|
Vơ Hương An
VUA TỰ ĐỨC
CON AI
Thân tặng anh Đỗ Ái,
để nhớ những ngày khoai sắn với nhau ở Tiên Lănh.
Một
hôm đang cong lưng nhổ sắn trên đồi, một anh bạn cùng đội bỗng cao hứng hỏi:
‘Anh hay kể chuyện sử, vậy anh có biết chuyện người ta đồn rằng vua Tự Đức là
con của ông Trương Đăng Quế không? Anh có tin vậy không?” Tôi cười: “À, chuyện
đó th́ tôi có nghe, nhưng tin th́ chưa tin, thiên hạ phịa chuyện thiếu ǵ, cần
phải t́m hiểu cặn kẽ mới tạm thời kết luận được. Có điều về chuyện này, có lần
đem ra hỏi thầy tôi th́ ông cụ lại kể cho tôi nghe một chuyện liên hệ về phong
thủy mà ông có vẻ tin là thật, điều này mới làm cho tôi đặt ra nhiều nghi vấn."
-Chuyện ra sao?
-Thôi ông ơi, để dịp khác, nhổ sắn mệt thấy cha mà kể nổi ǵ.
Kể từ đó, hơn hai mươi năm đă trôi qua, nay mới có dịp trở lại đề tài này.
Trương Đăng Quế là ai?
Đó là một gương mặt lớn dưới triều Nhà Nguyễn, một vị đại thần trụ cột trải qua
4 đời vua: khởi nghiệp làm quan vào cuối đời Gia Long (1802-1820), rồi dần dần
thăng quan tiến chức đến tột đỉnh danh vọng dưới các triều Minh Mạng
(1820-1840), Thiệu trị (1840-1847) và Tự Đức (1847-1883). Trong Đại Nam Nhất
Thống Chí (tỉnh Quảng Ngăi), mục Nhân Vật, sử thần Nhà Nguyễn đă ghi vắn tắt
tiểu sử của ông như sau:
“Trương Đăng Quế: người huyện B́nh Sơn, đỗ hương cống đời Gia Long. Đăng Quế là
người khai khoa hương tiến ở Quảng Ngăi. Đầu đời Minh Mệnh sung Đông cung bạn
độc, sau thăng chức Binh bộ Thượng thư sung Cơ mật đại thần, năm thứ 14 gia Thái
tử thiếu bảo, năm thứ 15 sung chức Kinh lược đại sứ, đi khám đạc ruộng đất ở sáu
tỉnh Nam kỳ, thăng Hiệp biện đại học sĩ, vẫn giữ công việc Binh bộ; năm thứ 17
sung Kinh lược đại thần ở Thanh Hóa, đánh tan thổ phỉ, khi trở về vẫn giữ chức
cũ; năm thứ 20 tấn phong tước Tuy Thạnh Nam; năm thứ 21 vâng cố mệnh sung Phụ
chính. Năm Thiệu Trị thứ 1, v́ có công giúp rập, thăng thự Văn minh điện Đại học
sĩ, gia Thái bảo, quản lư Binh Bộ kiêm Cơ Mật Viện, lại kiêm Quốc Sử Quán Tổng
tài, tấn phong Tuy Thạnh Tử. Lại xét thấy Đăng Quế có nhiều công trù hoạch về
việc b́nh định Trấn Tây, khi đúc súng để biểu dương công lao, tên Đăng Quế được
khắc vào khẩu súng Bảo đại định công, là khẩu súng đứng hàng thứ nhất. Ngày
tháng 9 năm thứ 7, vâng danh hiệu Cố mệnh lương thần, sung Phụ chính. Năm Tự Đức
thứ 1, thăng Cần chánh điện Đại học sĩ, tấn tước Quận công, sung giảng quan ở
Kinh Diên. Sau đó v́ già yếu, cố xin nghỉ, về quê chết, thọ 73 tuổi. Đăng Quế
trải thờ bốn triều, hơn 40 năm giữ việc cơ yếu, được tặng Thái sư, cho thụy là
Văn Lương, thờ phụ ở Thế Miếu. Có tập Học Văn hành thế.”
Ai đă đọc các bộ chính sử của Nhà Nguyễn (Đại Nam Thực Lục, đệ nhị, đệ tam và đệ
tứ kỷ, hoặc Quốc Triều Chánh Biên toát yếu) đều có thể thấy toát lên một điều
rất rơ ràng là cả ba đời vua, từ Minh Mạng, Thiệu Trị, đến Tự Đức đều có một sự
tin tưởng, tín nhiệm, trọng nễ và ưu ái đặc biệt đối với Tuy Thạnh Quận Công
Trương Đăng Quế. Chính v́ vậy mà trước khi nhắm mắt, vua Minh Mạng đă đặc biệt
giao trọng trách pḥ tá người con kế vị là vua Thiệu Trị cho ông với sắc phong
Cố Mạng Lương Thần kiêm Phụ Chính Đại Thần. Bảy năm sau, trước khi băng hà, vua
Thiệu Trị cũng đă lặp lại điều đó, khi đặt hết tin tưởng nơi vị lăo thần này
trong việc pḥ tá vua mới Tự Đức. Chính v́ vậy mà vua Tự Đức đă phong tặng ông
danh hiệu Lưỡng Triều Cố Mạng Lương Thần vào năm 1850, năm Tự Đức thứ 3.
Khi chấp thuận cho ông Trương Đăng Quế nghỉ hưu, vua Tự Đức đă tổ chức tiễn đưa
rất là trọng thể: nào làm thơ tặng, nào ban ngự tửu và các loại thuốc quí, lại
bảo các quan đưa tiển. Toàn bộ hệ thống cung trạm và quan địa phương trên đoạn
đường từ Huế đến quê nhà ông ở Quảng Ngăi được lệnh phải lo cung đốn phương tiện
di chuyển và ăn ở. Vua cho phép ông trong thời gian nghỉ hưu hễ thấy có vấn đề
ǵ ích nước lợi dân th́ được dâng mật sớ lên vua và quan tỉnh có bổn phận phải
chuyển đệ sớ này về kinh theo hệ thống cung trạm. Quan tỉnh cũng được lệnh phải
thường tới lui thăm viếng, và nếu gặp vấn đề khó giải quyết, phải tới thỉnh thị
ư kiến của lăo thần họ Trương v.v. Khi Trương Đăng Quế mất, vua cho “ṭng tự Thế
Miếu.” . Đó là một vinh dự rất lớn, chỉ dành cho các đại công thần, những người
mà quốc gia phải tri ân và thờ phụng.
Người ta đồn rằng . . .
Người ta đồn rằng bà Từ Dũ, vợ vua Thiệu Trị, và bà vợ của ông Trương Đăng Quế
là hai chị em ruột, có mang và sinh con trai cùng thời. Lợi dụng việc này, ông
Quế đă thực hiện âm mưu tráo con với ư đồ táo bạo về sau. Lấy cớ thăm chị, bà
Trương Đăng Quế bế theo con trai vào cung và khi về đă đánh tráo con của bà Từ
Dũ. Người ta nói rằng Hoàng tử Hồng Nhậm, về sau là vua Tự Đức, chính là con ông
Trương Đăng Quế vậy. Người ta c̣n dặm thêm rằng cứ nh́n vua Tự Đức th́ biết; vua
không trắng trẻo, đẹp trai như hàng lá ngọc cành vàng thường có, mà nước da lại
ngăm ngăm, thêm mặt hơi rổ hoa v́ hậu quả của bệnh đậu mùa hồi c̣n bé, nên mặt
rồng chẳng ra dáng vương giả chút nào. Đă thế lại thể tạng yếu đuối, không có
con nối dơi.
Lần nọ, tôi đem tin đồn này ra hỏi thầy tôi th́ ông cụ không những xác nhận có
biết về tin đồn đó mà c̣n kể thêm một câu chuyện về phong thủy liên hệ đến ḍng
họ Trương ở Quảng Ngăi như một trả lời gián tiếp bằng dẫn chứng về sự ứng nghiệm
của phong thủy trong đời người. Câu chuyện như thế này :
Thuở hàn vi, thân phụ của ông Trương Đăng Quế nhà nghèo, làm nghề đưa đ̣ ngang
Một hôm, có một người Tàu tới nơi th́ đ̣ đă rời khỏi bến. Ông ta gọi đ̣, năn nỉ
xin qua v́ gấp việc, thân phụ ông Quế đă chịu khó quay đ̣ trở lại rước khách. Đă
thế lại c̣n không lấy tiền đ̣, v́ thấy ông ta có vẻ là một “ông thầy Tàu” chứ
không phải người buôn bán tầm thường. Vài hôm sau, chừng như xong công việc,
người Tàu đó trở lại, nói với thân phụ ông Trương Đăng Quế rằng “Tôi coi tướng
ông phúc hậu, tuy nghèo nhưng không tham, lại biết trọng người. Tôi làm thầy địa
lư đă lâu, qua vùng này, biết ở đây có một cuộc đất rất tốt, phát công danh phú
quí đến bậc đế vương, nhưng rồi tuyệt tự. Theo sách vở, th́ đó là huyệt:
Nhất đại tầm thường,
Nhị đại phát văn chương,
Tam đại phát đế vương,
Tứ đại tuyệt.
(Đời thư nhất chỉ tầm thường thôi. Nhưng đến đời thứ hai th́ phát về sự nghiệp
văn chương, có người đỗ đạt cao. Đời thứ ba phát đến bậc đế vương. Nhưng đến đời
thứ tư th́ tuyệt tự)
Nếu ông muốn th́ tôi làm giúp cho, gọi là trả cái ơn đăi ngộ của ông.”. Thân phụ
ông Trương Đăng Quế ngẩm nghĩ một lát rồi xin nhận, v́ thà huy hoàng một đời c̣n
hơn gia đ́nh cứ quanh quẩn trong cảnh làm thuê làm mướn măi Thế là ông thầy địa
lư Tàu đă giúp thân sinh ông Trương Đăng Quế (đời thứ nhất) cải táng ngôi mộ của
thân phụ ông ta vào cái huyệt mă đặc biệt đó. Sau đó sinh ra ông Quế (đời thứ
hai), thông minh học giỏi, đỗ đạt, làm quan to ba triều. Ông Quế sinh ra vua Tự
Đức (đời thứ ba) và vua Tự Đức không có con nối gịng (đời thứ tư), phải nuôi
các cháu gọi bằng bác làm con, “ Tứ đại tuyệt”, đúng y như thầy địa lư đă nói.
Đâu là sự thật?
Cái tin đồn về thân thế của vua Tự Đức có liên hệ đến ông Trương Đăng Quế, tôi
đă được nghe hồi c̣n đi học đệ nhị cấp (cấp 3 bây giờ), nhưng nghe qua rồi bỏ,
v́ thấy chẳng có ǵ hấp dẫn, v́ nó cũng thuộc loại tin đồn kiểu như nói rằng vua
Bảo Đại không phải là con của vua Khải Định mà là con của ông này ông kia v.v.
Nhưng về sau, khi trưởng thành hơn một chút, lại có ư thích t́m hiểu lịch sử,
nhớ lại chuyện cũ nên mới đem ra hỏi thầy tôi th́ được nghe câu chuyện vừa kể.
Quả t́nh câu chuyện có vẻ hấp dẫn v́ chi tiết mới lạ, nhưng không phải dễ tin.
Nhẩm tính cái tuổi của thầy tôi (ông cụ sinh năm 1897) th́ tôi biết rằng hẳn cụ
cũng chỉ nghe ai kể lại chuyện đó mà thôi, nên tôi muốn thử t́m xuất xứ ra sao,
bèn hỏi:
-Chắc ông Giám Tâm kể chuyện đó cho thầy nghe? (ông này là Thái giám trong cung
cấm, biết nhiều chuyện thâm cung bí sử, thường kể cho thầy tôi nghe)
Thầy tôi đáp ngay:
-Không, chuyện này do ông nội kể. Cố kể cho ông nội nghe, rồi ông nội kể lại cho
thầy.
Chính cái xuất xứ này làm cho tôi suy nghĩ : câu chuyện thực hư như thế nào mà
truyền miệng trong gia đ́nh quan lại đến đời tôi là bốn đời?? Ông cố tôi làm Thị
lang Bộ Hộ triều Tự Đức (1848-1883), có con gái gả cho vua Dục Đức (1852-1883),
bà được phong làm Nhị giai Triêm phi. Bà là thân mẫu của ông Bửu Liêm, tục gọi
là ông Hoàng Mười, mà Phủ ông Hoàng Mười nay là trường Trung học Gia Hội. Ông
nội tôi là Công Bộ Tá chức đời Đồng Khánh (1884-1888), Thành Thái (1888-1911) Và
thầy tôi, húy Vơ Văn Lang (1897-1977) là Nhất đẳng Thị vệ cuối cùng của Nhà
Nguyễn. Câu chuyện không phải được lưu truyền trong dân chúng mà lại được lưu
truyền trong giới quan lại triều đ́nh. Điều ấy chứng tỏ nó phải có một cơ sở
đáng tin nào đó nên mới có một hấp lực như thế. Vậy th́ sự thật ở đâu ? Đó là
một nghi án mà tôi rất muốn giải quyết nhưng chưa có cơ hội thuân tiện.
Muốn làm sáng tỏ vấn đề này, theo tôi nghĩ, ít ra cũng cần phải làm rơ những
điểm căn bản này:
1) Giữa gia đ́nh ông Trương Đăng Quế và bà Từ Dũ có mối liên hệ nào chăng??
2) Ông Trương Đăng Quế có người con trai nào cùng tuổi với vua Tự Đức không?
3) Vào thời điểm người ta nói đến vụ tráo con, liệu ông Quế có đủ quyền uy và
thế lực để thực hiện âm mưu đó không? . . .
Những nghi vấn vừa nêu có thể được giải quyết nếu có được trong tay một tài liệu
quan trọng, ấy là gia phả họ Trương ở Quảng Ngăi. Chờ măi mấy mươi năm th́ cơ
may đó đă đến với tôi khi được anh chủ biên niên san Tiếng Sông Hương (Dallas,
Texas) cho tham khảo cuốn gia phả đó (ấn bản Ronéo, khổ nhỏ, 1990, do Ban Trùng
Tu Gia Phả Trương Tộc biên soạn và ấn hành ở Việt Nam) trong Tủ Sách Tiếng Sông
Hương.
Theo đó, thủy tổ họ Trương Đăng từ Hà Tĩnh vào định cư tại Mỹ Khê, Quảng Ngăi,
đến đời thân phụ ông Trương Đăng Quế – cụ cố Trương Đăng Phác - là đời thứ 6.
Cụ Phác (1758-1801) đă từng làm Tri huyện Mộ Hoa (Mộ Đức) Quảng Ngăi, dưới thời
Tây Sơn; khi Nguyễn Vương ( vua Gia Long sau này) chiếm lại Quảng Ngăi, ông được
lưu dung và làm đến Hữu Tuyên Vũ, phủ Quảng Ngăi. Ông sinh được 4 nam, 4 nữ,
trong đó, ông Trương Đăng Quế là con thứ ba.
Như vậy thân phụ ông Trương Đăng Quế đâu có phải xuất thân dân dă tầm thường như
câu chuyện phong thủy đă kể?
Ông Quế có sáu bà vợ:
- Bà Tiên thất phu nhân tên Bùi Thị Hương, là con gái của ông Tiền quân Tây Sơn
họ Bùi;
- Bà Chánh thất Nhứt phẩm phu nhân là Ngọc Lê Quận chúa, con gái ông Phước Long
Công. Bà là em thúc bá vua Gia Long.
- Bà Như Phu nhân Nguyễn Thị Đặc, không rơ lư lịch;
- Bà Như Phu nhân Trần Thị Đức, không rơ lư lịch;
- Bà Như Phu nhân Ngô Thị Đắc, không rơ lư lịch;
- Bà Như Phu nhân Lê Thị Hạnh, không rơ lư lịch.
Ông và các bà sinh được 12 nam, 9 nữ.
Sử cho ta biết rằng bà Từ Dũ (1810-1901), vợ vua Thiệu Trị (1841-1847), thân mẫu
của vua Tự Đức (1847-1883), là con gái ông Phạm Đăng Hưng ( 1765-1825) người G̣
Công. Ông Hưng là Lễ Bộ Thượng thư, khai quốc công thần triều Gia Long. Bà húy
là Phạm Thị Hằng, nổi tiếng là người có học vấn và đức hạnh, nên mới 15 tuổi đă
được bà Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu (vợ thứ hai của vua Gia Long, thân mẫu vua
Minh Mạng) tuyển vào cung.
Như đă nêu, trong các bà vợ của ông Quế, không có ai họ Phạm cả. Vậy căn cứ
vào đâu mà nói rằng vợ ông Quế và bà Từ Dũ là chị em ruột ???
Trong các người con trai của ông Quế, có hai người được lưu danh trong sử sách.
Đó là ông Trương Quang Đản (1833-1913), con của bà Ngọc Lê Quận chúa, tài kiêm
văn vơ, và cũng như cha, làm quan đến tột phẩm triều đ́nh. Ông Đản có 7 bà vợ,
trong đó, bà thứ hai, Nhị phẩm phu nhơn Phạm Thị Hiệp là cháu bà Từ Dũ. Đây là
một chi tiết đáng lưu ư.
Người thứ hai là ông Trương Quang Để (1837-1886), làm quan đến Tham tri Bộ Binh,
có nhiều chiến công, từng pḥ vua Hàm Nghi ra lập căn cứ chống Pháp ở Hà Tĩnh,
sau tử tiết.
Rơ ràng cả hai ông này đều nhỏ tuổi hơn vua Tự Đức (sinh 1828, đời Minh Mạng)
Người cùng tuổi với vua Tự Đức là ông Trương Đăng Trụ (1828-1902) con trai thứ
hai của ông Quế và bà Tiên thất Bùi Thị Hương. Ông trụ có 4 bà vợ, trong đó bà
vợ chính là công chúa An Mỹ, con thứ tư của vua Thiệu Trị, v́ vậy, ông được
phong làm Pḥ Mă Đô Úy.
Ngoài ra, trong tộc phả họ Trương có ghi lại một câu chuyện phong thủy lư thú
vào đời ông Trương Đăng Hưng (1650-1720), vị tổ thứ hai của Trương tộc ở Mỹ Khê,
Quảng Ngăi. Câu chuyện được ghi lại trong gia phả như sau:
Nguyên ông có sự nghiệp riêng, bên vườn nhà có một cây đại thọ bị trốc gốc sau
một cơn băo lớn, và ông đă phát hiện tại đây một chum vàng. Ông đem về chôn lại.
Hơn mười năm sau, hôm nọ, bỗng có một người Tàu lạ, từ xa đến nơi này, đi qua
lại nhiều lần như có ư t́m một vật ǵ. Ông vội đến hỏi th́ người này đem sự thật
tŕnh bày, sau đó lại đưa tờ chúc thư của ông bà người ấy để lại, cho ông xem.
Sau khi xem xong, ông nói:
-Việc này quả có.
Rồi thành thật mời người Tàu về nhà để chỉ nơi chôn vàng.
Sau khi đào lên, xem xét lại, thấy số vàng vẫn c̣n y nguyên như chúc thư đă ghi,
nên quá khâm phục, rồi đề nghị tặng ông một nửa để tạ ơn, nhưng ông nhất mực từ
chối, ông nói:
-Đây là của cải của tiền nhân quí ông, lăo phu không lấy làm ǵ.
Bất đắc dĩ, người Tàu này quay heo làm lễ tạ thần linh rồi thết đăi mà than rằng:
-Ông Phước Thọ này tuy nghèo khó, dù được ngh́n vàng mà không đem dùng, nay tặng
cũng không nhận, cái thạnh t́nh này, ngh́n năm chỉ có một.
Xong xuôi, xin cáo biệt về nước.
Ba năm sau, người này trở lại, dẫn theo một thầy Địa lư danh tiếng người Tàu,
đến xin viếng ông và đề nghị t́m tặng ông một huyệt mộ đặc biệt để báo ơn ông,
và có câu khoán rằng:
“Giai thành thông thông, thế xuất hầu công.”
Tạm dịch: “Ngôi mộ này rất đẹp, đời đời có công hầu.”
Đó là ngôi MỘ LÙM, tọa lạc tại xứ G̣ Ra, thuộc xă Trà Sơn.
Đến đây, tôi thấy vấn đề đă sáng tỏ ra nhiều lắm: ấy là người ta đă trộn lẫn
thực và hư để phóng ra một tin đồn thất thiệt, nếu không nói là đầy ác ư, về vua
Tự Đức và ông Trương Đăng Quế.
Thật vậy, rơ ràng là giữa đại gia đ́nh của lăo thần họ Trương và bà Từ Dũ có
quan hệ thân t́nh, đó là cháu gọi bà Từ Dũ bằng cô là con dâu ông Quế ( chứ
không phải em bà Từ Dũ là vợ ông Quế). Rơ ràng là trong số các người con của ông
Quế, có người cùng tuổi với vua Tự Đức, nhưng không thể có sự đánh tráo được,
như sẽ dẫn chứng sau. Rơ ràng là trong tộc Trương có câu chuyện phong thủy liên
quan đến sự thịnh phát của ḍng họ, nhưng câu chuyện này thuộc đời thứ hai chứ
không phải đời thứ sáu của thân sinh ông Quế, và không có cái huyệt nào gọi là
“Tứ đại tuyệt”.cả
Bây giờ, xin thử phân tích khả năng đánh tráo con. Vua Tự Đức sinh năm 1828, đời
Minh Mạng. Vua Minh Mạng là một ông vua nổi bật nhất của Nhà Nguyễn, rất có đầu
óc tổ chức, kỹ cương, và quyết đoán. Chính vua đă lập ra Tôn Nhân Phủ để thống
nhất quản lư Hoàng tộc một cách chặc chẽ. Ngoại trừ vua Gia Long (vua đầu) và
vua Bảo Đại (vua cuối), các vua Nhà Nguyễn không có lệ lập thái tử. Vua kế vị
được chỉ định trong di chiếu và chỉ sau khi vua băng hà, di chiếu mới được mở ra
tuyên đọc để biết người kế vị là ai. Vua Minh Mạng mất năm 1841 và vua Thiệu trị
mất năm 1847, khi vua Tự Đức mới 19 tuổi.
Nếu ông Trương Đăng Quế có mưu đồ to lớn về sau nên bày ra việc tráo con như
người ta đă đồn đăi, th́ không những chúng ta ngày nay mà hết thảy mọi người mọi
đời phải nghiêng ḿnh bái phục ông Quế, bởi v́ ông là một Gia Cát tái sinh, tài
trí tuyệt vời, đă tiên liệu mọi chuyện, đă sắp đặt mọi việc từ 19 năm trước, lúc
mà ngay chính vua Thiệu Trị, lúc bấy giờ đang c̣n là hoàng tử Miên Dung, chưa
chắc đă biết ḿnh có được làm vua hay không !!!
Mặt khác, giả như ông Trương Đăng Quế có mưu đồ đó, th́ thử hỏi với địa vị của
ông lúc bấy giờ, khi vua Tự Đức mới ra đời (1828), có đủ tầm vóc để khuynh loát
Triều đ́nh, dám qua mặt một ông vua thông minh, sắc sảo và quyết đoán, như vua
Minh Mạng không?
Căn cứ vào vào gia phả, ông đỗ cử nhân vào cuối đời Gia Long, năm 1819, và khởi
nghiệp công danh với chức Hành tẩu Bộ Lễ. Chín năm sau, “Năm Minh Mạng thứ 9
(1828) nhận chỉ dụ giao sang Bộ Lại, lo trách nhiệm hướng dẫn các quan mới chỉnh
đốn y phục vào bái kiến, sung chức Hành tẩu Văn Thư Pḥng. Cũng năm ấy, sung
chức Quản lư Công việc Văn Thư Pḥng. Tháng 10 thăng Thượng bảo Thiếu khanh (thấp
hơn Hường lô Thiếu khanh môt bậc), giữ công việc Quản Cai Pḥng.” (Trương Tộc Hệ
Phả, Hệ 7, tr.5) Với chức vụ này, theo quan chế Nhà Nguyễn, th́ ông mới chỉ là
quan Ngũ phẩm, nghĩa là quan bé chứ chưa phải là quan lớn, hàng đại thần. Không
thể nào có chuyện một ông quan mới vào hàng Ngũ phẩm mà đă có mưu đồ soán đoạt
với tính toán lâu dài ghê gớm như vậy.
Mặt khác, việc tráo con, nếu xảy ra, hẳn phải có sự đồng lơa của bà Từ Dũ. Một
người nổi tiếng đức hạnh và tôn quân như bà Từ Dũ chắc chắn không bao giờ tán
trợ một việc làm điên đảo cương thường như thế.
Tóm lại, tin đồn nói rằng vua Tự Đức là con của ông Trương Đăng Quế hoàn toàn là
một tin bịa đặt đầy dụng ư. Cả câu chuyện phong thủy cũng nằm trong dụng ư loan
tin thất thiệt đó.
Một câu hỏi được đặt ra là: ai đă bịa chuyện như thế? Và, với dụng ư ǵ? Thiết
tưởng một chút lịch sử vào thời đó có thể giúp chúng ta một lời giải đáp.
Huynh đệ tương tàn
Khi vua Thiệu Trị băng hà (1847), người con trưởng là Hồng Bảo đă thất vọng đắng
cay v́ không được nối ngôi. Theo di chiếu, người kế vị là hoàng tử thứ hai, tên
Hồng Nhậm, tức vua Tự Đức sau này. Lư do là, Hồng Bảo, theo nhận xét của vua
Thiệu Trị, là người ham chơi, thiếu đức, lại con vợ thứ, trong khi đó hoàng tử
Hồng Nhậm tuy con thứ nhưng con bà vợ chính, lại nổi tiếng hay chữ và đức độ. Ư
đồ giành lại ngai vàng luôn luôn nung nấu trong đầu ông hoàng thất thế này và
thế lực nước ngoài là nơi ông muốn dựa vào để giành lại quyền bính từ tay người
em khác mẹ.
Tháng 1 năm 1851, ông toan trốn sang Singapore để cầu viện người Anh nhưng cơ
mưu bại lộ. Ông khóc lóc năn nỉ, nói với vua Tự Đức rằng nay ông nghèo khó nên
người ta khi dễ ông, có ư làm hại ông nên ông phải t́m nơi khác để sống chứ
không có ư ǵ khác. Vua Tự Đức không làm tội, lại an ủi và chu cấp tiền bạc để
sống cho ra vẻ hơn. Dầu vậy, An Phong Công Hồng Bảo vẫn âm thầm tổ chức tay chân
ở trong và ngoài nước để chờ cơ hội đảo chính. Năm 1855, do một người trong bọn
tố cáo, triều đ́nh đă phá vỡ được âm mưu nội ứng ngoại hiệp này và hốt trọn gói
. Để tránh tiếng “nồi da xáo thịt”, vua giao vụ án cho triều đ́nh luận tội (đ́nh
nghị) và Hồng Bảo bị kết án lăng tŕ. Vua Tự Đức giảm xuống c̣n chung thân, tịch
thu tài sản, cấm con Hồng Bảo không được mang họ Nguyễn Phước mà phải mang họ mẹ
là họ Đinh. Hồng Bảo v́ uất ức, xấu hổ, đă thắt cổ chết trong ngục. Nhưng sự
việc chưa phải chấm dứt ở đó. Mười lăm năm sau, nó lại được hâm nóng trở lại
dưới một h́nh thức khác.
Vua Tự Đức tuy không phải là hôn quân bạo chúa ǵ, nhưng dưới triều đại này hầu
như đất nước không có một ngày thanh b́nh. Nội loạn và ngoại xâm thay nhau diễn
ra khắp nơi. Ngay tại kinh đô, ba anh em Đoàn Trưng, Đoàn Hữu Ái và Đoàn Tư Trực,
lấy danh nghĩa pḥ tá Đinh Đạo (con của Hồng Bảo) lấy lại ngôi vị chính thống,
đă t́m cách lật đổ vua Tự Đức qua một biến cố thường được gọi là giặc Chày vôi.
Để thực hiện mưu đồ này, về chính trị, ba anh em họ Đoàn cùng Trương trọng Ḥa,
Phạm Lương, lập ra Sơn Đông Thi Tửu Hội để làm nơi gặp gỡ và qui tụ người cùng
chí hướng. Về quân sự, họ đă bí mật tuyên truyền và nắm được số quân lính và dân
phu đang xây dựng cơ sở Vạn Niên làm lực lượng ṇng cốt. Nguyên vua Tự Đức đang
cho xây lăng của ông tại vùng núi Vạn Niên, một đại công tŕnh thuộc loại “niên
công nguyệt công” nên phải tập trung rất đông quân lính và dân phu. Thống chế
Nguyễn Văn Xa chỉ huy công trường một cách hà khắc, thô bạo, đă tạo nên một nỗi
phẩn uất ngấm ngầm trong đám quân dân lao khổ. Điều này đă được phe họ Đoàn khai
thác triệt để, thể hiện qua câu ca dao c̣n truyền đến ngày nay:
Vạn Niên là Vạn Niên nào?
Thành phơi xương lính, hào đào máu dân.
Nửa đêm 16/9/1866 (8/8 Bính Dần) dưới sự chỉ huy của phe họ Đoàn, lực lượng dân,
quân Vạn Niên vơ trang bằng gươm giáo và chày giả vôi (v́ vậy mới gọi nôm na là
giặc Chày vôi) đă nổi dậy, lật đổ thống chế Xa và tay chân, rồi rùng rùng kéo về
kinh thành, xông vào Đại Nội quyết bắt cho được vua Tự Đức. Nhờ phản ứng kịp
thời của toán cận vệ dưới quyền chỉ huy của Chưởng vệ Hồ Oai, vua Tự Đức đă
thoát nạn trong đường tơ kẻ tóc và cuộc phản loạn bị đập tan ngay trong đêm đó
(1). Anh em họ Đoàn bị bắt, và khỏi
phải nói về số phận của phe chiến bại. Điều đáng nói là cả gia đ́nh Đinh Đạo đều
bị xử tử , dù không có bằng cớ tham gia trực tiếp vào vụ tạo phản.

Thuỷ tạ trong lăng Tự Đức
Chiến tranh tâm lư?
Không phải bước vào thời văn minh hiện đại mới có chiến tranh tâm lư. Điều này
cha ông chúng ta đă làm từ lâu. Chẳng hạn, vào thế kỷ 15, trong cuộc kháng chiến
chống quân Minh, Nguyễn Trăi đă cho người kín đáo lấy mật viết trên lá rừng mấy
chữ “Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trăi vi thần” (Lê Lợi làm vua, Nguyễn Trăi làm tôi).
Kiến lần theo vết mật mà ăn, tạo nên nét chữ lờ mờ một cách tự nhiên như do
thánh thần nào đó viết ra. Thế là một đồn trăm đồn ngàn và uy tín của Lê Lợi,
người được coi là thừa mệnh Trời làm vua, lên cao trong ḷng dân, một yếu tố
quan trọng góp phần trong cuộc chiến tranh giành độc lập. Hầu như không có ông
vua nào dựng nghiệp lại không có một huyền thoại thiên mệnh bao phủ . Nếu đă có
mánh lới tạo uy tín cho người cầm đầu thuộc phe ta th́ hẳn không thiếu ngón đ̣n
tâm lư nhằm hạ bệ đối phương.
Qua vụ án Hồng Bảo và giặc Chày vôi, vua Tự Đức rơ ràng là đối tượng của một sự
tranh chấp quyền lực. Và Trương Đăng Quế với hai lần vinh dự mang danh hiệu “Cố
mạng lương thần”, là người hổ trợ ṇng cốt cho quyền lực đó, nên cả hai cần phải
được hạ bệ uy tín . Chính v́ vậy mà trong cái tin đồn rỉ tai kia cả hai đều có
mặt khăn khít.
Qua tin đồn đó, người tung tin muốn cho người nghe hiểu ngầm rằng cặp bài trùng
Tự Đức-Trương Đăng Quế là hoàn toàn bất xứng trong địa vị cao tột của họ lúc bấy
giờ. Vua là thứ lộn ṣng, đánh tráo chứ chẳng phải lá ngọc cành vàng ǵ, c̣n bầy
tôi th́ thuộc loại mưu mô gian ác nên thiên bất dung gian, phạt cho cái án tuyệt
tự. Vậy th́ phải làm ǵ bây giờ? Phải trừ gian tà, phải khôi phục chính thống.
Ai xứng đáng là ḍng dơi chính thống đây? Đă hỏi, tức khắc thấy ngay câu trả lời:
C̣n ai hơn An Phong Công Hồng Bảo và hậu duệ của ông !
Phải công nhận tác giả tin đồn này là một tay khôn ngoan, thủ đoạn có hạng. Thói
thường, từ không mà nói có, nghĩa là “nói dựng đứng” th́ rất khó thuyết phục
người nghe. V́ vậy, người ta đă bẻ cong sự thật, trộn lẫn thật và giả rất khéo
khiến người nghe dễ dàng bị hấp dẫn, thuyết phục. Trong hoàn cảnh thông tin bị
hạn chế vào thời đó, người nghe không thể nào kiểm chứng thật giả những ǵ được
rỉ tai. Vả chăng, tin rỉ tai thuộc loại thâm cung bí sử bao giờ cũng hấp dẫn, và
câu chuyện cứ thế mà lan truyền và lưu truyền.
Nay th́ tôi tin rằng những tin đồn về mối quan hệ mờ ám giữa vua Tự Đức và ông
Trương Đăng Quế đều là sản phẩm chiến tranh tâm lư do phe đối lập tung ra trong
cuộc tranh chấp quyền lực lúc bấy giờ nhằm hạ bệ uy tín của giới cầm quyền. Phải
chờ mấy mươi năm mới có cơ hội giải quyết được một nghi vấn lịch sử, ít ra cũng
cho riêng ḿnh, mới hay đi t́m sự thật không dễ.
VƠ HƯƠNG-AN
_______
(1) Trong khi chiến đấu, Hồ Oai bị Đoàn Trực chém
đứt một lổ tai, nhưng sau đó đă đâm chết Trực và bắt sống Đoàn Trưng. Do công
trạng này, vua Tự Đức đă phong cho ông làm Đô Thống chế Dinh Long Vũ, tước Dũng
Nghĩa Tử, Quản lănh Thị vệ Đại thần, thưởng một thẻ bài bằng vàng có khắc 5 chữ
Sắc tứ Trung Dũng Tướng, một thẻ bài khác bằng ngọc quư, một cái nhẫn vàng gắn
kim cương, và 10 lạng vàng. Ông làm đến Tiền Quân Đô Thống kiêm Tả Quân (nhất
phẩm quan Vơ) (Theo Đại Nam Chánh Biên Liệt Truyện )
art2all.net |