|
CHUYỆN THÚNG, MỦNG, RỔ, RÁ ... Ký của VÕ HƯƠNG-AN
Liệu mà
đát được thì đan, Anh Tuy ngửng đầu lên, nhận ra cô Lài, là người anh không mấy cảm tình vì cái tính lẳng lơ lại hay xía vô chuyện người khác, bèn hắng giọng trả lời ngay: Bớ các o
ơi! Chưa nghe hết
câu hát, mấy cô đã ré lên “đồ con khỉ” rồi ù té chạy thiệt mau qua khỏi ngõ nhà
anh Tuy. Mấy cô chạy trốn cho mau cũng phải, nhất là cô Lài, vì thua nặng quá.
Ai không biết chi về đan đát thì không thấy cái “thâm” trong câu hát của anh Tuy,
bề ngoài, anh ta nói toàn chuyện đan đát không hà, nhưng bên trong lại ngụ ý
toàn chuyện phòng the trai gái thì biểu mấy cô không “dị” mà bỏ chạy cho được.
Dù đan gì đi nữa thì người thợ đan cũng thường trải qua những bước sau đây để hoàn thành một đồ dùng: - Vót nan, - Vót nan: là làm ra nan để đan. Người ta thường chọn loại tre già dài lóng, để làm nan. Tùy theo kích thước sản phẩm to hay nhỏ mà người ta cưa tre thành từng đoạn dài ngắn khác nhau, rồi dùng rựa hay mác để chẻ tre ra thành từng thanh mỏng, gọi là nan. Độ dày mỏng với bề ngang to nhỏ khác nhau của nan hoàn toàn tuỳ thuộc theo loại sản phẩm. Bởi vậy nan đan rổ không giống nan đan giần sàng. Nan đan rá không giống nan đan thúng mủng. Chẳng hạn để đan loại rổ chợ vừa nói thì người ta làm nan với bề ngang chừng 5mm, dày non 1mm. Còn nan đan rá thì có hình tròn với đường kính chừng 2mm. Nếu là loại rổ đặt (custom-made) hay rổ gia dụng thì người ta dùng toàn tre cật để cho được bền bĩ hơn. Bề ngoài của thân tre được gọi là cật tre, có màu xanh lục, cứng, có sức đàn hồi lớn, độ bền cao. Bên trong của thân tre là ruột tre, màu trắng, càng gần trung tâm càng xốp, vì vậy phần ruột tre ở trong cùng thường được vất bỏ. Nếu dùng toàn cật tre để làm nan thì sản phẩm bền chắc hơn nhưng cũng tốn nhiều tre hơn nên giá thành cao, khách hàng có “order” người ta mới làm.. Nan ra rồi thì phải trau chuốt cho có độ dày mỏng trơn láng thích hợp rồi mới đan. Công việc này gọi là vót nan. Người ta dùng rựa, đôi khi dùng mác, để vót nan, nhưng rựa vẫn thông dụng hơn vì đa năng hơn. Nan làm kỹ thì sản phẩm làm ra càng đẹp. – Gầy: Muốn xây nhà thì phải làm móng; muốn đan thì trước hết phải gầy, nghĩa là sắp xếp những nan đầu tiên với nhau theo một lề lối riêng để tạo thành đường nét căn bản của sản phẩm. – Đan: Sau khi đã gầy được rồi thì dựa theo đó mà đan tiếp. Đan nghĩa là gài cái nan này với những cái nan khác theo một nguyên tắc chồng chéo trên dưới nào đó để cho chúng tự giữ chặt với nhau. Có nhiều cách đan, nhưng thông dụng nhất vẫn là đan lòng mốt, đan lòng hai, đan mắt cáo (lục giác) v.v. Đan thưa, đan dày hay đan bít là tùy theo công dụng của sản phẩm. Chẳng hạn rổ sưa (thưa) và rổ dày có cùng một cách đan nhưng khoảng cách giữa các nan trong rổ sưa lớn hơn, cỡ lọt ngón tay út, thích hợp với những vật khi rửa xong cần thông thoáng cho mau ráo nước, như tôm cá hay các thứ rau chẳng hạn. Giần và sàng cũng thế, cùng một cách đan nhưng sàng có lỗ thưa hơn để cho hột gạo dễ rơi xuống. Còn như thúng, mủng, bầu thì dùng để đựng lúa, gạo, các loại ngũ cốc và bột nên phải đan bít để vật đựng không thể rơi rớt được.
Cái mê rổ Hình một cái mê (rổ) điển hình- Các loại mê khác (giần, sàng, thúng, mủng, rá, trẹt, nong, nia) cũng có hình dáng tương tự, chỉ khác ở kích thước, cách đan, và đan thưa, đan dày hay đan bít mà thôi. Ở đây để dễ thấy cấu tạo của phần Đát nên tác giả vẽ thưa ra; trong thực tế, các nan ở phần Đát bao giờ cũng khít nhau. – Đát: Đát cũng là đan, nhưng theo một lối khác, nghĩa là đan với nan nhỏ hơn và đan dày hơn, sau khi đã đan xong phần chính của sản phẩm. Thử mở banh một cái rổ thưa ra mà xem (xem hình). Trên cái mảnh đan bằng tre đó, mà người ta gọi là cái mê, thấy rõ có hai phần đan khác nhau: ở giữa là một mặt hình vuông, nan được sắp xếp cách đều nhau, tạo ra những ô vuông trống hở, đó là mặt chính của cái rổ, đó là phần đan. Chung quanh bốn phía của phần đan là những nan nhỏ hơn được đan khít với nhau. Đây chính là phần đát. Đát bao giờ cũng lâu hơn đan, vì vậy dễ làm nản lòng những tay đan tài tử. Nhiều người mới biết đan thường tỏ ra hăng hái khi bắt tay vào việc. Đan xong phần chính, thấy khích lệ lắm, nhưng khi vào giai đoạn đát, thấy đan mãi mà vẫn chưa xong, nản quá, bèn bỏ đó, đi làm việc khác, công trình trở thành dở dang, chẳng ra cái gì cả. Bởi vậy mới sinh câu ca dao mà cô Lài đổi chữ đầu câu thứ hai để hát ghẹo anh Tuy: Liệu mà
đát được thì đan. Cười là phải quá đi chứ. Ở đời chán chi người sức không kham nổi mà cũng thích bày chuyện ôm đồm, ra vẻ ta đây cũng đủ khả năng, cũng tài giỏi như ai. Hay như Thúc Sinh, sợ vợ như mèo sợ cọp mà cũng bày đặt hứa hẹn với Kiều rằng Trăm điều hãy cứ trông vào một ta (Kiều). – Lận: lận là làm cho cái mê hình phẳng trở thành hình dáng của sản phẩm. Lại nói chuyện cái rổ thưa. Cho dẫu sau khi đan và đát đã hoàn tất, nó vẫn chỉ là một cái mê, chưa ra vật dụng gì cả. Phải lận thì mê mới thành rổ. Trước khi lận, phải chuẩn bị cặp vành, gồm vành trong và vành ngoài, thường làm bằng tre cật. Khi lận, chỉ dùng vành ngoài. Lận xong rồi mới dùng đến vành trong. Một cách mạnh mẽ nhưng khéo léo, người ta buộc cái mê phải nằm lọt vào bên trong cái vành để lấy hình dáng của sản phẩm. Cái câu anh Tuy hát rằng Lận thì trên nhún xuống chính là bao hàm cái kỹ thuật lận vừa nói. Với những thứ như giần, sàng, mẹt (trẹt), mủng, rổ, rá có độ sâu không bao nhiêu, kích thước lại nhỏ, thì việc lận không khó lắm. Với các loại thúng, có độ sâu trên dưới 3 tấc, đường kính cũng lớn hơn, khó lận hơn nên có khi người ta đào một cái hố tròn để cho mê dễ lọt xuống, giúp cho việc lận dễ hơn. Đối với các loại nong hay nia, đường kính từ một đến hơn 2 thước, mê dày và cứng hơn, thì khi lận người ta phải đóng cọc để giúp giữ vành cho vững, nhờ vậy mới đủ sức ép cái mê đi vào khuôn khổ. Khi cái mê đã vào lọt trong vành, phải sửa sang uốn nắn để cho mê nằm ngay ngắn đúng vị trí thích hợp rồi bỏ vành trong vào. Người ta tạm thời buộc chặt vành trong vành ngoài và mê lại với nhau bằng một sợi lạt, cứ cách chừng 10-20cm (tùy kích thước lớn nhỏ) lại buộc một nút. Nói là tạm thời vì các nút buộc này sẽ lần lượt được cắt bỏ khi nứt. Anh Tuy có hát rằng: Lận rồì,
tui chấn lột hẳn hoi. Ấy, anh đang muốn nói về những việc phải làm sau khi lận xong, vậy mà mấy cô nghe rồi bỏ chạy. Kỳ thiệt. Số là sau khi lận xong và buộc chặt tạm thời các bộ phận với nhau, sẽ có một số nan thừa lòi ra khỏi vành, cần được cắt và vứt bỏ để cho miệng sản phẩm được bằng phẳng thì mới nứt được. Đó là việc chấn và lột. Người ta dùng cái chàng thợ mộc, hoặc cái mác hay thậm chí cái dao phay để chấn nan thừa. Chấn lột xong rồi thì phải nhún, phải đè, điều chỉnh lần cuối để cho đâu vào đó trước khi đi vào khâu cuối cùng là nứt. – Nứt: Nứt là dùng dây mây để buộc vành trong, vành ngoài và cái mê lại với nhau theo một phương cách riêng, vừa đẹp vừa bền. Có nhiều cách nứt, trong đó có hai lối chính là nứt đơn và nứt kép. Dĩ nhiên nứt kép thì đẹp hơn, kỹ hơn nhưng cũng tốn công hơn. Nứt không kỹ không kéo thì vành mau sút, nghĩa là sản phẩm sớm bị phế thải. Hàng chợ đa số thuộc loại này vì người ta làm ít tốn công để có thể bán giá rẻ. Khi nứt người ta không dùng lạt tre mà dùng mây vì mây dẻo dai và cho sợi dài. Trên rừng có nhiều loại mây. Mây voi cho sợi to bằng cổ tay, mây song cho sợi cỡ xấp xỉ ngón tay cái, và mây nước hay còn gọi là mây nứt, sợi chỉ to bằng chiếc đũa, rất thích hợp cho việc nứt các đồ dùng bằng tre. Mây được chẽ nhỏ làm tư hay làm sáu và vót rất công phu để trở thành một sợi dây mỏng với bề ngang chừng 2mm thì phù hợp với khâu nứt. Ngày nay, ở các xưởng đan đát, đã có máy chẽ và chuốt mây rất tiện lợi. Phải dùng một dùi sắt để dùi thủng cái mê thì mới xỏ sợi dây mây qua được, và khi nứt người ta thường xỏ sợi dây từ ngoài vào trong, Đó là lý do khiến anh Tuy có thể dựa vào mà hát ỡm ờ rằng: Lận thì
trên nhún xuống
Rổ rá cạp lại Đến thành
quách lâu đài mà cũng rụi tàn theo năm tháng, nói chi đến mấy thứ đồ dùng bằng
mây tre. Bung vành sổ nẹp là những bịnh thông thường của các loại rổ rá thúng
mủng. Tuy cái thúng cái rổ đã bung vành, banh miệng, nhưng vành chưa gãy và cái
mê vẫn còn tốt, bỏ đi thì uổng, nếu chịu khó sửa chữa thì đồ hư trở trên đồ tốt
ngay, khỏi phí của đời. Cái việc làm mới lại, sửa lại rổ rá thúng mủng bị bung
vành, người ta gọi là cạp.
Bồ và sề, dùng để sấy thực
phẩm trong mùa mưa
Lấy thúng úp miệng voi
Bồ và mủng đựng gạo Ở Thừa Thiên có hai làng nổi tiếng về nghề đan đát, ấy là Bầu La và Dạ Lê. Bầu La thì được tín nhiệm về thúng mủng rổ rá, còn Dạ Lê thì được tiếng về gót (cót). Cót hay là gót là một tấm mê đan khít bằng tre, có bề ngang chừng một thước tây còn bề dài thì tùy ý. Người ta dùng cót làm tấm lót để phơi khô các sản phẩm thu hoạch từ mùa màng. Cót cũng được quây lại để chứa lúa, để che chắn những chỗ cần che chắn. Mặc dù hàng hóa bằng plastic tấn công khá mạnh nhưng vẫn chưa đánh gục được cái nghề truyền thống của hai làng đó. Người thầy đan đát đầu tiên của tôi là mệ ngoại tôi. Bà vốn khéo tay. Tôi chưa thấy bà đan rổ rá bao giờ nhưng việc cạp lại rổ rá thúng mủng là ngón nghề của bà. Thỉnh thoảng, vào mùa hè, bà ngồi chẻ giang để đan quạt gắp bằng lá dừa hay nan vót dư ra, bà chỉ cho tôi cách đan lòng mốt lòng hai. Rồi đang khi mệ cháu vừa tẩn mẩn ngồi đan thì bà lại kể chuyện đời xưa cho nghe.
Rổ xúc cá và nơm (chơm) (Hình của P.Huard & M.Durand, Connaissance du Vietnam)
Bà kể rằng: ở làng nọ có một ông nổi tiếng đan rất khéo, rất tài tình. Ông thạo nghề cho tới nổi chỉ cần nhìn một người ra nan, vót nan là ông biết ngay người ấy chuẩn bị đan cái gì. Chưa bao giờ ông nói sai. Ông có cô con gái khá xinh. Khi con tới tuổi gả chồng, ông rao lên rằng đàn ông con trai, bất kể sang hèn giàu nghèo có học hay dốt đặc cán mai, ai đan cái gì mà ông không biết thì ông sẽ gả con gái cho, không đòi hỏi sính lễ gì cả. Rất nhiều anh thợ đan chuyên nghiệp cũng như tài tử tới dự tuyển nhưng đều rớt cả. Cho đến một hôm có anh chàng nọ tới xin thi. Sau khi chào hỏi và nói rõ mục đích, anh “xin phép bác cho con đi quanh nhà một vòng để thăm cơ ngơi của bác cho biết mà học hỏi”. Thấy anh chàng có cung cách không giống ai, ông vui vẻ dẫn anh ta đi từ nhà trên xuống nhà ngang, vô nhà bếp, ra chuồng trâu, lẫm lúa, đủ cả. Hễ chỗ nào thấy sản phẩm đan đát của ông, anh ta cũng sờ nắn, ngắm nghía và khen nức nở. Xem xong. anh ta xin tre để ra nan, bắt đầu làm. Nhìn cách ra nan, ông phán ngay: anh muốn đan cái bội cắt cỏ hả? Dạ không. Ông lặng thinh, tiếp tục quan sát và đoán. Lại hỏi: với nan này thì không giỏ bội cũng lồng gà hay rọ xúc heo chứ trật đi đâu? Dạ không. Thiệt là tức anh ách. Cao thủ võ lâm mà ra hai chiêu đều trật lất thì còn chi là cao thủ. Ra nan xong, anh ta bắt đầu gầy. Rõ ràng với nan đó và cách gầy như vậy thì để đan giỏ bội, nhưng sao nó lại nói không phải? Tức mình quá, ông buộc miệng hỏi: anh không đan mấy thứ tôi nói thì anh đan cái quỉ quái chi, nói nghe coi? Nghe xong, anh chàng lập tức buông nan đứng dậy, vòng tay lễ phép thưa: thưa cha, vậy là cha nhận con làm rể rồi. Con đan cái giỏ đựng chày giã chuối cho cha đó. Con đi quanh, thấy nhà cha không thiếu thứ chi cả, cái chi cha cũng đã đan rồi mà lại đan khéo nữa, con làm sao bắt kịp. Chỉ có cái chày giã chuối dựng ở nhà bếp là chưa có cái chi đựng (!!) nên con tính đan cho nó một cái giỏ để treo lên cho tiện.
Tôi đã cười thích thú khi nghe câu chuyện vừa kể, phục cái thông minh lém lỉnh
của anh chàng kia quá nhưng về sau, khi mệ ngoại tôi kể câu chuyện khác thì tôi
lại thích hơn, tới già vẫn còn thích. Cũng có một ông nọ giỏi nghề đan đát, kén
rể bằng cách thi đua về đan. Ông ra đề tài: ai đan đúng ý ông thì được con gái.
Có hai anh tới xin thi, một anh thuộc loại đan giỏi, còn anh kia đan dở nhưng vì
đã trộm liếc dung nhan người đẹp, mê quá nên cũng đánh liều, may ra trời ngó lại.
Anh đan giỏi có tính ích kỷ, nhận đề tài và vật liệu xong, vào buồng đóng cửa để
đan, mục đích là giấu nghề, không cho anh kia “cop-pi". Còn anh kia biết mình
non tay nên tà tà mang vật liệu ra ngoài ngã ba đường, vừa đan vừa ngó ông đi
qua bà đi lại ra chiều xin giúp đỡ. Nhiều người biết đan đi qua, thấy anh chàng
đan một cách ngứa mắt quá bèn đứng lại chỉ bảo. Nhờ vậy anh ta đan đã nhanh lại
đúng qui cách, hợp ý cha cô gái, còn anh chàng kia vào buồng tối mờ mờ, bắt lộn
nan, cứ sửa đi sửa lại mãi mà cuối cùng cũng còn sót lỗi nên mất vợ.
San Jose,
01/2003 |