|
Vơ Hương An
NHỚ CÂY TRE

Nhà
tôi ở trong Thành Nội, c̣n quê nội tôi là làng An-Ninh nằm bên bờ sông Bạch Yến,
hai bên bờ bóng tre xanh mát suốt ḍng sông. Hồi c̣n bé, xe đạp đang c̣n hiếm --
nói chi tới xe gắn máy hay hệ thống xe bus từ trung tâm thành phố tỏa ra vùng
phụ cận như từ 1955 trở đi -- mỗi lần có giỗ lớn, tôi theo thầy tôi hay mạ tôi
cuốc bộ về quê dự đám giỗ. Chúng tôi ra cửa Hữu, qua đ̣ Kẻ Vạn, qua chợ Kẻ Vạn,
rồi từ đó băng qua các làng Phú Xuân, Phú Mộng để về làng. Những rặng tre hai
bên đường giao ngọn, tạo thành một tàn lá che nắng tuyệt hảo. Ngày hè, sau khi
phải đội nắng hanh hao qua những con đường sỏi đá không bóng cây, rồi được đi
trong những con đường làng rợp bóng tre như thế, tự nhiên thấy tươi tỉnh ra.
Những lúc đó mà được mạ ghé vào một cái quán bên đường để tạm nghỉ chân, lại cho
thêm cái kẹo gừng hay miếng kẹo đậu phụng kèm đọi nước chè xanh th́ cuộc đời
thấy đáng yêu ngay và hành tŕnh lội bộ mất non nửa ngày thấy không c̣n đáng
ghét nữa.
Một người bạn thủy chung
Cây tre của
Việt Nam có mặt khắp nơi, không chỉ tạo nên cảnh quang điển h́nh của làng quê
Việt Nam mà c̣n gắn chặt vào mọi mặt sinh hoạt của người dân từ lúc mới oa oa
chào đời cho tới khi trăm tuổi giă từ trần thế.
Cũng như
nhiều dân tộc khác ở vùng Đông Nam Á, người Việt sống nhờ hột gạo. V́ vậy việc
vinh danh cây lúa qua những lễ hội liên quan đến nghề nông – chẳng hạn lễ Tịch
điền của triều đ́nh, lễ xuống đồng, lễ cúng cơm mới của nông dân – là việc đương
nhiên phải có. Điều đáng nói là sau cây lúa, cây tre đă gắn liền với đời sống
người dân trong từng hơi thở, vậy mà chưa thấy một hành động hay một lời biết ơn.
Này nhé, nào mái nhà tre lợp tranh che mưa che nắng, tấm phên tre che gió che
sương, rồi nôi tre, giường tre, chơng tre, gối tre, guốc tre, và biết bao thứ đồ
dùng khác trong nhà cũng từ tre mà ra. Nào rổ, rá, giần, sàng, nong, nia, thúng,
mủng. Nào bầu, trạc, giỏ, lồng, bồ, sề, nơm, rọ. Thiệt không thiếu thứ chi.
Trong nhà đă vậy, bước ra sân ra vườn, cây tre cũng có mặt trên từng bước đi.
Luống cải kia không bị gà bới là nhờ có mành tre vây quanh; bụi cúc vàng nọ
trước sân đứng vững trước gió mạnh lắt lay để khoe màu với khách là nhờ tựa vào
cái chói tre cứng cáp. Nói chi đến dàn hoa thiên lư hay dàn bầu dàn bí tốt tươi
trước hiên nhà, không có tre bắt chói làm dàn th́ lấy chi cho mày ḅ lan để đơm
hoa kết trái?
Ngày xưa, khi
ánh sáng khoa học của Tây phương chưa soi tới, nào ai biết nhiễm trùng là chi.
Lắm bà mụ vườn không ngần ngại dùng con dao làm bằng cật tre hay cật nứa để cắt
nhau rốn cho trẻ sơ sinh. Thôi th́ đứa nào trời cho sống cứ sống, c̣n nếu lỡ
nhiễm trùng mà chết th́ đổ cho con ranh con lộn, có sao đâu. Chiếc nôi tre tuy
không đẹp nhưng cũng đủ êm để cho bé ngon giấc trong năm tuổi đầu tiên. Rồi bé
lớn lên thành người, bôn ba, bươn chải với đời. Khi người nằm xuống, lại ngọn
tre phơ phất lá triệu dẫn đầu đám tang, đưa tiễn người lần cuối. Hỏi có ai chung
thủy bằng tre?
Ngày trước,
người Việt ḿnh quan niệm rằng những vật bằng kim loại (thiết khí) để gần thi
hài sẽ ảnh hưởng tới sự siêu thoát của người chết. V́ vậy chiếc quan tài cổ
truyền của Việt Nam hoàn toàn không có một cái đinh nào. Sáu tấm ván được cố kết
bằng khe, mộng, chốt và nêm. Quan tài có khi quàn đến cả tuần hay cả tháng để
chờ thân nhân ở xa về, để chờ thầy chọn cho được cuộc đất tốt, để chờ ngày tốt
giờ tốt v.v. Làm sao giữ cho cái nắp quan tài khỏi bung ra dưới sức nén của khí
phân hủy thoát ra từ thây ma mà không cần dùng đến đinh sắt hay dây thép? Ấy,
lại nhờ đến tre. Nắp được giữ chặt bằng một bộ néo làm bằng tre gốc và buộc bằng
lạt tre sợi lớn, dẻo và dai. Hồi c̣n niên thiếu, có lần tôi được chứng kiến
những người lớn tuổi trong xóm chôn một người ăn xin chết vô thừa nhận bằng một
manh chiếu bó lại với sáu cái nẹp tre bọc chung quanh. Ṭ ṃ, tôi hỏi làm thế để
làm ǵ? Một ông già trả lời: bó lại bằng nẹp tre th́ dễ khiên đi, với lại cũng
như ḿnh mai táng họ đầy đủ nghi thức với quan tài đóng bằng sáu tấm ván vậy, để
cho họ khỏi tủi thân.
Cây tre vũ khí
Cây tre không phải chỉ cho bóng mát hiền ḥa, cây tre c̣n là một vũ khí, một vật
liệu quân sự. Trong huyền sử Việt Nam, có truyện Phù Đổng Thiên Vương giúp vua
đánh đuổi giặc Ân để cứu nước và giữ nước. Cuộc chiến đấu chống ngoại xâm dũng
mănh và hăng say cho tới nổi roi sắt cũng găy. Thế là chàng thanh niên làng
Gióng ném luôn khúc roi sắt c̣n lại, nhổ tre hai bên đường làm vũ khí để đánh
đuổi giặc tới cùng. Hễ bụi này tan th́ chàng lại ném đi và nhổ bụi khác. Cứ thế
cho dến khi giặc tan tác, đầu hàng, th́ chàng cỡi luôn ngựa sắt bay lên núi Sóc
để về trời. Tôi chưa được tới thăm quê Thánh Gióng để chiêm ngưỡng dấu tích
huyền sử, nhưng theo một anh bạn người Bắc Ninh đă từng qua đó th́ hai bên đường
lên núi Sóc người ta c̣n thấy những ao lớn, tục truyền là dấu chân của ngựa sắt,
và những bụi tre nghiêng ngă tự bao đời, tục truyền là cháu chắt của những bụi
tre thánh ném ngày xưa.
Chuyện Thánh Gióng dùng tre làm vũ khí đánh giặc chưa biết hư thực ra sao, nhưng
điều hiển nhiên qua huyền thoại đó cây tre đă đi vào quân sử. Khi cung tên và
gươm giáo c̣n là vũ khí căn bản của quân đội th́ họ nhà tre là vật liệu quân
dụng cũng như sắt thép vậy. Nào tên tre, chông tre, rồi cán gươm, cán giáo đa số
cũng bằng tre cả. Có một loại tre không có gai, đặc ruột, cao chừng bốn, năm
thước, thẳng, lớn vừa vặn tay cầm, làm cán thương cán giáo rất tốt, không cần
phải tốn công trau chuốt ǵ cả. Bởi vậy, giống tre này có tên là tre cán giáo. Ở
nông thôn, để làm cán cào cán cuốc, cán mỏ khảy, người ta dùng phần ngọn của cây
tre già, v́ tre cán giáo không phải ở đâu cũng có. Ở Huế, tôi thấy một nhà nọ
gần cống Vĩnh Lợi có trồng hai bụi trước ngơ.
Ai đă từng ở miền núi đều biết đến cái nguy hiểm của các loại chông, bẫy và tḥ
của đồng bào thiểu số. Lơị dụng tính mềm dẻo của họ nhà tre để tạo thành một sức
bật mạnh như ḷ xo thép, người miền núi đă có trong tay những vũ khí thô sơ
nhưng không kém nguy hiểm, có thể gây chết chóc hay thương tích cho những ai xâm
nhập trộm cắp hay phá phách nương rẫy của họ.
Ở thôn quê, tre thường được trồng ở cuối vườn để làm ranh giới giữa các nhà. Rễ
tre mọc rất bạo, nên người ta phải đào mương sâu - có khi rộng đến cả hai thước
tây, nếu vườn rộng cả mẫu đất - để ngăn chận không cho rễ tre xâm nhập sâu vào
vườn, tác hại đến các cây trồng khác. Tre thường được trồng dọc theo các bờ sông,
vừa để tiết kiệm đất vừa ngăn chận sự xói ṃn của ḍng chảy vào mùa lũ lụt. Hai
chữ lũy tre thường dễ gợi cho người nghe h́nh ảnh tươi mát thân yêu của một làng
quê bên nội hay bên ngoại nào đó. Đâu biết rằng khi tre được trồng dày đặc và
kiên cố như một cái lũy th́ nó trở thành một hệ thống pḥng vệ rất có hiệu quả
về mặt quân sự. Tại những vùng quê hay bị cướp phá, chẳng hạn làng mạc ở đồng
bằng miền Bắc vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, những lũy tre như thế với
chiếc cổng làng kiên cố đă giúp người dân được yên ổn phần nào qua những mùa bạo
loạn v́ cơm thua gạo kém. Đối với thiên nhiên, những lũy tre làng cũng đă giúp
nông thôn giảm thiểu được phần nào sức tàn phá của gió băo.
Món ngon từ tre
Măng là mầm tre non vừa lên khỏi mặt đất. Chỉ có loài gấu trúc Panda mới ăn lá
tre chứ người th́ chỉ xơi măng thôi. Chuyện đời xưa kể rằng vào một mùa Đông năm
nọ, khi băng tuyết phủ khắp sơn khê th́ bà mẹ Mạnh Tông trở chứng thèm măng. Mùa
Đông làm ǵ bói ra măng, nhưng thấy mẹ thèm măng quay quắt, Mạnh Tông thương mẹ
quá, đành đội tuyết ra ôm gốc tre khóc lóc năn nỉ xin một búp măng để vui ḷng
mẹ. Ḷng hiếu của Mạnh Tông đă làm cảm động gốc tre già và một mầm măng nhú lên
như phép lạ. Nếu Mạnh Tông sinh ra vào thời buổi này th́ ông không đến nỗi vất
vả như thế, chỉ cần lái xe đến siêu thị th́ tha hồ chọn lựa để làm vui mẹ già.
Lần đầu tiên khi bước chân vào một siêu thị thực phẩm Á Đông ở San Jose, tôi đă
không khỏi ngạc nhiên thích thú khi thấy bày bán đủ các loại măng, từ tươi cho
đến khô và đóng hộp, dưới cái tên nghe chẳng thân mật chút nào, bamboo root.
Măng đă là một thực phẩm từ bao đời nay của dân ta. Kinh nghiệm của các bà nội
trợ là măng tươi sau khi xắt ra, phải luộc chín, xả nước lạnh rồi mới nấu, nếu
không măng sẽ đắng. Các bà không cần biết trong măng có chất cyanogens, độc, chỉ
biết luộc đi th́ ăn ngon và các bà đă làm đúng. Món b́nh dân th́ có canh măng
chua, măng kho. Cao cấp hơn một chút th́ có vịt, gà hầm măng hay xáo măng, gị
heo hầm măng. Nói chung, thịt của các loại gia cầm và các loại chim trời rất hợp
ư với măng, cũng như cầy đi với riềng, heo đi với hành tiêu và ḅ đi với sả, lốt
vậy. Có những ngày mưa lạnh ở San Jose trông ra chẳng khác ǵ mùa Đông xứ Huế.
Nhớ ngày c̣n ở quê nhà, vào những ngày như thế này ở các chợ thường bày bán chim
mỏ nhát và le le do nông dân đánh bẫy được. Nếu không tính chuyện làm món rô-ti
cho chồng nhậu rượu th́ các bà một khi đă mua chim thường không quên mua măng. Ở
chợ, người ta không những bán măng tươi mà c̣n bán cả măng luộc sẵn nữa. Đó là
loại măng le, lấy từ những rừng le ở cao nguyên, người ta buôn về với số lượng
lớn chứa trong những cần xé rồi phân phối lại cho các người bán lẻ.
Những thứ bánh đặc sản của Huế như bánh phất, bánh ít trắng mà nhưn nhị không có
măng xắt hột lựu trộn vô th́ sẽ vô duyên mất một nửa. Về loại bánh ngọt, Huế có
hai thứ bánh dẻo đều làm bằng bột nếp, nhỏ bằng cái bánh in, gọi là bánh măng và
bánh mận. Bánh mận có mè trắng rang chín bao bọc ở ngoài, c̣n bánh măng lại có
những sợi măng xắt nhỏ rí lẫn bên trong, ăn nghe sần sật.
Có bao giờ bạn nghe câu vè Măng tháng Ba cấm cắt cấm bẻ. Măng tháng Mười vừa
cười vừa hái chưa? Sự t́nh là thế này: có nhiều làng xă đă xem cây tre là
một tài sản thiên nhiên rất có ích cho dân làng, cần phải được bảo vệ, nên việc
này được đưa vào hương ước như là một lệ làng. Mà đă là lệ làng th́ ai vi phạm
sẽ bị bắt vạ (phạt) ngay. Vậy để cho dễ nhớ, dân đặt thành vè.
Mỗi năm măng
mọc hai lần vào tháng Ba và tháng Mười. Tháng Ba là tháng Xuân, mùa sinh sôi nảy
nở, thời tiết tốt, nên măng cần được bảo vệ phát triển cho dài ḍng lớn họ. Làng
cấm bẻ măng vào tháng Ba là thế, đừng có v́ thèm quá, bẻ măng, rồi gân cổ lên mà
căi rằng : “măng của vườn tui th́ tui cứ bẻ”, phải biết phép vua thua lệ làng
chứ! Đến tháng Mười là tháng của mưa băo, măng có mọc lên cũng ít cơ may sống
sót v́ gió băo trước sau ǵ cũng đánh cho găy gục, vậy bẻ đi mà ăn nghe có ích
hơn. Ngày nay, nếu mấy tổ chức bảo vệ môi sinh trên thế giới biết rằng ngày xưa
ở những làng quê Việt Nam đă có luật lệ tiến bộ như thế để bảo vệ thiên nhiên
th́ hẳn họ phải hết lời ca ngợi!
Trăm thứ từ tre
Nói đến công dụng của tre th́ thiệt vô cùng. Hồi chưa có kỹ nghệ chất dẻo, lắm
lúc tôi nghĩ rằng nếu không có cây tre th́ đời sống người dân Việt Nam sẽ thiếu
thốn chật vật biết mấy v́ có biết bao vật dụng cần thiết hàng ngày được làm ra
từ cây tre.
Với sự có mặt khắp nơi của cây tre và nhu cầu vật dụng đă kích thích óc sáng tạo
của người dânViệt, tạo nên cả một ngành thủ công phong phú. Hầu như người nông
dân nào ít nhiều cũng biết đan đát hay biết chế tạo những dụng cụ cần thiết dễ
dùng trong nhà. Nếu không biết đan rổ đan rá cho vợ cho con th́ cũng biết bện
cái nơm để bắt cá, đan cái giỏ để đi câu hay bắt rạm ngoài đồng hoặc ít nữa th́
cũng làm được bộ cóng rớ nho nhỏ để đi cất cá vào mùa mưa lụt.
Thừa Thiên-Huế, xứ sở của mưa lụt và gió băo. Băo năm Th́n và Lụt năm Tỵ với câu
ngạn ngữ Th́n Tỵ là kỵ Long Vương đă trở thành những kinh nghiệm lịch sử
thời tiết địa phương khó quên. Trong trận lụt năm Tỵ, 1953, nhà tôi ở trong
Thành Nội, nước ngập mái. Nếu không có chú Sau đóng bè chuối tới cứu th́ chắc
anh em tôi khó sống tới giờ. Sau trận lụt đó, thầy tôi thuê chú Sau đan một
chiếc xuồng, loại xuồng câu, nhưng lớn hơn một chút, có sức chở ba người, dùng
làm phương tiện cứu hộ khi lụt lớn. Xuồng đan bằng tre, trét dầu rái, nhẹ mà
vững. Cũng với kỹ thuật đan đó, người ta đă đan thành những chiếc ghe lớn có sức
chở cả tấn để đi buôn dọc duyên hải Việt Nam. Đó là loại ghe bầu thường xuất
hiện hàng năm ở bến Bao Vinh vào mùa gió Nồm thổi.
Ở nông thôn ngày xưa, chỉ có hạng khá giả mới mua nổi cây, gỗ để cất nhà, v́ giá
cả đă cao, mà việc vận chuyển cũng không phải dễ dàng, nghĩa là rất tốn kém.
Riêng với đại chúng th́ họ nhà tre từ bao đời nay đă giúp dân ta có được một mái
nhà ấm cúng để an cư, dù h́nh thức th́ khiêm tốn và nh́n không mấy mát mắt. Nói
như vậy chứ không phải nhà tre nào cũng đồ xoàng cả đâu. Có những nhà tre tồn
tại hàng chục năm, v́ người ta dùng toàn loại tre già, được tuyển lựa kỹ, lại
đem ngâm dưới ao bùn cả năm trời nên có sức chịu đựng rất cao đối với thời tiết
và mối mọt.
Tôi có bà d́, nhà tranh phên tre nhưng được làm rất khéo, v́ dượng tôi là một
thợ tre. Ngoại trừ hai cây cột cái làm bằng gỗ thầu đâu (sầu đông), c̣n toàn bộ
giàn tṛ hoàn toàn bằng tre ngâm. Phên đan bằng tre cật, trét kín bằng hỗn hợp
đất sét trộn với phân trâu và rơm giả nhỏ. Nhà làm chỗ thấp, cứ vài năm lại bị
nước lụt vô nhà ngâm một hai hôm. Vây mà ba chục năm sau, khi ông giở nhà tranh
để xây lại nhà ngói, có người trong xóm thấy bộ sườn nhà bằng tre c̣n quá tốt,
thấy tiếc của đời đă xin để làm nhà bếp.
Cùng với cái bùng binh, cái cột nhà bằng tre cũng là nơi để giữ tiền tiết kiệm.
Chỉ việc lấy cái cưa cưa ngang một đường bên dưới cái mắt tre sâu vào chừng ba
phân, tạo thành cái miệng để nhét bạc giấy và tiền kên vào, thế là xong. Khi nào
muốn lấy th́ dùng cưa và đục để tạo thành cái lỗ bên dưới mà moi tiền ra. Người
ta gọi đây là tiền bỏ ống.
Khi người Pháp du nhập kỹ thuật xây dựng của Tây phương vào Việt Nam, cây tre
cũng được trọng dụng. Để chống lún, tre gốc già, dài chừng 2m, có khi được dùng
để đóng dày ở đáy hố móng. Tre tươi tồn tại rất lâu trong đất bùn mà không bị
thối mục. Ở trong Nam, cây tràm nước được dùng thay cho tre trong trường hợp
tương tự. Khi chưa có giàn giáo bằng ống thép, họ nhà tre được giới xây dựng
dùng làm giàn để đưa người thợ hồ và vật liệu lên cao, dựng nên lâu đài thành
quách.
Con đường Huỳnh Thúc Kháng ngày nay ở Huế, trước 1945 có tên là đường Hàng Bè.
Con đường này chạy dọc bờ sông Đông Ba, là nơi tập trung bán các loại tre, nứa,
mây, cho dân thành phố. Những thứ này được khai thác ở thượng nguồn sông Hương
rồi đóng bè thả xuôi theo ḍng sông. Tới bến, chủ vựa thuê người vớt lên, dựng
đứng trong những cái giàn đặt dựa bờ sông, khách mua đứng bên lề đường, tha hồ
lựa chọn, vừa ư cây nào rút cây đó.
Nhất đốn tre, nh́ ve gái
Cái vụ làm quen và tán tỉnh đàn bà con gái người Huế gọi là ve gái. Nếu trời
không cho cái khiếu bẻm mép th́ chuyện ve gái quả là khó thiệt, nhưng theo kinh
nghiệm của các cụ xưa th́ cái khó này c̣n đứng sau việc đốn tre. Sao kỳ vậy?
Ve gái, nếu nói năng vô duyên, thái độ sàm sỡ th́ có thể bị mắng cho mất mặt,
thậm chí, có thể ăn tát tai hay đế guốc cao gót vào đầu. Như vậy c̣n khá, v́ có
thể nhanh chân thoát được, c̣n đốn tre mà không khéo, không có kinh nghiệm th́
có thể vào bệnh viện hay mất mạng. Họ nhà tre, dù tre có gai hay không gai, đặc
ruột hay rỗng ruột, đều có cái nguy hiểm ngầm của nó mà người không kinh nghiệm
không biết được. Đặc điểm của loài tre là mềm dẽo dễ uốn. V́ vậy khi cong ḿnh
hay đan vào nhau, chúng trở thành một cái bẫy ngầm với sức bật chết người.
Nhớ một lần
nọ, khi c̣n ở trên núi, một tổ mười người được cắt đi đốn giang. Khi anh bạn tù
vừa chặt đứt cây giang th́ cũng là lúc anh kêu trời, buông rựa để ôm lấy cánh
tay đầy máu, v́ ngọn giang vừa chặt bén như lưỡi mác đă phóng ngược trở lại vào
anh. Thấy bạn bị thương, máu chảy dầm dề th́ ḷng xót xa nhưng cũng mừng v́ vết
thương không phạm vào chỗ hiểm. Cứ tưởng tượng ngọn giang ấy mà phóng vào ngực
hay bụng th́ giữa cảnh rừng núi thâm u lúc đó, biết lấy chi mà cứu. Bụi giang
gồm những khúc suông sẻ, ngắn chừng năm hay sáu tấc, đan vào nhau, ngó rất ngon
mắt, dễ đốn, v́ vậy anh bạn đă chặt thoải mái, đâu ngờ đă vô t́nh đụng nhằm cái
chốt bẫy của nó, thế là tai nạn xảy ra.
Đối với tre mọc thành bụi, dù là tre rừng hay tre nhà, rất ít khi người ta đốn
sát gốc v́ có hàng chục gốc đan chằng chịt vào nhau, không lách lưỡi rựa vào
được, nên thường phải đốn cách gốc ít nhất là một thước trở lên. Bạn phải lựa
thế mà đứng ở cái thế chênh vênh đó cho vững vàng, rồi phải xem cây tre ḿnh
muốn đốn đang ngă ngọn về hướng nào, gió đang thổi hướng nào, ước lượng hướng
gió thổi sẽ ảnh hưởng tới cách rơi của cây tre ra sao. Khi chặt, phải chặt phía
bụng trước, khi cây gần bị đứt th́ mới hạ một nhát tối hậu ở lưng cho nó rơi dứt
khoát. Nếu bạn thấy cây tre cong lưng một cách ngon lành như mời gọi và bạn hạ
ngay nhát rựa th́ cây tre sẽ bị tướt đôi do chính sức bật của nó và có thể bạn
sẽ bị thương. Phải tính toán, ước lượng mọi yếu tố thế nào để khi cây tre ngă
xuống nó không phóng ngược cái gốc nhọn hoắt hay đập cái thân nó vào ḿnh. Rơ
ràng là khó hơn ve gái, phải không?
Họ nhà tre bao lớn?
Không mựợn đến sách vở, chỉ bằng vào kinh nghiệm của một tay ngang như tôi cũng
thấy rằng họ nhà tre thật là đông đúc. Do đó tên gọi cũng nhiều, có khi cùng một
giống nhưng mỗi nơi gọi một cách khác. Nào là tre la-ngà, tre cán giáo, tre vàng,
tre đen, nứa (lồ-ô), bương, mai, vầu, le v.v. Đó là chưa kể đến các giống tre
nhỏ con khác, không có gai, tùy loại mà người Huế gọi là trúc hay hóp. Trúc v́
có dáng đẹp nên thường được trồng làm cây cảnh, c̣n hóp th́ thân thẳng và lớn
hơn nên thường được trồng làm hàng rào. Trong bài Thu vịnh, cụ Nguyễn
Khuyến khi nói đến Ngơ trúc quanh co, khách vắng teo, là chính loại tre
nhỏ con này.
Trong kư ức tuổi thơ của tôi, bụi hóp sau nhà là nguồn vật liệu để làm cần câu
cá và làm đồ chơi. Cây hóp lớn cỡ ngón tay cái th́ dùng làm cần câu cá rô cá
diếc; cây hóp nhỏ cỡ ngón tay trỏ th́ làm cần câu cá cấn cá mại. Người dạy cho
tôi chế tạo đồ chơi từ cây hóp là mệ ngoại tôi. Từ cây hóp, bọn trẻ con nhà
nghèo chế ra súng bắn bằng đạn trái cây, nổ nghe lốp bốp cũng vui tai. Mùa hè,
những cây muối dọc đường Đoàn Thị Điểm ra trái chi chít. Đó là nguồn “đạn “ của
chúng tôi. Nhưng bắn bằng hột cây muối, tiếng nổ không ḍn bằng hột cây bời lời.
Cũng từ cây hóp, chúng tôi làm thành cây kèn lá để giả làm tiếng gà gáy, gắn
thêm cái ống đu đủ th́ thành cái kèn bầu đám ma!
Lại nhớ bài ca dao Lính thú đời xưa hồi c̣n đi học:
Ba năm trần thủ lưu đồn,
Ngày thời canh điếm, tối dồn việc quan.
Chém tre, đẵn gỗ trên ngàn,
Hữu thân hữu khổ, phàn nàn cùng ai?
Miệng ăn măng trúc, măng mai,
Những giang cùng nứa, lấy ai bạn cùng?
Nước giếng trong, con cá nó vẫy vùng!
Ở cái tuổi đệ Thất (lớp 6) đệ Lục (lớp 7), tôi tự nhủ : ờ, cây trúc, cây mai th́
ḿnh biết rồi, nhưng cây mai làm chi có măng mà ông lính này ăn măng mai? Thắc
mắc như thế nhưng v́ nhút nhát và sợ bạn bè chê ḿnh dốt (!) nên không dám hỏi
thầy. Măi sau mới biết ở ngoài Bắc có một thành viên họ nhà tre được gọi là mai.
Quả là dốt thiệt!
Đă là người Việt Nam th́ ai cũng biết cây tre, nhưng thấy được hoa tre và trái
tre tôi nghĩ không mấy người. Tre già cũng ra hoa và kết trái nhưng theo sách vở
th́ phải mất năm mươi năm tre mới ra hoa một lần và khi ra hoa th́ tre thu hút
nhiều sinh lực của cây nên sau đó cây sẽ tàn tụi mà chết. Từ dưới đất nh́n lên
ngọn tre cao chót vót, những trái tre dài hơn hai gang tay, có h́nh con thoi,
đong đưa trong gió gợi cho tôi nhớ đến những tổ chim “rột rột” trên những ngọn
tre miền quê nội của những ngày thơ ấu. Cũng nhờ mấy năm tu tiên trên núi sau
1975 mà tôi mới có dịp thấy cái hoa tre và trái tre nó ra làm sao chứ với chu kỳ
năm mươi năm mới ra hoa một lần th́ chỉ có tre rừng không ai đốn mới sống lâu mà
ra hoa chứ c̣n tre nhà, không ai hoài công để dành như vậy.
Người ta trồng tre bằng gốc chứ không phải bằng ngọn hay hột, Người ta xắn gốc
tre, chặt cụt ngọn đi, chừa lại cái thân chừng ba thước và đem trồng. Phải mất
ba năm tre mới nhú lên cái mầm măng đầu tiên, c̣n hai năm đầu chỉ mới bén rể.
Lần đầu tiên
được thấy hoa tre và trái tre, tôi có ngạc nhiên nhưng không ngạc nhiên cho bằng
khi thấy cây giang. Gói bánh chưng, bánh tét, bánh ú, nem, tré, chả gị, chả lụa,
chả thủ, mà buộc bằng lạt giang th́ tuyệt, Buộc bằng sợi lạt có cái tiện là chỉ
cần một tay làm cũng được, cứ chặp hai đầu dây lại và ngoáy vài cái là xong một
mối buộc. Lạt giang quen thuộc quá và v́ cây giang thuộc họ nhà tre nên tôi cứ
in trong trí rằng cây giang hẳn cũng thẳng đuột như cây tre. Nào hay nó thuộc
loại thân leo. Đoạn thẳng nhất của nó dài không quá ba lóng (chừng trên dưới một
thước rưỡi). Sau khi ḅ quanh ḅ quất dưới đất, giang ta t́m được một thân cây
lớn tựa vào để từ đó leo lên, rồi cứ thế mà thênh thang đây đó. Có cây giang vắt
từ cây rừng này qua cây rừng khác, dài cả trăm thước.
Cây tre văn hóa
Cây tre gắn liền với cuộc sống dân ta từ hàng ngàn năm nay nên đă trở thành một
thành tố văn hóa, một nguồn cảm hứng để tư duy, để sáng tạo nghệ thuật. Về mặt
này, tôi nghĩ cây nêu ngày Tết là biểu tượng văn hóa đẹp nhất của cây tre Việt
Nam. Cũng như nhiều nước Á Đông khác chịu ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa, Tết
Nguyên Đán của Việt Nam cũng bắt nguồn từ phương Bắc nhưng cây nêu làm bằng cây
tre cùng với bánh chưng bánh tét đă làm cho Tết trở thành Tết Việt Nam.
Cây tre có mặt trong truyện cổ tích, trong thi văn, trong hội họa, trong âm
nhạc. Trong các loại nhạc khí cổ truyền của Việt Nam tôi chịu nhất là cây sáo
trúc và cây đàn bầu. Cả hai giống nhau ở chỗ được chế tạo từ họ nhà tre, rẻ tiền,
dễ kiếm, cấu trúc đơn giản nhưng âm thanh lại cực kỳ phong phú. Cái khèn của
dân miền núi, cái đàn t’rưng cũng từ tre mà ra. Cái mơ ở chùa làm bằng gỗ,
thường là gỗ mít, nhưng cái mơ của làng lại làm bằng tre. Công phu th́ làm bằng
gốc tre khoét rỗng ruột. C̣n đơn giản th́ chỉ việc lấy một lóng tre, lựa thứ già
thuộc loại rỗng ruột mà làm. Chỉ cần tạo ra một cái khe nhỏ trên lóng tre cho âm
thanh thoát ra và thêm cái tay cầm là xong. Tiếng mơ vang xa cả làng đều nghe,
khỏi cần loa hay bộ phận khuyếch âm. Ở làng quê, thường nhà nào cũng có mơ. Khi
nghe tiếng mơ đánh nhịp ba, cốc cốc...cốc, một cách gấp rút th́ biết ngay là tín
hiệu báo động, kêu cứu, không nhà cháy th́ cũng là bị ăn cướp.
Làm bạn hàng ngày với tre, sống nhờ tre nên tre đă đi vào ngôn ngữ b́nh dân qua
ca dao tục ngữ một cách tự nhiên như hơi thở. Ông Tây quen nghề máy móc th́ x́
xồ rằng Hăy rèn sắt khi đang c̣n nóng, nhưng ông cha ta giản dị hơn, nh́n
bụi tre th́ biết ngay rằng Măng không uốn, uốn tre sao lại. Ai bảo Đông,
Tây chẳng bao giờ gặp nhau?
Năm 1947,
người em trai út của tôi chết khi mới một tuổi do sự thiếu thốn thuốc men trên
bước đường chạy giặc. Mạ tôi vừa ôm xác em tôi vừa khóc Tưởng măng khóc tre,
ai ngờ tre khóc măng. Nghe vậy nhưng măi tới khi khôn lớn, tôi mới hiểu được
cái cảm xúc đau xót của mạ tôi trong câu than khóc giản dị nhưng thấm thía đó.
Cứ nghĩ rằng ở cái xứ Mỹ đầy máy móc cơ khí và điện tử này th́ làm chi mà biết
cây tre. Ai dè chỉ cách cái thành phố tôi ở chừng một giờ freeway về hướng Bắc
lại có một vườn tre rất đẹp và rất phong phú, rộng đến 2 acres với một bộ sưu
tập sống gồm 70 chủng loại tre trên thế giới, từ giống nhiệt đới cho tới loài xứ
lạnh. Ấy là khu Vườn Tre (Bamboo Garden) của trường Foot Hill College thuộc
thành phố Los Altos, Bắc California. Đi dạo trong đó, bạn sẽ không nghĩ rằng
ḿnh đang sống trên đất Mỹ. Cây tre gắn bó với dân ta là thế từ bao đời nay,
nhưng có lẽ nó quen thuộc quá đến độ hóa nhàm nên chẳng ai buồn quan tâm làm
chi, trong khi Mỹ lại có một hiệp hội có tầm vóc quốc gia, qui tụ những người
yêu tre muốn hiểu biết về tre, American Bamboo Society, Hội Tre Hoa Kỳ. Chắc tôi
phải vô hội này để nhớ về cây tre một cách tích cực hơn!
VƠ HƯƠNG-AN
San Jose, 6/03
art2all.net |