|
Võ Hương An
KHÓI THUỐC NĂM XƯA
Phiếm của VÕ HƯƠNG-AN
San
Jose, tiết cuối năm, trời lạnh và mưa. Đêm nằm nghe mưa rơi rào rào trên mái và
tiếng nước rơi tí tách ngoài hè lẫn với tiếng gió gào trong lá, gợi nhớ những
mùa Đông xứ Huế năm xưa, có khác chi mô. Thuở đó, trong những ngày mưa lạnh âm u
như thế, lũ nhóc chúng tôi không có dịp ra ngoài trời chạy nhảy chơi đùa, đành
quanh quẩn bên bà ngoại để nghe kể chuyện đời xưa hoặc chơi trò câu đố. Bà ngoại
ngồi trên giường, hai tay đặt trên lồng ấp[1], miệng nhai trầu bỏm bẽm và :
“Mệ[2] đố mấy đứa bây, cái chi mà :
Cò tha rác, đợi chờ tin lửa.
Bỗng đâu mây phủ tràn đầu.
Người không biết trăm năm thành phụ,
Người biết, vắng mặt lại sầu.
Ấy, bà đang đố về việc hút thuốc lá vấn đấy. Ngày xưa, khi thuốc điếu chưa phổ
biến, mới chỉ là sản phẩm tiêu thụ của người thành thị, của giai cấp thầy Thông
thầy Ký, thì muốn hút thuốc lá, phải tự vấn lấy bằng giấy quyến, có người gọi là
vấn theo kiểu sâu kèn. Hai ngón tay trỏ và cái chụm lại , nhón lấy những sợi
thuốc để lên giấy rồi vấn lại thành điếu thuốc, đó là hình ảnh của “cò tha rác”.
Tờ giấy quyến to bằng tờ nhật báo, mỏng hơn giấy pơ-luya dùng để đánh máy, được
xé thành dừng dung nhỏ, bề ngang chừng 3cm. Người hút sẽ ngắt ra từng đoạn dài
ngắn tùy ý. Thuốc Cẩm Lệ bán ra được gói bằng lá chuối tươi, khi nào cũng có kèm
vài dung giấy quyến, kẹp ngay nơi mép . Tôi hỏi bà “ Mệ có ưng hút thuốc vấn
bằng giấy pơ-luya không ? Để con đi xin về cho mệ hút, khỏi mua giấy quyến, tốn
tiền” Bà cười “Cái thứ giấy Tây đó hút hôi khét, làm dở thuốc. Chỉ có giấy quyến
của Tàu là hút ngon thôi.”
Lại ngon. Hút
thuốc mà thấy ngon? Hồi đó tôi mới đâu chừng 9, 10 tuổi, một bữa nghe bà ngoại
nói chuyện với người hàng xóm rằng thuốc Cẩm Lệ mà vấn với cánh hoa sen, hút
ngon lắm. Mùa hè, cái độc bình trên bàn thờ Phật cắm cả chục hoa sen trắng ngần,
thơm ngát. Bà dặn tôi hễ cánh sen rụng thì đừng có quét đi, hãy lượm để trong
cái ngảu[3] đựng cau cho bà hút thuốc. Nghe nói hút theo kiểu đó ngon lắm nên
tôi chờ cho bà ngủ trưa, lén ăn cắp thuốc rồi lấy cánh hoa sen vấn hút, để coi
thử có ngon như kẹo đậu phụng hay kẹo gừng không. Bập vài ba hơi thì ho sặc sụa,
nước mắt nước mũi tùm lum, tôi vất ngay điếu thuốc, miệng phun nước miếng phì
phì, và chạy vội đi lấy cái gáo múc nước súc miệng, lòng tự nhủ từ nay không bao
giờ đụng tới cái thứ ngon điên khùng này nữa.
Vậy mà về sau,
khi lớn lên, ngoài thuốc lá, tôi còn kiêm thêm cả trà Tàu và rượu (thỉnh thoảng)
và nghiệm ra rằng ba thứ này, một khi đã biết thế nào là ngon thì đã lậm mất rồi,
khó mà dứt đường tơ lắm, kiểu như anh chàng nghiện thuốc lào nào đó đã than thở:
Nhớ ai như nhớ thuốc lào,
Đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên
Tương tư
người yêu mà tả được như thế thì tình tứ mà cụ thể vô cùng!
**oOo**
Ở Huế, nói
tới hút thuốc thì phải nói tới thuốc Cẩm Lệ. Mà nói tới thuốc Cẩm Lệ thì không
thể nào quên được hai cửa hàng mang bảng hiệu Mụ Thôi và Bà Cửu Ới ở Ngã Giữa.
Mấy quán bán lẻ khắp hang cùng ngõ hẽm của Huế nếu có bán thuốc lá Cẩm Lệ thì
cũng đi lấy thuốc từ hai hiệu này. Hồi còn học Tiểu học (cấp 1), tôi đã từng đạp
xe ra một trong hai hiệu đó để mua thuốc cho bà ngoại và thầy mạ tôi. Sau này,
trước 1975, đôi lúc về thăm Huế, tôi cũng còn thấy hai hiệu thuốc đó, giờ không
biết còn hay không. Người ta nói rằng cậu Cẩn[4] nghiện ba thứ: cau trầu, rượu
lễ và thuốc lá vấn Cẩm Lệ. Thuốc cậu hút, được các bà (??) vấn sẵn, để trong hộp
bạc chạm rồng, ngó sang trọng thua chi thuốc lá hộp của Ăng-lê, nghe người ta
nói vậy chứ mình làm chi được gần cậu mà biết.
Kể cũng lạ,
Huế có vùng Phong Lai thuộc huyện Phong Điền trồng thuốc lá ngon có tiếng, vậy
mà người sành điệu thuốc vấn bao giờ cũng chỉ chuộng có thuốc Cẩm Lệ sản xuất
tại vùng Cẩm Lệ, tỉnh Quảng Nam, cách Đà Nẵng không bao xa, kiểu như người ta
chuộng thuốc lá thơm đầu lọc sau này. Mặc dầu sau này khi đã gia nhập vào hàng
ngũ hút thuốc lá, không phải thuốc lá thơm đầu lọc của
Ăng-lê hay Mỹ, mà là
thuốc lá đen Bastos xanh của Tây thuộc địa, tôi vẫn không chịu được mùi thuốc và
khói thuốc Cẩm Lệ .
Thuốc Cẩm Lệ
khi xắt ra, những sợi thuốc dính với nhau thành từng lát mỏng, đen như lát Thục
địa trong thuốc Bắc, có mùi hăng hắc. Điều đó chứng tỏ thuốc chứa rất nhiều nhựa
nicotin. Để xắt thuốc lá thành sợi nhỏ, người ta phải tướt hết cọng thuốc cứng
trên lá, xong đem lá đó quấn lại thành cây thuốc cở bằng ngón chân cái. Để tiện
chuyên chở và tồn trữ, người ta khoanh cây thuốc thành vòng tròn, gọi là bánh
thuốc. Mỗi bánh thuốc có đường kính chừng 4 tấc. Có người nói với tôi rằng để
cho thuốc được ngon, người ta đem sắc cọng thuốc như sắc thuốc Bắc rồi lấy nước
đó đem ủ với lá thuốc. Về sau, khi quen với một anh bạn có nghề làm thuốc lá
chánh gốc Cẩm Lệ, thường xuất hàng ra Huế, tôi đem điều đó ra hỏi thì anh cười,
bảo rằng có một toa thuốc Bắc gia truyền dùng vào việc ủ thuốc lá chứ không phải
nước cọng thuốc đâu!
Vẫn biết rằng
có thể dùng lá thuốc vấn lá thuốc ngắt vụn để làm thành điếu thuốc, kiểu như
xì-gà của Cuba, nhưng người “văn minh” ít khi hút thuốc theo kiểu đó, thường vấn
thuốc bằng giấy quyến nên thuốc phải được xắt ra thành sợi nhỏ. Người ở quê
thường tự trồng thuốc để hút nên họ phải tự xắt lấy với đồ nghề khá đơn giản,
chỉ cần một cái mác hay cái dao cau, dao xắt chuối mài thật bén và một cái bàn
xắt thuốc bằng tre là đủ. Còn người ở dinh[5] thì đã có các đại bài thuốc Cẩm Lệ
cung cấp. Ở mức độ này thì việc xắt thuốc đòi hỏi phải chuyên nghiệp hơn để nâng
cao mức sản xuất và giữ phẩm chất sản phẩm. Vậy là thợ xắt thuốc ra đời cùng với
đồ nghề chính hiệu là bàn xắt bằng gỗ, ghế ngồi và dao đặt thợ rèn làm theo kiểu
mẫu riêng.
Đâu chừng như
thập niên 50 thì việc xắt thuốc Cẩm Lệ được cơ khí hóa. Ở Đà Nẵng người ta đã
sáng chế ra máy xắt thuốc lá tự động chạy bằng mô-tơ, nhanh và tiện vô cùng. Sau
này, khi đã rời Huế, có người nói với tôi rằng chính anh Nguyễn Viết Tường, giáo
sư Toán trường trung học Nguyễn Tri Phương ở Huế là nhà sáng chế máy xắt thuốc
lá thông dụng cả ở bên này và bên kia đèo Hải Vân. Tiếc thay, khi biết thì đã
muộn, không có cơ hội để hỏi anh Tường việc này hư thực ra sao.
Tàn thuốc lá
hôi phải biết, dù là thuốc lá thơm. Vậy mà người ở quê hút thuốc, khi điếu thuốc
cháy gần hết, họ không vất đi. Họ dụi cho tắt rồi dán dưới gầm bàn hay cột nhà.
Lúc đầu, tôi không hiểu tại sao họ lại làm thế, trông dơ dáy quá. Cho đến một
bữa thấy ông anh họ mò mò dưới gầm bàn móc ra mấy cái tàn thuốc, gom lại quấn
thành một điếu, thản nhiên đưa lên môi phì phà. Hèn gì mà vừa làm anh vừa hát:
Cau xanh ăn với trầu vàng,
Không tiền mua thuốc lượm tàn hút chơi!
Trí nhớ thường mòn mõi với thời gian, có những điều cố nhớ thì lại quên, nhưng
có những điều không thèm nhớ làm gì lại cứ ăn mãi trong đầu. Chẳng hạn hai câu
vè quảng cáo thuốc Bastos mà tôi đọc được trên báo Sàigòn Mới hồi còn quẹt mũi
ngang, như sau:
Bát-tô tuổi đã dư trăm.
Nghìn tám ba tám(1838) là năm ra đời.
Mùi thơm, ngon, dịu, tuyệt vời.
Ai người sành điệu lại người không ưa?
Khi mới tập tễnh hút thuốc, tôi hút thuốc lá đầu lọc cho ra vẻ “dân thầy” (!),
nhưng sau đó khi đã “nâng cao trình độ” cà-phê đen và thuốc lá thì chuyển qua
thuốc lá đen Bastos xanh, vì thấy loại này đi với cà-phê đen mới hết ý. Khi hãng
Bastos cho ra đời sản phẩm mới là Bastos xanh đầu lọc và quảng cáo rầm rộ, tôi
hút thử và chịu liền, từ đó mê luôn cho tới ngày Miền Nam rã đám. Đúng là “mùi
thơm, ngon, dịu, tuyệt vời”. Nó không thơm một cách Playboy hay diêm dúa như các
loại thuốc thơm khác, mà đúng là mùi-đàn-ông, đã thế, hút xong, để lại một dư vị
ngọt ngào trơn tru trong cổ họng, không bị khô cổ bao giờ.
Khi tôi về
dạy học tại trường Hàm Nghi, gặp lại thầy Lê Hiếu Kính đang làm Tổng Giám thị
tại đó. Thầy Kính dạy tôi hồi lớp Nhất (lớp Năm) và thương tôi như em ruột. Ông
từng là huynh trưởng Hướng đạo, người rất mẫu mực, nên dĩ nhiên không ưa chuyện
hút xách, dù là thuốc lá chứ chẳng phải phiện phò gì. Thấy tôi cứ phì phà thuốc
lá và cũng mê sách, nên có lần ông nhẹ nhàng bảo “Nếu em bỏ hút thuốc thì thầy
nghĩ em sẽ mua được nhiều sách hơn.” Nễ mất lòng, tôi đáp “Dạ, thầy để em thử coi
có bỏ được không.” Chừng một tuần sau, thấy tôi vẫn tiếp tục nhả khói, ông cười
“ Không bỏ được à?” Tôi đáp “Nghe lời thầy, em nhịn tiền mua thuốc để dành mua
sách, nhưng sau đó tính lại thì thấy cũng không giàu thêm, có thể hút thuốc mà
vẫn mua sách được, với lại vừa hút thuốc vừa đọc sách thì lại thấy sách hay hơn,
nên em lén thầy tiếp tục.” Nghe thằng học trò nói cù cưa như vậy, ông đành cười, vỗ vai một cái rồi bỏ đi.
Thầy không ưa
hút thuốc, mà vợ cũng không ưa nhưng thương chồng nên phải chìu chồng trong mấy
chục năm. Biết rằng mùi thuốc lá chẳng thơm tho gì với các bà nên tối nào trước
khi đi ngủ cũng không quên đánh răng súc miệng thật kỹ để lỡ có cao hứng mà âu
yếm vợ thì vợ cũng không hất mình xuống đất. Khi có con, vợ ra điều kiện là hễ
mới hút thuốc thì không được hôn con. Nghe cũng có lý nên chịu phép.
Nhiều lần đọc
trên báo, hễ có bài nói về cái hại của thuốc lá, bà đưa tờ báo cho tôi, dí dí
ngón tay vào bài báo và nói “Anh coi nì, báo người ta nói thuốc lá hại như ri mà
còn hút làm chi?” Tôi cười cười “Ôi chao, mấy bài báo đó anh thuộc rồi. Chẳng
chết ai mô. Hút thuốc lá là cái duyên của đàn ông, anh bỏ thuốc thì hóa ra vô
duyên ngay, em chịu không?” Một lần, nhân có anh bạn bác sĩ đến nhà thăm, bà lôi
ngay cái hại của thuốc lá ra hỏi, ý muốn nhờ nhà chuyên môn cho tôi một lời
khuyên. Anh ta chìa ra hai ngón tay vàng khè khói thuốc Ruby và nói “ Tôi cũng
hút đây nì. Ăn nhằm chi mà chị sợ.” Vậy là từ đó bà không bao giờ phàn nàn
chuyện hút thuốc nữa, cho tới ngày định cư ở Mỹ, nhưng đó lại là chuyện về sau
..
**oOo**
Khi còn tu
tiên trên núi, mấy anh bạn cùng chung một đội thường rất khoái cái triết lý hút
thuốc của tôi, thỉnh thoảng lại bảo tôi lặp lại cho họ nhớ để còn đi thuyết phục
kẻ khác nữa!. Cái triết lý đó như thế này: hút thuốc là một hạnh phúc của người
tù cải tạo, vì hút thuốc sẽ giúp ta Năm chống. Họ hỏi sao lại kêu là Năm chống?
Tôi nói đó là chống lạnh, chống mệt, chống đói, chống thèm và chống buồn.
Này nhé, vào
mùa đông buốt giá, trong khi gió núi mưa nguồn bao phủ bốn bề u ám, tay anh cầm
cái rựa hay cái cuốc mà run lên từng chập trong tấm nylon vì lạnh, nếu có điếu
thuốc bập bập trên môi, tự nhiên thấy ấm ngay, phải không? Vậy là chống lạnh nhé.
Rồi thì cong
lưng cuốc đất mãi cũng mệt, phát rẫy mãi cũng đừ cả tay mà bụng lại đói cồn cào
nhưng giờ giải lao chưa tới, làm sao ngừng tay trong vài phút mà không bị phê
bình là chây lười lao động đây? Khó gì, anh cứ dừng tay, lấy bao thuốc rê ra vấn
một điếu, rồi “báo cáo cán bộ cho tôi đi đốt thuốc.” Đoạn ung dung đi tới đống
lửa công cọng mà mồi thuốc; chừng đó động tác với thời gian đi về ít ra cũng cho
anh được 5 phút giải lao ngoài thời khóa biểu, vậy thuốc lá chẳng giúp anh chống
mệt là gì? Ngoài ra, trong giờ giải lao chính thức, ngồi thoải mái rít từng hơi
thuốc, anh sẽ nghe được cái mỏi mệt tan đi trong từng thớ thịt.
Bây giờ là
chống đói nhé. Nếu anh bảo rằng anh không bao giờ biết đói thì tôi không nói làm
gì. Còn nếu đang lúc cày sâu cuốc bẩm mà bỗng dưng anh nghe cái bao tử đòi ăn và
biết chắc rằng ngoài tiêu chuẩn cơm của trại, anh chẳng có cái gì để ăn dặm thêm
cho đằm bụng, thì hãy lấy thuốc ra làm một điếu, rồi chiêu thêm vài ngụm nước
nữa là yên ngay. Nicotin trong thuốc lá sẽ giúp cho anh tạm quên cái đói trong
giây lát.
Còn sao gọi
là chống thèm? Khoản này sẽ không gồm mấy anh được thăm nuôi nặng ký. Khoản này
chỉ có hiệu lực với mấy anh con bà xơ [6] và mấy anh thăm nuôi nhẹ ký như tôi
thôi. Này nhé, đi lao động về, bụng thì đói mà cơm trại chưa lãnh về, trong khi
đó các bạn giàu có bên cạnh đem đồ thăm nuôi ra ăn “khai vị”, dĩ nhiên là con tì
con vị của anh biến thành thủy triều nước miếng dâng lên ào ạt. Làm gì nào?
Chẳng lẽ đưa chén ra xin một miếng? Còn chi là anh hùng! Đừng nhìn người ta ăn
nữa, hãy dựa lưng vào ba lô, thản nhiên lấy thuốc lá ra làm một điếu, khói thuốc
sẽ làm cho anh quên thèm và giữ được “khí tiết” trong cảnh bần cùng!
Cuối cùng là
chống buồn. Trong cảnh tu tiên bất đắc dĩ đó mà anh không cảm thấy buồn thì tôi
miễn bàn. Còn nếu có lúc nào đó gió núi mưa ngàn làm cho anh xót xa thương vợ
nhớ con thì hãy lấy thuốc ra mà đốt, mấy điếu cũng được. Hãy mơ màng ngắm khói
thuốc, hãy trò chuyện với khói thuốc, khuây khỏa và an toàn, chẳng ai có cớ gì
báo cáo với cấp trên rằng anh không “an tâm tư tưởng cải tạo tốt ”!
Trong cái
hoàn cảnh sơn cùng thủy tận đó, đói ăn, thèm ăn đã đành mà đói thuốc, thèm thuốc
cũng quan trọng không kém. Gặp tháng giáp hạt, có người thèm thuốc rê[7] quá đến
nỗi dám đổi một bộ quần áo mới để chỉ lấy một dây thuốc rê hút cho đã thèm.
Tháng giáp hạt của thuốc lá là tháng Tám cho tới tháng Mười ta. Đó là lúc thuốc
cũ đã hết mà thuốc mới thì chưa có, cung ít mà cầu nhiều, nên ai có thuốc rê là
nhà giàu.
Mỗi buổi
chiều, sau khi cơm nước xong, nếu trời không mưa cả trại thường thơ thẩn ngoài
sân để chờ giờ điểm danh rồi vào chuồng. Đấy là lúc hút thuốc và chuyện trò
thoải mái nhất. Một lần, vừa mới kéo điếu thuốc rê được vài hơi, một chú nhóc tù
hình sự bỗng ở đâu sán đến, đưa tay lên: “Chú, cho con đăng ký cái tàn thuốc”.
Như đã nói, thuốc rê lúc giáp hạt quí lắm. Vì vậy mấy vị hình sự biết điều,
chẳng dám xin thuốc nguyên điếu, chỉ xin xí phần cái tàn thôi, mà phải “đăng ký”
(ghi danh) trước để được ưu tiên, vì nếu nói chậm thì đứa khác xí mất!!
Nói chuyện
hút thuốc mà không nói qua vài tiếng về thuốc lào thì quả thật là thiếu sót.
Thuốc lào cũng có cái ma lực ghê gớm lắm, bởi vậy mới có người dám nói là “đã
chôn điếu xuống lại đào điếu lên”. Có anh hút xong điếu thuốc lào bao giờ cũng
say, té bật ngữa, u đầu chảy máu là thường. Có anh say thuốc lào thì vừa vặn tay
như thầy pháp bắt ấn vừa uốn éo thân mình vừa khóc hu hu, lại còn tè cả ra quần,
vậy mà không bỏ. Một lần nọ, cả trăm con người ta được đưa đi nhổ sắn ở Ba Liên.
Đó nguyên là một trạm đóng quân trên hệ thống đường mòn HCM hồi trước 1975, nay
còn sót lại vài cái nhà tranh bỏ hoang, bốn bề trống hoát. Công an dẫn giải bảo
rằng vùng này có cọp. Tối lại, công an phải cho đốt một đống lửa giữa sân to tổ
bố vừa để canh chừng thú dữ, vừa để chống lạnh. Cứ mỗi giờ thì có 4 anh phạm
thức canh lửa và động tĩnh chung quanh. Một bữa, đang ngủ bỗng nghe la chói lói.
Mọi người đều vùng thức dậy và cứ tưởng có người bị cọp chụp. Té ra không phải,
tai nạn thuốc lào. Một cậu canh lửa, rít thuốc lào, say quá, ngã chúi đầu vào
đống lửa, may mà người bạn ngồi cạnh nắm đầu lôi ra kịp, chỉ cháy tóc và phỏng
trán, và miệng biến thành miệng bình vôi mà thôi!
Muốn hút
thuốc lào thì phải vê những sợi thuốc lại thành một cục nho nhỏ cở hột đậu xanh
để vừa vặn đặt vào nõ điếu. Chúng tôi gọi đó là một “bi”. Gặp lúc khan hiếm, một
bi thuốc lào có thể hút được hai hay ba người. Những người hút đầu tiên không
được kéo tụt nõ điếu, phải nhớ dừng lại đúng lúc để dành phần cho người sau. Vậy
nếu đã có cái cảnh “đăng ký cái tàn thuốc” thì cũng có cảnh “cho em xin xái ba”
trong mùa đói thuốc.
Trong trại,
thuốc lào cũng rất có giá nhưng không phổ biến bằng thuốc rê, vì muốn hút thuốc
lào thì phải có bình có điếu, lại còn phải có đóm, có lửa ngọn, nghĩa là phải có
hộp quẹt, một vật thuộc loại quí hiếm đối với phạm. Nếu không có lửa ngọn, phải
chịu khó cầm đóm xuống nhà bếp xin lửa rồi chuyền tay nhau mà hút, nghĩa là phải
hút vào lúc có lửa chứ không phải hút vì tới lúc thèm thuốc. Đó là lý do khiến
tôi bỏ thuốc lào mà theo thuốc rê, vì thuốc rê dễ mồi lửa hơn, không điếu đóm
lỉnh kỉnh. Nhưng theo đạo thuốc rê cũng có cái khổ riêng của nó, ấy là lắm lúc
có thuốc mà không có giấy để vấn thuốc.
Hút thuốc rê
mà vấn giấy quyến thì nhất rồi (nhất trong tù), nhưng trong cái cảnh ngặt nghèo
đó, dễ chi thường xuyên có giấy quyến mà hút thuốc. Chẳng hạn giấy hút thuốc đã
hết mà thăm nuôi thì chưa tới kỳ, hoặc không ai thăm nuôi, làm chi có thuốc giấy.
Anh nào được người nhà thăm nuôi tiếp tế cho đầy đủ thuốc rê và gíấy quyến là
thuộc loại tư sản. Nếu anh được coi là chỗ giao du thân tình thì có thể sẽ được
bạn biếu cho một cục thuốc với chục miếng giấy, vậy là huy hoàng lắm rồi. Cho
nên không còn có cái việc chê “giấy Tây hút hôi khét” như bà ngoại tôi năm xưa
nữa. Giấy nào cũng tốt cả. Mỗi lần anh em chúng tôi có người nào kiếm được tờ
báo cũ của ai gói gì đó khi thăm nuôi thì bèn lấy làm hoan hỷ lắm, ngồi tỉ mỉ
vuốt ra cho phẳng phiu, xếp lại cho đúng kích cở rồi xé ra từng dung như gíấy
quyến để dành vấn thuốc hút. Cho tới nay, anh em của thời hút thuốc rê vấn bằng
giấy báo thỉnh thoảng cũng có gặp lại nhau, nhưng chưa nghe ai phàn nàn bị ung
thư môi hay miệng vì đã hút thuốc lá vấn theo kiểu kém văn minh đó cả. Giới Y
khoa nên nghiên cứu, biết đâu trong giấy báo Việt Nam có chất chống ung thư, sẽ
bắt được cái Nobel !
Người ta nói cái khó bó cái khôn, nhưng đôi khi ngược lại, chẳng hạn không có
giấy vấn thuốc thì chúng tôi dùng lá chuối. Đi rừng, gặp được vạt chuối rừng là
chúng tôi vào thám hiểm ngay, dù biết rằng thế nào cũng đổ máu. Chả là chuối
rừng ưa mọc nơi ẩm thấp, và đó cũng là ổ vắt rừng. Vừa nghe hơi người là chúng
từ dưới lớp lá mục vươn lên, bung mình bám ngay vào chân vào tay, có khi vào cả
chỗ bí hiểm mà hồi lâu mới biết. Biết vậy mà cũng mặc, kiếm coi có bắp chuối nào
không, luôn tiện cắt vài đọt lá chuối non về làm giấy vấn thuốc. Phải chọn đọt
lá đang còn cuộn tròn mới tốt. Nhẹ tay trải đọt lá ra trên mặt đất phẳng phiu,
dùng vài viên sỏi hay sạn để dằn cho phẳng và giữ cho gió khỏi bay. Sau một ngày
phơi nắng thì lá đã khô. Đừng lấy vội, hãy để đấy phơi sương một đêm, lá sẽ dịu
lại, bấy giờ vấn thuốc mới không bị rách. Điếu thuốc rê vấn bằng lá chuối rừng
khi hút có cài mùi riêng của nó, cái mùi trộn lẫn giữa thuốc và lá chuối cháy,
không biết tả làm sao cho đúng.
**oOo**
Không phải
tham phú phụ bần, chứ nói cho đúng thì dù được hút thuốc rê vấn với giấy quyến
cũng không bằng hút thuốc điếu sản xuất bằng máy. Đây là nói về loại thuốc lá
đen bình dân chứ không dám mơ tưởng thuốc thơm sợi vàng Virginia có cán đâu nhé.
Vậy nên khi được trở về trần thế, được sự hổ trợ của vợ, bèn bỏ gói thuốc rê,
nâng cấp lên Hoa mai (hậu thân của Bastos Tây thuộc địa nhưng phẩm chất kém hơn
nhiều). Khi cái giống Hoa mai không sản xuất nữa mà lại ra Đàlạt thì cũng theo
luôn Đàlat cho tới ngày đi định cư. Khi nào có tiền thì mua nguyên gói, khi cạn
tiền thì kiếm ra một đồng cũng có được hai điếu đắp đổi qua ngày. Có lần đi gặp
cấp côi[8], quá thật thà đến độ lòng thành nghĩ rằng mình hút thuốc gì thì mời
khách thuốc đó nên chìa gói Đàlạt ra mời, bèn bị từ chối, nói là hút thuốc đó
ho. Để bảo vệ sức khỏe, cấp côi chỉ hút Jet, hay tệ lắm cũng là Bông Sen đầu lọc
của Thanh Hóa. Sau lần đó thì khôn hơn một chút.
Ngày qua tháng lại, bỗng đâu lại có chuyện HO, lập hồ sơ đi định cư ở Mỹ. Hồi
hộp nhất không phải là màn phỏng vấn mà chính là màn khám sức khỏe, trong đó cái
vụ chụp hình phổi mới gay cấn. Không biết học kinh nghiệm từ ai, bà xã tôi buộc
cả nhà theo một thực đơn đặc biệt là ngày nào cũng phải ăn thơm (khóm) “cho
trong phổi”. Riêng tôi , với thành tích hút thuốc từ thuở thanh niên chưa vợ,
lại không phải là hạng to con mạnh khỏe nên nếu không bỏ thuốc thì dính chấu là
cái chắc, vì hút như thế thì phổi không nám cũng mờ. Ba tháng trước khi khám sức
khỏe là đã phải kiêng rồi. Không dứt đường tơ ngay liền được nên cứ giảm lần
tiêu chuẩn, mới đầu thì xuống mười điếu một ngày, rồi năm điếu, hai điếu. Lại
còn đổi cả kiểu hút nữa để bảo vệ lá phổi khỏi bị ô nhiểm. Ấy là không rít hơi
dài, không nuốt khói, không ém khói, cứ hít vô là nhả ra ngay, kiểu như mấy tay
mới tập hút thuốc, sợ nuốt khói bị sặc. Trong tuần cao điểm chờ chụp hình, tịnh
không có điếu nào, buồn ơi là buồn nhưng nghĩ tới tương lai cả nhà, phải ráng
quên đi.
Cái buổi chiều đợi nghe kết quả chụp hình phổi mới thật là hồi hộp. Hết ngồi lại
đứng, hết đi tới lại đi lui. Mà cũng chẳng riêng gì tôi, cả một mớ HO-6 “cùng
khóa” buổi chiều hôm đó đều như gà mắc đẻ thế cả. Trong cái bồn chồn lo lắng
trông đợi đó mà đốt được điếu thuốc thì an ủi biết mấy. Nhưng chỉ nhìn nhau lắc
đầu, chả anh nào dám, vì sợ lỡ mà hút rồi bị tuyên án “phổi có vấn đề, phải chụp
hình lại” thì chỉ có nước kêu “Mạ ơi!” và khóc thôi. Anh nào được tuyên bố gia
đình sức khỏe tốt thì mừng hơn bắt được vàng, không hẹn mà nghe kết quả tốt xong,
anh nào cùng lấy thuốc ra đốt, rít một hơi báo thù, nghe thấm cả tâm can tì vị,
rồi nhìn nhau cười hỉ hả .
Bước chân lên máy bay qua Bangkok thì giã từ thuốc lá đen để chơi Malboro cho
đúng tiêu chuẩn quốc tế (!) và cũng để lỗ mũi khách quốc tế khỏi khó chịu vì cái
mùi thuốc lá bình dân khét lẹt do mình đốt lên. Hồi đó, 1991, người ta chưa cấm
hút thuốc trên máy bay. Vậy nên trên mấy đường bay Bangkok-Tokyo, rồi
Tokyo-Seattle, chuyến nào cũng kéo dài suốt đêm, tôi cứ cà-phê thuốc lá dài dài, chẳng e dè gì cả, cà-phê chùa mà, muốn uống thì gọi tiếp viên là có ngay, việc
gì không hưởng. Tôi để ý, thấy mấy ông khách Trung Hoa và Nhật cũng đốt thuốc
lá mù mịt. Nếu hệ thống thông khí trên máy bay không tốt, hành khách không biết
hút thuốc e chết ngạt mất. Sau này người ta cấm cũng phải.
Cuộc định cư của tôi không được may mắn suôn sẻ như người ta. Ban đầu, cứ tưởng
là sẽ được bạn bảo trợ về San Jose thuộc bang California, ai dè hồ sơ bảo trợ bị
thất lạc sao đó nên cơ quan IOM xếp gia đình tôi vào loại mồ côi, đưa cho hội
World Relief bảo trợ về định cư ở Forthworh, thuộc bang Texas, hồi đó mới lác
đác vài gia đình Việt Nam. Buồn quá, ở Fortworth mới được bốn ngày, tôi liên lạc
với người bạn ở San Jose để mượn tiền mua vé xe bus của công ty Greyhound đưa cả
nhà về Cali. Cuộc hành trình xuyên bang dài 2000 dặm, mất hai ngày hai đêm. Trời
tháng năm mà ngày nắng đêm lạnh, khoảng 9 giờ tối là tài xế phải mở máy sưởi
trong xe. Cứ mỗi lần xe dừng ở một trạm nào đó, sau khi kiếm restroom cho vợ con
rửa mặt mày và giải tỏa nỗi lòng, tôi lại lo đi kiếm cà phê và đốt thuốc lá cho
phần mình, nhất là đêm lạnh, đốt thuốc lại càng thú vị. Một lần, vừa châm điếu
thuốc thì nghe “Sir, sir. . . “ Quay lại, té ra hai anh người Mễ tây cơ đi cùng
chuyến xe ra dấu xin thuốc hút. Vậy thì vui vẻ mời ngay, nhưng lòng không khỏi
vấn vương câu hỏi: ngó bộ ở Mỹ mà cũng cũng có cảnh đi xin thuốc lá sao? Về sau
thì không còn ngạc nhiên nữa, hễ lấy thuốc ra hút ở nơi có mặt bạn nghèo, thường
là dân homeless, da đen và Mễ, thì thế nào cũng có màn xin thuốc.
Trong đêm thứ hai của hành trình Tây tiến, xe phải dừng tại thành phố Phoenix
gần hai tiếng để chờ đổi xe qua lộ trình khác. Lo cho vợ con ổn định xong, tôi
lại móc thuốc ra đốt để hưởng chút thoải mái trong ngày. Lại nghe “Sir, sir. .
.” quay lại thì không phải là bạn Mễ xin thuốc mà là một vị cảnh sát to như hộ
pháp. Ông ta nói ở đây không được hút thuốc và đưa tay chỉ cái bảng khá to treo
trên tường có đề mấy chữ FREE SMOKING AREA. Tôi xin lỗi rối rít và dập ngay điếu
thuốc . Ông hộ pháp cảm ơn rồi bỏ đi, tôi đọc lại cái bảng cấm và thầm nói với
mình “ May mà chưa đọc thấy cái bảng này, chứ thấy nó trước thì mình lại càng
hút bạo hơn. “Free smoking” diễn Nôm là hút thoải mái mà lị. Thiệt cảm ơn bác
cảnh sát, dạy một lần hai bài học, vừa luật pháp, vừa sinh ngữ.”
**oOo**
Định cư ở San Jose chừng 10 ngày thì vợ chồng dì Vân tới thăm. Dì là người chị
em bạn dì ruột với bà xã tôi, vượt biển qua Mỹ đã lâu, rành nếp sống Mỹ. Thấy
tôi hút thuốc trong nhà, cả hai vợ chồng có lời khuyên là nên bỏ thuốc vì có hại
cho sức khỏe không phải chỉ riêng tôi mà còn cho cả nhà và dặn tôi rằng khi tới
chỗ công cọng thì nhớ đừng hút thuốc kẻo bị phạt, và tới nhà ai, nếu muốn hút
thuốc thì nhớ hỏi họ là có được phép hay không
kẻo mất lòng. Hồi đó, thành phố
San Jose mới chỉ cấm hút thuốc bên trong những nơi công cọng, chẳng hạn nhà ga,
công sở v.v còn ở bên ngoài các tòa nhà và những nơi như quán rượu, sòng bài,
tiệm ăn, quán cà phê thì thoải mái. Hình như đến năm 1995 mới có lịnh cấm triệt
để như bây giờ.
Cái trò hút thuốc hay ăn nhậu, phải thong thả thoải mái mới ngon. Qua Mỹ thì tôi
có đủ thứ tự do nhưng rõ ràng là việc hút thuốc của tôi ngày càng bị hạn chế nên
thấy kém ngon, dù là hút thuốc thơm đầu lọc và muốn hiệu gì cũng có.
Đầu tiên là vợ con trong nhà, hễ mỗi lần thấy tôi hút thuốc thì kêu là hôi mùi
thuốc quá. Ban đầu, tôi có hơi phật ý, nửa đùa nửa thật bảo rằng mới qua Mỹ mà
răng Mỹ hóa mau rứa, ở bên Việt Nam hút um nhà mà có nghe kêu hôi hám chi đâu.
Nhưng sau đó có nhiều người quen tới thăm, vừa bước chân vào nhà đã than hôi mùi
thuốc lá và nước mắm rồi. Té ra cái nhà ở Mỹ kín quá, lại còn nào màn nào thảm
nào nệm nào salon, toàn là những thứ hút và trữ mùi...hôi. Biết vậy nên tôi
không hút trong nhà nữa, ra hiên vừa hút thuốc vừa ngắm thiên hạ ngó bộ thoải
mái hơn.
Tưởng như vậy là giải pháp an toàn, nhưng chỉ an toàn trong mùa hè. Mùa Đông đặt
ra vấn đề mới. Ai hút thuốc cũng đều biết rằng điếu thuốc ngon nhất trong ngày
là điếu đầu tiên sau khi ngủ dậy. Nếu đi làm, tôi phải dậy từ 5 giờ sáng, cuối
tuần thì ráng tới 7 giờ. Năm giờ sáng mùa Đông thì cũng chẳng khác chi nửa khuya.
Lúc đó mà phải mở cửa ra ngoài hiên đứng hút trong gió lạnh như dao cắt từ
Alaska thổi về thì cũng hơi . . . điên thiệt. Thế là tôi nảy ra sáng kiến hút
thuốc lá trong bathroom. Trên thì phì phà, dưới thì xuất khẩu, một lúc làm được
hai việc, tiết kiệm thì giờ phải biết. Chỉ việc mở cái cửa sổ nhỏ ở trên cao của
bathroom thì mùi gì cũng bay ra ngoài hết, thiệt chẳng phiền đến vợ con. Vậy mà
không phải. Cả vợ và con gái đều than là trong bathroom hôi thuốc lá quá chừng.
Ra chỗ công cọng, muốn hút thì phải trông trước ngó sau. Có người nhìn mình hút
thuốc như kẻ đang phạm pháp. Cũng có ánh mắt nhìn mình kiểu thương hại cho kẻ
dại dột đang dấn thân vào vòng nguy hiểm. Về nhà, muốn hút cũng phải kiếm nơi an
toàn, nhưng dầu sao cũng có chút thì giờ để thưởng thức khói thuốc. Chỉ có tới
hãng mới ngặt.
Ở nơi làm việc, muốn hút thuốc thì chỉ có giờ giải lao và giờ ăn trưa. Sau điếu
thuốc ngon số một của buổi sáng vừa ngủ dậy thì điếu ngon số hai trong ngày là
sau bữa ăn. Hồi còn trẻ còn đủ răng cỏ, mình ăn cũng nhanh như rồng cuốn cọp
nhai chứ có thua chi ai, nhưng nay đã tới tuổi lão lai thiếu răng dư lợi thì làm
sao mà ăn cho nhanh được. Mặc, ăn no, ăn đói, ăn ngốn ngấu sao đó không cần biết,
phải tính thế nào để có đủ giờ hút điếu thuốc thì mới đủ nghi thức thường lệ. Đã
thế, còn phải lo đánh răng súc miệng để khi vào làm lại, bạn cùng cell không
phàn nàn hôi thuốc lá. Số là có lần tôi làm chung một cell với con Sylvia, Mỹ
gốc Mễ. Mặc dầu đã vệ sinh răng miệng đàng hoàng, lại còn nhai thêm chewing gum,
mà vẫn bị nó hỏi “Ê, mày mới hút thuốc hả? I don’t like it”. Nó chưa dùng chữ
“hôi” cũng là còn nễ mặt. Vậy nên khi nào cũng vội vội vàng vàng.
Rồi lại còn vấn đề bảo hiểm nhân thọ. Trong hai năm định cư đầu tiên, tôi đi đưa
đám bạn bè khá bộn. Có anh chết vì bịnh, có anh chết vì tai nạn, lạng quạng đạp
xe ra freeway, thế là xe cán. Có anh buổi sáng đi exercise quá sớm, khi trời còn
tối đất, bị xe đụng chết. Đường vắng, xe đụng người rồi chạy luôn, biết ai mà
bắt đền. Một cái đám ma ở Mỹ, nếu thiêu xác thì tốn khoảng 4 tới 5 ngàn đô, còn
nếu chôn trong nghĩa trang thì phải từ 10 ngàn tới 12 ngàn, giá bình dân. Cái
thứ HO mới định cư, đang còn ăn trợ cấp xã hội, làm chi có tiền lo đám. Vậy là
phải nhờ báo chí và đài phát thanh kêu gọi đồng hương kẻ ít người nhiều ủng hộ.
Rút kinh nghiệm đó, đi làm có lương là tôi nghĩ ngay đến việc mua bảo hiểm nhân
thọ để lỡ có mệnh hệ nào thì vợ con cũng khỏi âu lo vất vả. Khi tìm hiểu để vào
cuộc mới biết, té ra mấy ông bảo hiểm tính kỹ lắm, anh nào nghiện thuốc lá sẽ dễ
mắc bệnh hiểm nghèo hơn, mau chết hơn, nên phải lấy giá cao hơn!
Cứ mỗi lần hút thuốc, những bực mình nho nhỏ vừa kể lại hiện ra. Té ra mình bị
lệ thuộc, bị trói buộc quá nhiều. Phải phá tung xiềng xích đi chứ, thế là tôi bỏ
thuốc. Cuộc chiến đấu nội tâm cũng gay cấn lắm. Trước tôi cũng có người bỏ thuốc,
bỏ chừng một hai tháng gì đó thì hút lại, và khi hút lại, ngó bộ còn hăng hơn
trước.
Tôi bỏ thuốc một cách lặng lẽ, không tuyên bố gì với vợ con và bạn bè cả. Được
vài ngày bà xã phát hiện sự lạ bèn hỏi “Ngó bộ anh bỏ thuốc à?” Tôi đáp hững hờ
“Ừa. Để thử coi” Không dám nói mạnh miệng, sợ cao giọng quá đà mà sau không bỏ
thuốc được thì cũng ê mặt trượng phu!
Chừng bốn năm, sáu tháng sau khi bỏ thuốc, tình cờ gặp lại thằng bạn xa cách từ
hồi đậu Tiểu học, nó mừng quá, kéo về nhà, bày ra nhậu lai rai. Đã uống thì phải
hút mới ngon. Thấy tôi không mang thuốc theo, anh ta chìa gói ba số 5. Tội không
khai là đang bỏ thuốc, lặng lẽ lấy một điếu châm thử để xem công lực tu luyện
của mình tới đâu. Hít vào một hơi, trời đất ơi, dở chi mà dở, vừa hôi vừa lạt, y
như trong người tôi đang bịnh vậy. Khi đang còn hút thuốc, tôi thường nói với
bạn bè rằng điếu thuốc chính là cái máy đo sức khỏe, vì chỉ khi nào khỏe hút mới
thấy ngon, còn bịnh nặng thì không thấy thèm; bịnh nhẹ thì hút thấy hôi và lạt,
y như tôi đang gặp bây giờ vậy. Tôi biết là mình không bịnh, vậy chỉ có một cách
giải thích là sau một thời gian cai thuốc, cơ thể đã thay đổi. Nghĩ vậy cũng
mừng thầm trong bụng nhưng chưa dám chắc.
Mấy tháng sau, một bữa tôi phải nhờ anh bạn cho quá giang xe để về nhà vì xe của
tôi phải để lại garage cho người ta sửa. Ông này cũng là tay nghiện thuốc lá có
hạng. Cái gạt tàn thuốc trong xe khi nào cũng lưng lưng. Vừa ngồi vào xe, quay
kính lên là tôi thấy khổ rồi. Mùi thuốc lá hôi quá, khó thở quá. Cũng là cái mùi
quen thuộc từ mấy chục năm đó nhưng tại sao bây giờ tôi lại thấy hôi ? Tôi xuống
kính xe để mượn gió đánh bạt đi mùi thuốc lá, lòng mừng thầm rằng việc bỏ thuốc
đã thành công, vì khi nghe mùi thuốc mà thấy hôi, có nghĩa là cơ thể đã không
còn quen với khói thuốc nữa. Về nhà, sau khi kể lại chuyện đó cho bà xã nghe,
tôi cười cười kết luận “coi như nay anh tu đắc đạo rồi đó”. Mà đắc đạo thiệt, vì
nay mũi tôi cũng thính như mấy mẹ con vậy, động có hơi thuốc lá là biết ngay,
không những thấy hôi mà còn ho hen sặc sụa, làm như cả đời chưa biết thuốc lá là
gì! Nhớ lại hồi còn điếu này tiếp điếu kia mà thương cho cảnh chịu trận của vợ
con.
VÕ HƯƠNG-AN
San Jose, 12/01
_____________
[1] Lồng ấp: đồ dùng sưởi ấm cá nhân của Huế. gồm một cái trách bằng đất nung
đặt trong một cái lồng nhỏ đan bằng tre. Bỏ than đỏ vào trách và đặt tay trên
lồng tre để sưỡi ấm. Cũng có thể ôm lồng ấp mà ngủ nhưng coi chừng cháy, phỏng,
nếu ngủ quên và làm đổ lồng ấp.
[2] Dân Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên có khi gọi bà (nội, ngoại) bằng mệ.
[3] Một loại rổ nhỏ, đường kính chừng 25cm, đan bằng tre.
[4] Em út cố Tổng thống Ngô Đình Diệm, không vợ không con., quyền uy ở Miền
Trung một thời..
[5] Người ở dinh: người thành phố.
[6] Chỉ những người không được thân nhân thăm nuôi, giống như trẻ mồ côi, làm
con các xơ trong viện cô nhi.
[7] Đây là tôi nói loại thuốc rê thông dụng ở Quảng Nam, Quảng Ngãi. Thuốc lá
tươi bó lại, xắt nhỏ, trải ra phơi trên vĩ tre, khi khô cuốn lại, gọi là dây
thuốc.
[8] Côi: thổ ngữ của Bình, Trị, Thiên, có nghĩa là trên.
art2all.net
|