|
THẦY TÔI, BA TÔI
GS. Nguyễn Đ́nh Hàm ( 1912 - 1998) Nguồn h́nh: huevabanghuu
Trong ba năm làm học tṛ Quốc Học th́ hết hai năm tôi ở dưới trào của thầy Hiệu trưởng Nguyễn Đ́nh Hàm. Tôi học ban B (Toán) mà ông lại dạy toán ban C (Sinh ngữ) nên không được thụ giáo cái môn sở trường vốn làm cho ông nổi tiếng là thầy dạy hay. Vậy là mất đi một cơ hội gần gũi. Tôi cũng không có khiếu văn nghệ hay hoạt động này nọ để có dịp thường xuyên gặp mặt, để được thân mật gọi ông là Papa như một số các bạn có tài và mau miệng khác. Chả là ông có hai cô con gái lớn đang học tại đó, Minh Cầm, Minh Lệ. Gọi Papa, vừa tỏ ra thân mật vừa gián tiếp nịnh ông là người đạo đức, hiền hậu cũng được, mà muốn nhắm một trong hai cô cũng không ai bắt bẻ ǵ. Anh nào sáng tác ra cách gọi ấy thật đáng mặt cao thủ. Lần duy nhất mà tôi được làm việc hai ngày liền gần mặt trời là bỗng không được kêu cùng Phan H. T. lên pḥng Hiệu trưởng để giúp . . . gói phần thưởng ! Phải chờ hai năm sau, khi theo học Đại Học Sư Phạm Huế tôi mới có dịp được gọi ông bằng Thầy với đầy đủ ư nghĩa thâm thúy và trân trọng của nó khi ông giảng dạy môn Luân lư chức nghiệp. Và đó cũng là cơ hội thiên định giúp tôi có thể chuyển “gamme” một cách ngon lành từ Thầy sang Ba khi cô thứ hai trở thành “mẹ các cháu” sau này. Trong dịp tiễn đưa ba tôi rời chức vụ Hiệu trưởng Quốc Học để trở về lại bên hành chánh nhận nhiệm vụ mới, toàn thể giáo sư và nhân viên trường Quốc Học đă có nhă ư tặng một bức hoành phi với bốn chữ “Thiện Chính Thiện Giáo” (Quan tốt, Thầy hay) và đôi liễn: Chính giáo
lưỡng đồ, khứ lộ lai lộ, Tác giả bức hoành bốn chữ và đôi liễn không ai khác hơn là Cha Thích. Khi cuốn băng ghi âm buổi tiệc được thầy Chương dạy Anh văn mở ra, nghe ông cụ đọc hai câu liễn, tụi trẻ dốt chữ Nho chúng tôi đă cười ồ lên, b́nh luận ngay “ Ui chao, mần chi mà cha lộ tới lộ lui hoài rứa (?)” Măi sau này, khi đă trở thành rể con trong nhà, qua những lần chuyện tṛ tâm sự, hiểu được quăng đời đă đi qua của ba tôi, tôi càng thêm phục Cha Thích là bậc túc Nho. Trong vơn vẹn có hai mươi chữ mà gói đủ cuộc đời một người, từ khả năng, đức độ cho đến những thay đổi thăng trầm trong cái không biến dịch của nghĩa t́nh qua năm tháng. Ngày xưa, các nhà Nho thường lấy câu “Tiến vi quan, thối vi sư” làm phương châm ứng xử trong ḍng đời trôi nổi; bất cứ trong hoàn cảnh nào, dù thịnh hay suy cũng đều có cách cống hiến khả năng cho xă hội. Ba tôi thuộc thế hệ tiếng Tây giỏi hơn tiếng Ta nhưng xem ra cuộc đời ông không khác mấy nhà Nho xưa. Có thể trong số các anh các chị đă từng học với ông hẳn có người không thể ngờ rằng ông thầy của ḿnh trông hiền hậu nho nhă, cốt cách nhà giáo đó lại xuất thân là một nhà hành chánh, đă từng đeo bài ngà, mặc áo gấm và được dân ṿng tay “bẩm quan”, và cho tới lúc nghỉ hưu cũng vẫn dưới danh nghĩa hành chánh. Trước khi trở thành Giáo sư Nguyễn Đ́nh Hàm, Thầy Hàm, ông đă từng làm Tri phủ Quảng Trạch, Thương tá các tỉnh Lâm Đồng, B́nh Thuận, Ninh Thuận v.v. Toàn là những danh xưng dễ gặp trong tiểu thuyết Tự Lực Văn Đoàn nhưng rất xa lạ với t́nh cảm tuổi học tṛ. Xuất thân từ hành chánh, đă từng ông nọ ông kia, rồi chán nghề hành chánh nên xin biệt phái qua giáo dục và trở thành một nhà giáo rất thành công, được tṛ yêu bạn mến. Cứ tưởng cuộc đời yên vui như ư, nhưng rồi lại ở vào thế chẳng dặng đừng, phải tuân lệnh trên mà trở về con đường hành chánh trước kia với rất nhiều lưu luyến. Đó là tất cả những ǵ Cha Thích đă gói ghém trong câu “Chính giáo lưỡng đồ, khứ lộ lai lộ” (Hành chánh và giáo dục, hai đường, trở qua trở lại). C̣n câu thứ hai, “Sư sinh nhất niệm, tích xuân kim xuân” là hàm ư rằng t́nh thầy tṛ xuân trước xuân này, dù thời gian qua cũng không bao giờ thay đổi. Sau năm 1975,
ba tôi có một tài sản tinh thần mà ông rất trân trọng, đi đâu cũng không rời, đó
là tập lưu bút của bạn bè và học sinh cũ (tiếc thay, tập lưu bút này đă bị mất
cắp theo túi hành lư trên một chuyến tàu Huế-Đà Nẵng). Có lần được đọc trong đó,
tôi thấy Tiến sĩ Dương Thiệu Tống, cựu giáo sư Anh văn của trường Quốc Học, có
ghi một nhận xét rằng ba tôi là “nhà sư phạm bẩm sinh”. Ư thầy muốn nói rằng tuy
không được đào tạo một cách chính qui để làm nhà giáo nhưng ba tôi vẫn hội đủ
khả năng và đức độ của một nhà giáo và là nhà giáo thành công. Thầy Tống đỗ Tiến
sĩ giáo dục; nhận xét của thầy hẳn phải có căn cứ. Riêng tôi, chỉ nh́n cách ba
tôi giảng bài cho mấy đứa em trong nhà cũng cảm nhận được điều đó: điềm đạm,
kiên tŕ dẫn dắt đối tượng đi cho tới đích là hiểu được bài giảng mới thôi . . .
Sau khi rời giáo dục, ông đă đúc kết kinh nghiệm giảng dạy để viết và xuất bản
bộ sách Toán trung học, trong đó cuốn Phương pháp giải Toán H́nh học phẳng lớp
Đệ Tam (lớp 10) rất được nhiều người, thầy cũng như tṛ, sử dụng, v́ được tŕnh
bày một cách giản dị dễ hiểu. Phải chi cuốn sách này ông ra sớm sớm, hồi tôi c̣n
học Đệ Tam thi đở khổ cho tôi biết mấy. Tiếng học ban B nhưng tôi lại không ưa
h́nh học phẳng và lại càng không ưa cách tŕnh bày của Brachet. Chỉ khoái
Lebossé (những tác giả viết sách giáo khoa Tóan thời đó) . Ngày nay, mặc dầu đă ở vào cái tuổi có cháu gọi bằng ông, nhưng mỗi lần nhớ đến lễ Kỷ niệm đó, tôi vẫn bồi hồi nghe lại đâu đây cái cảm tưởng háo hức thích thú khi xem pḥng triển lăm trên lầu với những hiện vật văn hóa quí hiếm, và cái cảm xúc hào hứng, hănh diện, của đêm văn nghệ với vở kịch ṇng cốt “Giảng sách dưới trăng” diễn ở sân khấu nhà chơi. Xem lại những h́nh ảnh thời đó trong tập album của ba tôi, thấy toàn là những gương mặt trẻ măng, búng ra chất học tṛ, rất đúng nghĩa “bạch diện thư sinh”, vậy mà sao làm văn nghệ tài t́nh thế ? Rất nhà nghề, rất nghệ thuật. Sau này, mặc dầu có nhiều dịp thưởng thức Đại nhạc hội, rất thích thoại kịch, tôi vẫn giữ nguyên cái cảm tưởng đó về đêm văn nghệ Quốc Học 60 tuổi. C̣n Trại Tết Thiên An. Th. ơi, cụ mi có nhớ bữa chiều hôm đó tụi ḿnh nấu món chi không? Làm gà trong cái vũng nước lắm đĩa, đứa nào cũng ghê, nhưng đến bữa cơm th́ không c̣n sót miếng nào. Tàn đêm lửa trại văn nghệ, một bầy năm sáu đứa kéo nhau vô lều thách đánh cờ tướng tới sáng. Nửa đêm, trời lạnh, thằng Đ. trúng gió, chảy nước miếng như chó dại, làm cả bọn hoảng hồn. Sáng hôm ấy, giả định là sáng mồng một Tết, học tṛ quần trắng áo dài đen, như những thế hệ trước 1945, tập họp trên đồi chúc Tết quí thầy cô. Ai là tác giả màn này, quên mất. Trước Tết Mậu Thân (1968), tôi vẫn c̣n giữ được một tấm ảnh của buổi sáng trang trọng ấy. Bước vào thập niên 70, ba tôi lại có niềm đam mê mới, ấy là thành lập cho được Hội Áii Hữu Quốc Học để làm cơ sở thắt chặt t́nh đồng môn giữa các thế hệ. Sau khi Hội thành h́nh, ông đă đi lại không biết mệt từ Đà Nẵng cho đến Nha Trang, Đà Lạt, Sàig̣n. . . để thành lập các chi hội. Để đi đây đi đó làm việc ái hữu mà không phải dùng đến ngân khoản khiêm tốn của Hội, ba tôi đă sử dụng mọi phương tiện di chuyển có được do thân hữu hay học tṛ cũ giúp đở, từ máy bay USAID cho đến loại thám thính “bà già”, trực thăng, hay các loại phi cơ vận tải nhà binh như C123, C130 . . . Có lần từ Nha Trang trở về bằng máy bay quân sự, ông kêu van mệt, nhức đầu v́ máy bay không đi thẳng từ Nha Trang về Đà Nẵng mà c̣n bay ṿng ṿng lên Pleiku rồi về Phú Bổn cái đă. Thấy mặt ông đỏ bừng bừng như diễn viên đóng vai Quan Công, tôi biết là dấu hiệu của huyết áp lên cao, vội thúc uống thuốc và nghỉ ngơi cho ổn định và lại sức. Lại có lần bị tai nạn xe hơi, chấn thương xương chân, tôi vội vă hộ tống về Huế tĩnh dưỡng thuốc men mấy tuần liền mới b́nh phục. Tất cả những cái đó vẫn không làm nản chí ba tôi trong việc đi lại xây dựng các chi hội. Bên cạnh niềm vui đó, ba tôi c̣n cùng các đệ tử tâm đầu ư hợp và nhiệt t́nh ở trường Quốc Học lo thu góp bài vở, vận động tiền bạc, ra cho được mỗi năm một đặc san, mang tên Ái Hữu Quốc Học, để làm phương tiện thông tin liên lạc giữa các đồng môn. Đọc những bài của các cụ Lê Thanh Cảnh, Lê Đ́nh Phu. . . viết về ngôi trường xưa, không những thấy được một chặng đường của ngôi trường cổ kính mà c̣n thấy được cả bóng dáng một thời lịch sử của đất nước. Hồi đó, tôi
đă định cư ở Đà Nẵng. Lâu lâu mới về Huế thăm nội ngoại, cũng như ghé tạt qua
chứ không ở lâu, nên việc ở Huế không rành. Tuy vậy, qua chuyện tṛ giữa hai bố
con, qua giọng nói sôi nổi của ba tôi khi kể việc AHQH, qua những lời ngợi khen
không tiếc lời của ông đối với các anh chị học sinh cũ, bấy giờ đă là những bậc
vai vế trong xă hội, trong việc nhiệt t́nh góp tay xây dựng Hội, tôi nhận ra
rằng đó là thời gian hạnh phúc và hứng khởi nhất trong đời ông. Bốn mươi năm trước, ba đứng ra tổ chức Kỷ niệm 60 Năm Quốc Học ở chính nơi ngôi trường sinh ra và lớn lên. Buổi lễ được đặt dưới sự chủ tọa của vị nguyên thủ quốc gia, có cờ xí trống kèn, quan khách VIP từ trung ương đến địa phương. Rồi học tṛ mới cũ biết bao thế hệ cùng họp mặt, đông vui chưa từng có; lại có cả những hoạt động văn hóa văn nghệ hào hứng đủ để ấm ḷng lớp học tṛ bô lăo và hâm nóng những hy vọng tương lai cho lớp hậu sinh trong niềm hănh diện chung. . . Tính lại, lúc đó ba mới già bốn mươi, tóc chưa một sợi đổi màu, và tụi con chưa qua cái ải Tú tài. Năm nay, Quốc Học của chúng ta tṛn 100 tuổi. Ba th́ nay tóc đà trắng xóa, tai không c̣n nghe được tiếng gọi “Ông Cố” của cháu Jenny Phương Nhi và mắt nh́n cháu cười hẳn cũng nhạt nḥa không rơ nét. Đêm ngủ không trăn trở nhưng thỉnh thoảng thức giấc không khỏi chạnh nhớ đến con cháu, bạn bè, học tṛ cũ nay đang ở phương xa. Con không
biết tại nơi ngôi trường xưa người ta sẽ tổ chức những ǵ và liệu những màu sắc
khác nhau do thời thế tạo nên có chống chỏi nhau trong bức tranh
kỷ niệm chăng.
. . . . . Điều con biết chắc là cái mốc Một Trăm Năm này sẽ làm sống dậy ở nơi
ba những hồi ức của bốn mươi năm về trước, khơi lên những thất vọng và những kỳ
vọng. Một trong những kỳ vọng đó đang h́nh thành ở San Jose, thành phố tụi con
đang ở, nơi được hết thảy các anh chị em cựu học sinh QH-ĐK ở Mỹ chọn làm địa
điểm đăng cai tổ chức Kỷ niệm 100 Năm Quốc Học . . .Có thể h́nh thức thể hiện
không linh đ́nh không hấp dẫn như mấy mươi năm xưa ở quê nhà, nhưng điều chắc
chắn là lai láng t́nh hoài niệm và hoài hương – một điều mà bốn mươi năm về
trước ba và tụi con không thể nào h́nh dung có ngày như thế -- và vẫn bừng bừng
ngọn lửa Quốc Học thuở nào. . . oOo Đọc bài này, các bạn không từng biết ba tôi hẳn có khi mỉm cười “Ấy, lại mẹ hát, con khen hay”. Có thể vậy, nhưng tôi thiệt t́nh nghĩ răng nói rứa. Trong hơn ba mươi năm làm rể con, điều tôi học nhiều nhất ở thầy tôi, ba tôi là tính độ lượng của ông. Hầu như tôi chưa thấy ông chê ai bao giờ. Khi nào ông cũng t́m thấy một điểm tốt của người ta để nói tới; có khi ông khen cả người mà tôi biết rơ đang lợi dụng ông. Ông thật thà quá chăng? Có thể, nhưng điều chắc chắn là trong cái nh́n độ lượng đó, ông đă tránh được những dằn vặt dễ làm thương tổn thân tâm. C̣n với con cháu, bao giờ ông cũng gieo một niềm tin ở hạt giống đạo đức và thắp sáng lạc quan. Năm nay, ba
tôi đă 84, nhờ trời, vẫn c̣n mạnh khỏe, dù tai điếc đặc và huyết áp cao, nhưng
ăn ngủ được và vẫn lấy sách báo làm bạn. Hàng ngày, theo thư ba tôi viết, tới
giờ, thường ra hiên ngồi chờ ông đưa thư. Lẫn trong thư con cháu ở xa mà có thư
của cựu môn sinh, thật là niềm vui lớn. Niềm vui được sống lại với quá khứ êm
đềm. Niềm vui không bị lăng quên. Mà con nghĩ có ai quên ba mô? Mấy anh mấy chị
gặp vợ chồng con, luôn luôn hỏi thăm “Thầy có khỏe không?”
|