễn nơi công cộng để nhiều người cùng thưởng thức, chẳng hạn
ḥ giă gạo của Huế, ḥ giă vôi và hát ḥ khoan của Quảng Nam v.v. Khi những loại
h́nh nghệ thuật vừa nói không c̣n đất đứng v́ phương tiện sản xuất cũ đă bị đào
thăi th́ ḍng văn học nghệ thuật dân gian cũng sẽ cạn nguồn. Thành ra khi thấy
những nông cụ cổ truyền, chẳng hạn cày, bừa, xe đạp nước, gàu ṣng, gàu giai
v.v. và những đồ dùng một thời quen thuộc, như cái cối xay lúa, bộ cối chày đạp,
bộ cối chày vồ v.v. tuần tự và lặng lẽ biến mất trước tiếng nổ của các loại máy
nông nghiệp, tôi vừa mừng vừa lo, nếu không nói là hơi buồn một thoáng. Tiến bộ,
hỏi ai không mừng? Nhưng mải mê với hiện tại và tương lai mà đứt bóng quá khứ
th́ nó hụt hẫng làm sao, nên phải ghi vội vài hàng.
_____ [1] Ngoài việc dùng để sảy lúa gạo và các loại ngũ cốc, nia và nong là đồ dùng để phơi nông phẩm. Cùng một kiểu đan với nia là cái nong, nhưng nong có đường kính 2m hoặc hơn, v́ vậy thô và nặng hơn. V́ nong có đường kính lớn nên ở quê vào những chiều hè, người ta đem nong ra sân dọn cơm ăn. Tối lại, nong có thể thay chiếu làm chỗ ngủ. [2] Mủng là đồ dùng đan kín bằng tre, cũng một lối đan như đan mẹt nhưng lận sâu hơn. Nếu lấy về độ sâu mà nói th́ mẹt có mặt phẳng, mủng sâu từ 5 đến 7 hay 8 phân, c̣n thúng là sâu nhất, đến 3 tấc và đường kính cũng lớn hơn .
_____
a2a mời nghe
H̉ GIĂ GẠO |