Vĩnh Liêm

QUÊ HƯƠNG XA VỜI

 

Sông Vĩnh Định nh́n từ cầu Sải.

Ảnh Phạm Đ́nh Quát, vannghequangtri.blogspot.com

 

Tôi sinh ra trong một gia đ́nh trung lưu, nói đúng hơn là giàu có, khi tôi lớn lên th́ gia đ́nh tôi lâm vào t́nh trạng sa sút. Thật ra cha tôi thừa hưởng một gia tài đồ sộ từ ông bà nội tôi truyền lại, nhưng gia tài ấy đă mất mát hầu như gần hết trong chiến tranh kéo dài kể từ mùa thu năm 1945 khi tôi mới được hai tháng tuổi.

 

Quê tôi là làng Cổ thành, một ngôi làng nhỏ được bao quanh bởi sông Vĩnh Định, một con sông đào rất nên thơ rủ bóng tre đôi bờ và sông Thạch hăn, con sông lớn của Quảng trị chảy qua làng tôi trước khi đổ ra biển. Nơi hai con sông gặp nhau cũng là bến sông mà vào những buổi chiều hè nóng nực khi có những cơn gió Lào thổi về tôi thường được chị tôi dẩn đi tắm trong khi chị giặt giũ bên bờ. Tôi sung sướng hụp lặn trong làn nước trong xanh tận hưởng những giây phút tuyệt vời mát mẻ. Ông Tổ họ Lê của tôi vốn gốc Thanh hoá, là một trong ba người theo vua lê Thánh Tông nam tiến khai phá và tạo lập làng Cổ Thành, công lao đó được ghi vào bia tưởng niệm hiện đặt ở đ́nh làng.

 

Ngôi nhà mà bà nội tôi một tay buôn bán gầy dựng nên là một ngôi phố lầu, có lẽ đó là ngôi phố lớn nhất ở Chợ Săi, bán đủ các mặt hàng. Chợ Săi lúc bấy giờ là nơi giao lưu buôn bán giữa những miền quê gần biển và tỉnh, bà nội tôi lại là người buôn bán giỏi, đă từng xuôi thuyền ra tận xứ Thanh hoặc vào đến xứ Quảng xa xôi, nên nhà nội tôi giàu có nhất vùng. Khi mẹ tôi kế nghiệp th́ không c̣n được như xưa một phần v́ chiến tranh, phần khác v́ mẹ tôi không rành buôn bán. Tôi đă từng được theo mẹ trên những chiếc thuyền buôn vào Huế lúc c̣n thơ, thú vị nằm gọn trong khoang khi thuyền lướt trên mặt nước, tiếng nước róc rách hai bên mạn, gió sông thổi mơn man đă đưa tôi vào giấc ngủ êm đềm.

 

Tuổi thơ tôi trôi qua trong những ngày tháng đầy mộng mơ hồn nhiên, có khi tôi được mẹ dẫn đi chợ tỉnh. Qua khỏi cầu sắt cao nghều nghệu là đến Xóm Dương có những ngôi nhà ngói xinh xắn ẩn ḿnh dưới những hàng dương xanh mướt, rồi đến băi cát trắng mênh mông bên bờ Thạch Hăn trước khi đến tỉnh. Mỗi lần qua đây gió thổi lồng lộng cuốn cát bay mịt mù, đôi chân nhỏ bé của tôi không tài nào bước nỗi và đó là lúc tôi ṿi vĩnh mẹ một cuốc xe kéo để được ngồi vào cỗ xe êm ái mà bác phu xe phải c̣ng lưng khó nhọc đẩy qua đoạn đường gian nan đó.

 

Buổi chiều tôi lại thường được cha dẫn lên cầu sắt hóng mát. Cha chỉ nơi thật xa và nói “làng An Tiêm đó con !”.Tôi không biết ngôi làng đó có gợi kỷ niệm ǵ ở trong ḷng cha, nhưng với tôi cái tên An Tiêm làm tôi mường tượng đến câu chuyện cổ tích chàng An tiêm bị lưu đày ngoài hoang đảo với những miếng dưa hấu đỏ mọng cắn vào một miếng là mát tận ruột gan.

 

Khi tôi lên ba bốn tuổi lại được cha dẫn theo mỗi khi đi dạy ở trường Chợ săi, ngôi trường tiểu học của cả huyện Ttriệu Phong nằm trong khuôn viên rộng răi của đ́nh làng. Đó là nơi tôi được nô đùa thoả thích trong một không gian xanh mát rợp bóng cây cùng với những đứa trẻ trạc tuổi, con cái những đồng nghiệp của cha tôi trong khi cha giảng bài ở lớp. Những đàn bướm đủ màu sắc, những con chuồn chuồn ớt rực rỡ, tiếng chim ríu rít trên cây, tiếng ve rộn ră đă đưa tôi vào thế giới cổ tích thần tiên với nàng công chúa ngủ trong rừng chờ hoàng tử hay nàng Bạch Tuyết với bảy chú lùn hoặc nàng Tấm thảo hiền trong chuyện cổ tích Tấm Cám…

 

Đó là những năm 1949-1950 và cũng là những năm chiến tranh ác liệt. Thuở ấy tôi quá béđể hiểu rằng chiến tranh đang ŕnh rập quê tôi từng ngày từng giờ. Trên đường chợ tôi đă thấy những chiếc xe Jeep chở những sĩ quan Pháp và những chiếc xe cam nhông chở đầy lính Lê dương vút qua nhanh để lại đàng sau những đám khói bụi mịt mù.Đôi lúc lũ trẻ con chúng tôi lại được họ ném cho mấy lon đồ hộp, bánh kẹo mà tôi phải dấu cha bởi v́ nếu cha biết sẽ mắng và bắt tôi phải vất đi. Mấy thầy giáo trong trường vẫn thường đến nhà tôi, kéo nhau lên lầu bàn bạc những ǵ rất bí mật mà trí óc non nớt của tôi không thể hiểu được. Người thường xuyên đến là thầy giáo Duật, lúc đó khoảng ngoài ba mươi.

 

Thầy giáo Duật là người bạn thân nhất của cha tôi lúc bấy giờ dù rằng thầy kém cha tôi hơn cả chục tuổi. Thầy có nhiều tài hát hay, đàn giỏi và đặc biệt có giọng ngâm thơ hết sức truyền cảm. Vào dịp kết thúc kỳ đệ nhất lục cá nguyệt, cũng là dịp giáp Tết năm ấy, thầy đă dàn dựng một chương tŕnh văn nghệ thật đặc sắc tŕnh diễn ngay trong pḥng học của hai lớp ghép chung. Sân khấu là sàn gỗ được kê cao, c̣n ghế ngồi của học sinh được dùng làm ghế ngồi cho quan khách và các thầy giáo, bọn học tṛ chỉ được đứng chen chúc ở phía dưới để xem.Buổi văn nghệ có rất nhiều tiết mục, khán giả quá đông ngoài sự tưởng tượng và tôi không ngờ đó cũng là buổi họp mặt cuối cùng của thầy tṛ trường Chợ Săi để rồi sau đó mỗi người một ngả đường, một số phận.

 

Mở màn là bản hợp xướng “Nước non Lam sơn” do chính thầy Duật lĩnh xướng với tiếng ngâm thơ sang sảng, hùng hồn:


“Trống trường thành lung lay bóng nguyệt
Khói cam tuyền mờ mịt thức mây
Chín lần gươm báu trao tay
Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh”

 

Rồi tiếng hợp ca của thầy tṛ vang lên”Vầng non cao ngất khí thiêng tưng bừng một sớm mùa xuân mới, tiếng loa vang lan truyền theo gió dần xa vời, vầng ô lên sương tan dần theo mây khói, bóng quân đi theo tiếng chiêng oai hùng vang…”. Tôi dán mắt lên sân khấu, nỗi cảm xúc dâng trào dù tâm hồn ngây thơ chưa hiểu nhiều nội dung bài hát. Chị tôi lúc bấy giờ học lớp nhất mặc áo dài trắng đứng ở giữa, nét mặt rạng rỡ đầy hào khí. Cả đ́nh làng im phăng phắc như uống từng tiếng hát lời ca vào ḷng: “Nước non Lam sơn, nước non Lam sơn, bóng cờ bay phất phới. khắp nơi cờ vàng, khắp nơi cờ vàng, muôn hồn quân Nam...”.Bài hát dứt, tiếng vỗ tay như sấm dậy của khán giả làm đ́nh làng như muốn vỡ tung.

 

Các tiết mục khác vẫn tiếp diễn với những bài hát yêu nước hùng hồn, hoạt cảnh “Công chúa ngủ trong rừng”, múa”Thiếu nữ Việt nam” rất dễ thương. Tôi thoáng thấy những người lính bảo an bước vào vẻ mặt nghiêm trọng, một số khán giả h́nh như tản ra. Tôi vẫn dán mắt lên sân khấu khi một cô bé khoảng 6- 7 tuổi bước ra với cái váy dài trắng có viền đăng ten, tóc thắt nơ tím trông thật xinh đẹp mà không để ư lúc đó cha tôi đang ôm chặt tôi vào ḷng như muốn chở che. Cô bé đang múa nhịp nhàng theo tiếng nhạc và tiếng đọc thơ kể chuyện về cô Bê Rết trong truyện ngụ ngôn La Fontain mang lĩnh sữa đi bán nhưng lại tưởng tượng viễn vông sẽ dùng tiền bán sũa để mua một con ḅ, ḅ sẽ đẻ ra bêø và cứ như thế không mấy chốc cô sẽ giàu...rồi cô ta nhảy cởn lên v́ sung sướng và thế là đổ cả lĩnh sữa. Khi trên sân khấu cô Bê Rết khóc, tôi cũng muốn khóc theo v́ quá thương cô bé.

 

Bổng tôi thấy trong hậu trường sân khấu có ǵ đó không b́nh thường, tiếng ồn ào, rồi tiếng chân người chạy và tiếng súng nổ. Mọi người nhốn nháo chen lấn t́m đường thoát ra ngoài. Cha cũng hoảng hốt t́m mấy chị em chúng tôi vội vàng đưa về nhà trong nỗi lo lắng bồn chồn.

 

Mấy ngày sau Tết cha không đi dạy v́ trường đă bị đóng cửa. C̣n thầy giáo Duật tôi không rơ có thoát hay đă bị bắt v́ từ đó chúng tôi không c̣n gặp lại. Cuộc sống gia đ́nh tôi không c̣n êm đềm như trước, cha cứ bị công an mời lên mời xuống để điều tra về buổi văn nghệ hôm đó, mỗi lần về nhà cha buồn rầu căng thẳng, không chuyện tṛ ǵ với chúng tôi.

 

Cho đến một đêm tối trời, cả nhà tôi choàng thức giấc bởi tiếng súng nổ dữ dội ở phủ Triệu phong. Nhà tôi ở ngay chợ, cách phủ không xa nên tiếng nổ nghe rất gần. Trong khi chưa định thần th́ nghe tiếng chân người chạy rầm rập, tiếng đập cửa khẩn trương, rồi một toán vệ quốc quân ào vào nhà, mang một khẩu súng thật lớn chạy lên lầu và nhắm về phía phủ nả đạn liên hồi. Một quả moọc chê rơi vào sân nhà. Ầm! Tiếng nổ dữ dội làm sập mái lầu sau, mấy chậu cây kiểng của cha cũng vỡ tan nát. Mấy mẹ con tôi chui xuống cầu thang trốn, mặt tái xanh v́ sợ. Mấy anh vệ quốc quân lao nhanh xuống, chạy ra cửa sau, len qua con đường xóm thoát ra phía cánh đồng. Ngày hôm sau nhà tôi bị khám xét, những tư trang vàng bạc của mẹ cất trong tủ cũng bị lấy đi. Lần này cha bị bắt giữ, mẹ phải chạy ngược chạy xuôi, lo lót chỗ này chỗ nọ để cứu cha. Khi cha trở về th́ vốn liếng tài sản gia đ́nh đă cạn, cha không được đi dạy nữa và người đă quyết định vào Huế trước để lánh nạn, nhờ o dượng tôi kiếm dùm việc làm, rồi sau đó đưa cả gia đ́nh vào Huế sinh sống. Nhà cửa giao lại cho chú thím út tôi trông coi.

 

Ngày chúng tôi rời Chợ Săi là một sớm thu ảm đạm, mẹ và mấy chị em tôi cùng đồ đạc chất chồng trên hai chiếc xe kéo, rời bỏ ngôi nhà yêu dấu với bao kỷ niệm buồn vui khi cả khu chợ vẫn c̣n ngái ngủ. Tôi buồn rầu ngoái nh́n ngôi nhà lầu của ḿnh đứng sừng sững oai vệ giữa Chợ Săi đ́u hiu. Trên đoạn đường lên tỉnh mẹ đăm chiêu suy nghĩ, mấy chị em tôi không ai nói một lời nào với ai. Dù c̣n rất bé nhưng tôi cũng mơ hồ cảm nhận đây là cuộc chia ly vĩnh viễn với những ngày êm ái cũ ở miền quê yêu dấu. Xe ́ ạch qua băi cát dài bên bờ Thạch Hăn, mẹ và mấy anh chị tôi phải xuống đẩy phụ với hai bác phu xe già ốm o, chỉ có tôi nhỏ nhất được ngồi lại trên xe mà lúc này cũng không c̣n cảm giác khoan khoái như những lúc được theo mẹ lên tỉnh. Phải mất hai tiếng đồng hồ chúng tôi mới đến nhà ga để lên tàu vào Huế.

 

Trong pḥng đợi tôi thấy đầy lính Tây đen với ba lô hành lư, súng ống, có lẽ họ cũng đáp tàu vào nam. Đây là lần đầu tiên tôi trông thấy những ông Tây đen cao lớn, đen như than với những cặp mắt trắng dă trông đến ghê người, tôi sợ hăi nép vào người mẹ. Một ông tiến về phía tôi nở nụ cười thân thiện, ch́a tay đưa cho tôi một thỏi sô cô la. Tôi vốn thích ăn sô cô la nhưng nhận từ một con người đáng sợ tay đầy lông lá như thế kia chẳng dễ chút nào.

 

B́nh thường mẹ ghét bọn lính Tây hay về quấy phá làng xóm, nhưng không hiểu tại sao lúc này lại đẩy tôi về phía ông ta, miệng nói “Tới với ông đi con, không can chi mô mà sợ”. Tôi rụt rè tiến về phía trước, ông ta giang tay ôm tôi vào ḷng, âu yếm vuốt tóc tôi rồi đưa cái miệng đầy râu hôn vào má tôi. Ông móc trong ba lô ra không biết bao nhiêu là bánh kẹo đưa cho tôi một cách vội vàng nồng hậu như thể sợ tôi không lấy. Ông lại quay sang mẹ tôi xổ một tràng tiếng tây, không hiểu ông muốn nói ǵ nhưng vẻ mặt đầy xúc động và hạnh phúc. Sau này mẹ bảo h́nh như ông ta nhớ nhà và có lẽ cũng có đứa con gái nhỏ trạc tuổi tôi. Mẹ không ghét những người này v́ thật ra họ cũng chỉ là nạn nhân bị đẩy vào cuộc chiến tranh phi nghĩa mà họ không lựa chọn, phải xa quê hương, xa gia đ́nh trong tâm trạng đớn đau quằn quại như chúng tôi mà thôi.

 

Khi tàu đến, thấy mẹ tôi lôi thôi lếch thếch vừa bồng bế tôi, vừa mang vác hành lư, ông tây ban năy bế tôi, c̣n những ông khác mang hộ hành lư, đưa mấy anh chị tôi lên toa rồi mới trở về toa tàu của họ sau khi vẫy tay chào chúng tôi rất vui vẻ.

 

Một tiếng c̣i thét lên như trút hết nỗi uất hận rồi tàu từ từ chuyển bánh đưa chúng tôi mỗi lúc một xa dần quê hương yêu dấu. Những giọt lệ bất giác lăn dài trên má, trong ḷng tôi là một sự hụt hẫng xót xa. C̣n đâu những buổi chiều lộng gió theo các anh thả diều bên bờ ruộng thơm ngát mùi lúa chín? c̣n đâu những đêm trăng vàng nằm trên chỏng tre gối đầu vào ḷng mẹ, giữa khu vườn có ḥn non bộ với mấy cô tiên thổi sáo bên bờ suối, có ông Lă Vọng câu cá, có mấy ông tiên đánh cờ trên núi để nghe mẹ kể chuyện cổ tích rồi ch́m dần vào giấc ngủ thần tiên ? C̣n đâu những trưa hè rộn tiếng ve trốn nhà đi hái hoa bắt bướm trong vườn cây đầy những cây trái thơm ngọt của chú ? Tất cả quá khứ êm đềm đó như những bờ tre bụi cỏ lúc này cứ lùi dần lùi dần về phía sau ngược với con tàu đang tiến dần về phía trước. Mà phía trước lúc này là một tương lai mờ mịt đầy bất trắc đang chờ đợi chúng tôi.


*

 

Năm 1972 khi những cuộc giao tranh diễn ra ác liệt ở Thành cổ-Quảng trị th́ Chợ săi cũng thành b́nh địa, bà con trong làng đă lưu lạc phương xa. Năm 1999 tôi trở về thăm lại quê cũ th́ một vùng lạ lẫm hiện ra trước mắt, một xóm quê đ́u hiu với những mái nhà lụp xụp ẩn ḿnh dưới những hàng dương liễu phất phơ trong nắng mai và những con người xa lạ. Chợ Săi trong trí tưởng của tôi với quang cảnh buôn bán tấp nập nhộn nhịp không c̣n nữa, ngôi nhà lầu đồ sộ của chúng tôi biến mất như thể chúng chưa hề hiện hữu trên cơi đời này, tất cả chỉ như một giấc mơ. Quê hương thật sự đă xa vời.
 

3/2003

Vĩnh Liêm Đà Lạt
                     

 

Trang Vĩnh-Liêm & Văn Uyên

 

art2all.net