Vĩnh Liêm Dalat
TÔI LÀM VĂN NGHỆ

Tôi rất mê văn nghệ nhưng trước đây chưa có dịp thi thố tài năng v́
tôi vốn là đứa nhút nhát, nhiều mặc cảm. Ngày xưa khi c̣n học Đồng
Khánh tôi chỉ hát trong ban hợp xướng trường dưới sự điều khiển cuả
thầy Lê Như Khuê, có đứa bạn khuyến khích tôi đơn ca nhưng tôi lại
sợ. Một lần tôi đă tập tành đàng hoàng bài “Trở Về Thôn Cũ” cuả Nhị
Hà để hát cho một buổi văn nghệ gây quỹ từ thiện, đến giờ phút cuối
tôi lại từ chối lên sân khấu. Nghĩ lại tôi cho rằng nghiệp cuả ḿnh
không phải nghiệp cầm ca.
Năm 1968 tôi tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Huế khoá Mậu Thân, nhiệm sở
cuả tôi là trường Nữ TH Bùi Thị Xuân – Đà Lạt nhưng tôi đă hoán
chuyển cho chồng với hy vọng năm sau sẽ được về cùng trường theo ưu
tiên 1 bởi tôi rất mê Đà Lạt. Nhưng “mưu sự tại nhân thành sự tại
thiên”, tôi phải qua hai nhiệm sở, một ở trường TH Phan Bội Châu
Phan Thiết và một ở trường TH Đơn Dương Tuyên Đức, măi đến tháng
11-1974 tôi mới đạt được ước mơ.
Làm quen với trường Nữ TH Bùi Thị Xuân chưa được bao lâu th́ đến
tháng 5 - 1975 trường đổi tên Phổ Thông Trung Học Bùi Thị Xuân, là
trường hỗn hợp nam nữ chứ không phải chỉ dành riêng cho nữ sinh như
trước đây.
Trước khi bước vào năm học mới, sở Giáo Dục Lâm Đồng tổ chức học tập
chính trị cho toàn ngành cuả tỉnh để đội ngũ giáo chức “quán triệt”
chủ trương chính sách cuả chế độ mới, địa điểm là trường Bùi Thị
Xuân. Trong những lúc giải lao mỗi trường phải có một tiết mục văn
nghệ giúp vui . H́nh như lúc đó chị Thu Tâm chuyển sang trường Thăng
Long, trường mất đi một tài năng, vậy là tôi bị bắt cóc lên sân khấu.
Tôi không biết các bài hát “cách mạng” nên đành ngâm bài thơ “Nàng
Tiên Dũng Sĩ”, một bài thơ tương đối vô thưởng vô phạt cuả Dương
Hương Ly (bút hiệu trước đây cuả nhà thơ Bùi Minh Quốc), ,thầy Uyên
đệm sáo. Tôi run lắm nhưng cũng phải lấy hết can đảm cất tiếng. Cả
hội trường như lắng đọng, tôi đă lấy lại tự tin khoe giọng với những
chỗ luyến láy rất Huế vẽ lên h́nh ảnh giấc ngủ trưa dễ thương cuả cô
du kích nhỏ. Tôi được tán thưởng bằng một tràng pháo tay nồng nhiệt.
Năm học đầu cuả chế độ mới 1975-1976 tôi được ban giám hiệu giao phụ
trách đội múa cuả trường mà phần lớn các em trong đội này đều thuộc
lớp tôi chủ nhiệm - Trường Bùi Thị Xuân vốn nổi tiếng có truyền
thống văn nghệ. Các em nữ sinh trong đội múa rất xinh, múa rất dẻo,
các tiết mục cuả trường thường được đưa đi biểu diễn hết chỗ này đến
chỗ nọ, dĩ nhiên những lần như vậy tôi phải theo các em từ chiều tối
đến khuya mới về nhà. Thật vất vả cho tôi và gia đ́nh v́ các con tôi
lúc bấy giờ c̣n quá nhỏ.Thế nhưng trong những giờ phút chuẩn bị cho
các em lên sân khấu, sửa lại xiêm y, đánh thêm chút phấn hồng lên má,
kẻ lại vành môi cho các em hay khi nh́n các em múa rất hồn nhiên
trên sân khấu…tôi như quên hết mọi chuyện để chỉ thấy rất hạnh phúc,
rất tự hào. Một t́nh cảm gắn bó thân thương len lén vào tim tôi. Tôi
c̣n nhớ một vài em trong đội múa lúc bấy giờ là em Tuyết Anh, Xuân
Lan, Bích, Xuân Phương…
Rồi trong một cuộc thi văn nghệ giáo viên giữa các trường ở Đà Lạt
tôi lại được lên sân khấu để …múa một điệu múa Chăm với các nữ đồng
nghiệp cuả trường. Cả một tháng trời khổ công tập luyện, việc nhà
nhếch nhác, kết quả tiết mục múa cuả trường chỉ đạt giải B, chắc tại
cả tốp múa chưa đều chứ riêng tôi th́ có người khen tôi múa đẹp (cũng
thích đấy chứ), có lẽ nhờ những lần đi theo xem các em biểu diễn.
Cho đến năm 1989, là tổ trưởng tổ Sử Địa – Chính Trị (không hiểu tại
sao tôi lại được chọn làm tổ trưởng từ năm học 1976- 1977 v́ tôi vốn
là dân ngụy 100%), được sự phân công cuả hiệu trưởng lúc bấy giờ là
thầy Nguyễn Thành Lư và với sự giúp đỡ cuả nhiều người, tôi đảm nhận
chuyên đề kỷ niệm Hai Trăm Năm Chiến Thắng Đống Đa (1789 – 1989).
Theo đề nghị cuả tôi, lớp 12A7 được huy động hát các bài “Việt Nam
Minh Châu Trời Đông”(cuả Hùng Lân), “Thăng Long Hành Khúc” và “G̣
Đống Đa” (cuả Văn Cao) để minh họa cho bài thuyết tŕnh. Nhạc sĩ Bữu
Ấn, phụ huynh học sinh lớp, nhận lời tập hợp xướng cho các em.
Hồi bấy giờ nữ sinh chưa đồng phục áo dài nhưng tôi yêu cầu các em
phải t́m mọi cách để có áo dài trắng khi tŕnh diễn. Không khi buổi
lễ rất trang nghiêm long trọng, bài thuyết tŕnh cuả tôi đă thu hút
người tham dự một phần nhờ các bài hát minh họa đầy hào khí, đă để
lại nhiều ấn tượng đẹp cho học sinh, thầy cô giáo lẫn quan khách và
dấy lên phong trào trở lại chiếc áo dài trắng truyền thống cho các
nữ sinh.
Sau đó thầy Lư, cũng là người có máu văn nghệ, đă đề nghị tôi tham
gia ban văn nghệ cuả trường chuẩn bị cho đêm công diễn có bán vé vào
dịp cuối năm. Tôi phụ trách tiết mục Hoá Trang chủ đề ”Giới thiệu
các trang phục phụ nữ nhiều miền cuả Việt Nam và một số nước trên
thế giới”. V́ quá mê văn nghệ mà tôi gồng ḿnh ra nhận, đến khi bắt
tay vào việc mới thấy sao ḿnh liều đến thế! Cũng may tôi được Yến
Trang, một cô giáo trẻ người Huế cũng rất ham văn nghệ phụ gíúp. Đầu
tiên tôi cùng Yến Trang đến từng lớp chọn các em nữ sinh có vóc dáng
và gương mặt xinh xắn để vào các vai diễn. Tôi viết kịch bản, lời
thuyết minh, lời giới thiệu và tập cho em Thu Hà lớp 12A7 đọc. Tôi
chọn nhạc đệm cho mỗi em khi ra tŕnh diễn và nhờ ban nhạc chuẩn bị
trước. Giới thiệu cô gái Kinh Bắc th́ đệm bài dân ca quan họ Bắc
Ninh “Người Ơi Người Ở Đừng Về” , cô gái Thái th́ dân ca Thái bài
“Mưa Xuân”, cô gái Tây Nguyên th́ nhạc mang âm hưởng cồng chiêng .v.v…Khi
ban nhạc không biết bài nào tôi phải hát bài đó để họ vào nhạc. Thế
là về nhạc tạm ổn. Nhưng c̣n phải tập cho các em đi đứng, cử chỉ,
điệu bộ sao cho đẹp, cho hợp với bản sắc cuả từng miền , từng nước
và ăn khớp với nhạc đệm không đơn giản chút nào. Tôi cùng Yến Trang
và các em phải làm việc cả tháng trời, tranh thủ những lúc cô tṛ
đều rảnh mới tập được bởi phải đảm bảo cho các em không v́ văn nghệ
mà mất bài hay học sút. Cả một quá tŕnh gian khổ, có lúc tôi tưởng
đă bỏ cuộc v́ các em phần đông đều nhút nhát, chưa quen ra sân khấu
bao giờ. C̣n trang phục? Lại một vấn đề nan giải v́ trường c̣n nghèo,
không thể bỏ ra một khoản tiền lớn may sắm cho các em mà tiền thu
lại chưa hẳn đủ bù lỗ. Tôi và Yến Trang lại mất một buổi lục kho cất
giữ các trang phục văn nghệ trước 1975, xem thử có thứ nào dùng được
th́ dùng, thứ nào sửa được th́ sửa và tôi lại thức trắng nhiều đêm
cặm cụi bên máy may, phát huy óc sáng tạo và tài khéo léo để biến
những thứ tưởng bỏ đi thành những trang phục phù hợp cho vai diễn.
Con trai và chồng tôi giúp tôi làm nón quai thao cho cô gái Kinh Bắc.
Tôi cũng được một số phụ huynh học sinh hỗ trợ như sẵn sàng bỏ tiền
ra may trang phục cho con em ḿnh hoặc cho tôi mượn những trang phục
mà tôi không t́m được.
Cuối cùng buổi tổng dượt đă đến, tôi hồi hộp lo âu không biết tiết
mục cuả ḿnh có ra môn ra khoai ǵ không; không biết các em biểu
diễn có đạt như ư ḿnh không; em nữ sinh đọc lời thuyết minh có thể
hiện được hết nội dung cuả tiết mục hay không…Đến lúc màn từ từ mở,
tôi thật sự cảm động khi thấy các em diễn rất hồn nhiên, sống động,
xinh tươi như chính các em là người trong cuộc. Em Thu Hà đọc lời
thuyết minh rất hay, rất diễn cảm. Ban giám hiệu và những người
trong đoàn văn nghệ Lâm Đồng được mời đến duyệt các tiết mục đều hết
sức khen ngợi và họ quyết định để tiết mục này vào cuối chương
tŕnh. Tôi thắc mắc hỏi tại sao, th́ được trả lời là để giữ chân
khán giả. Tôi đành chấp nhận mặc dù rất lo không biết khán giả có đủ
kiên nhẫn chờ đến cuối buổi để xem tiết mục do tôi dàn dựng hay
không.
Ngày công diễn các em phải đến lúc 15 giờ để chuẩn bị, nhà trường lo
cho các em bữa ăn chiều. Yến Trang đă chu đáo nhờ một chuyên viên
trang điểm cho các em, em nào cũng xinh hẳn so với b́nh thường, em
nào cũng náo nức chộn rộn, ríu rít như những con chim vành khuyên.
Tôi cũng tất bật mọi thứ, cũng rộn ràng hồi hộp như chính ḿnh sắp
ra sân khấu.
Đến giờ mở màn mà em Hoàng Oanh đóng vai cô gái Tây Nguyên chưa
thấy. Tôi lo lắng chạy vô chạy ra trông ngóng. Thiếu đi một em, có
thể cắt bớt một vai diễn, thật ra không ảnh hưởng ǵ lắm cho tiết
mục. Nhưng tôi lại không nghĩ như vậy bởi Hoàng Oanh diễn rất sinh
động, không có em như thiếu đi một phần hương vị đậm đà cuả món ăn.
Phải một vài tiết mục ra sân khấu mới thấy em hộc tốc chạy vào, hỏi
ra mới biết gia đ́nh không cho đi (mặc dù trường đă gửi giấy xin
phép), đến giờ phút cuối em đă năn nỉ được. Một phen hú hồn!
Giữa buổi diễn, đứng sau cánh gà tôi thấy một số khán giả ra đứng
ngoài sân, cứ tưởng họ sẽ bỏ về, tôi buồn thiu, ngờ đâu khi tiết mục
“Hoá Trang” được giới thiệu, mọi người lại ùn ùn kéo vào. Từng em
lần lượt ra sân khấu: cô gái Kinh Bắc (Phượng Cơ) dịu dàng đằm thắm
trong chiếc áo tứ thân với nón quai thao cầm tay, bước đi uyển
chuyển theo làn điệu quan họ; cô gái Thái (Lâm Thi) búi tóc xinh
xinh, áo cài hàng nút giữa, nét mặt tươi tắn hồn nhiên; cô gái Tây
nguyên (Hoàng Oanh) nhí nhảnh với chiếc gùi sau lưng; cô gái Huế
(Trường An) áo dài tím thước tha với chiếc nón bài thơ; cô gái Nam
Bộ (Kim Thoa) mộc mạc hiền hoà trong chiếc áo bà ba; cô gái Chăm (Lê
Thị Hảo) múa quạt như đùa với cánh bướm…Các em rất xinh đẹp, rất hồn
nhiên, cái hồn nhiên mà người mẫu chuyên nghiệp không thể có. Rồi
đến cô gái Lào (Hoài Anh), cô gái Ấn Độ (Hồng Vũ), cô gái Trung Hoa
(?), cô gái Phù Tang (Thanh Trúc), cô gái Pháp (?), cô gái Nga (?),
hai cô gái sinh đôi Hạ Uy Di (Thục Quyên, Dao Uyên)… bước ra mang
theo hương sắc phương xa. Khán giả hết sức ngạc nhiên thích thú, họ
như được đi du lịch qua nhiều nước, từ xứ sở cuả hoa Chăm-Pa đến
những quần đảo ở Thái B́nh Dương bát ngát rừng dừa…Từng tràng pháo
tay tán thưởng vang dội khi mỗi em xuất hiện, nhất là với cô gái Ấn
Độ Hồng Vũ hoặc cặp sinh đôi Dao Uyên - Thục Quyên. Và hội trường
một lần nữa lại oà vỡ khi các em tuần tự nhịp nhàng xen kẻ nhau theo
tiếng nhạc trở lại sân khấu để chào khán giả và kết thúc đêm văn
nghệ.
Buổi biểu diễn đă thành công trên cả ước mơ, tôi vô cùng cảm động và
hạnh phúc khi các học tṛ cuả tôi đă v́ nhà trường và v́ tôi mà cố
gắng hết khả năng cuả ḿnh đem lại những giây phút thú vị cho khán
giả. Sau đó tiết mục này được yêu cầu đưa ra diễn ở quảng trường chợ
Đà Lạt hai đêm và rất được công chúng ái mộ.
Năm sau trường lại tổ chức văn nghệ, lần này ngoài tiết mục cũ “Giới
thiệu trang phục phụ nữ Việt Nam và thế giới”, tôi c̣n phụ trách
thêm hoạt cảnh “Vinh Quy Bái Tổ”, chủ đề nhằm khơi dậy truyền thống
hiếu học cuả cha ông ta ngày xưa. Tôi lại thức đêm viết kịch bản,
tập dượt cho hai nhân vật chính là Thảo Ly trong vai ông nghè và
Hoàng Oanh trong vai bà nghè. Thảo Ly dáng cao, nét đậm đà, khi xuất
hiện khán giả cứ xuưt xoa sao quan Trạng đẹp thế! Hoàng Oanh thuở
hàn vi mặc áo tứ thân, chít khăn mỏ quạ, đẹp dịu dàng thuỳ mi; khi
trở thành bà nghè th́ mặc áo dài nhung, chít khăn nhung, đeo kiềng
vàng, đẹp nền nă như một mệnh phụ.
“Vinh Quy Bái Tổ” có bốn cảnh:
Cảnh 1: “Bên anh đọc sách bên nàng quay tơ”: thuở hàn vi cuả nho
sinh. Bài hát nền “Trăng Sáng Vườn Chè”.
Cảnh 2: “Chàng lên kinh ứng thí, nàng ở nhà quay tơ dệt vải chờ
đợi”. Bài hát nền “Vầng Thơ Sầu Rụng” và “Bèo Dạt Mây Trôi”.
Cảnh 3: “Quan Trạng vinh quy bái tổ”.Bài hát nền là phần sau cuả
“Trăng Sáng Vườn Chè” và nhạc cung đ́nh.
Cảnh 4: “Kiệu anh đi trước, vơng nàng theo sau”, chàng đưa nàng về
dinh. Nhạc nền là bài“Lư Ngựa Ô” kết thúc hoạt cảnh.
Tôi chạy đôn chạy đáo cùng với sự giúp đỡ cuả nhiều người t́m các
băng cát xét cũ có những bài ấy, nhưng thuở đó phải nói là rất hiếm
hoi, chỉ được bài “Trăng Sáng Vườn Chè”, “Lư Ngựa Ô” và nhạc cung
đ́nh. Theo sáng kiến cuả Yến Trang, tôi đành liều mạng hát để thu
băng hai bài “Vầng Thơ Sầu Rụng” và “Bèo Dạt Mây Trôi”, thầy giáo
Vĩnh Hiệp đệm đàn ghi-ta, khi phát ra thiên hạ cứ tưởng ca sĩ thứ
thiệt (!)
Với sự giúp đỡ cuả các thầy giáo trẻ làm đạo cụ, phông cảnh, các em
nam sinh đóng vai quân lính., hoạt cảnh “Vinh Quy Bái Tổ” đă được
khán giả thích thú tán thưởng v́ rất đẹp, rất hào hứng, rất ư nghĩa, nhất là cảnh cuối khi quân lính khiêng kiệu quan nghè và vơng bà
nghè đi lại trên sân khấu, không khí rộn ràng náo nhiệt hoà cùng bài
“Lư Ngựa Ô”. Thảo Ly ngồi trên kiệu cao ngất ngưỡng vẫn giữ vẻ b́nh
tĩnh uy nghi, thế nhưng diễn xong em cho biết lúc đó trong bụng run
lắm, bởi nếu mấy bạn nam sinh sẩy tay th́ không biết chuyện ǵ sẽ
xảy ra! Cả Hoàng Oanh cũng nói vậy. May mắn mọi việc đều suôn sẻ,
tốt đẹp. Tôi thở phào nhẹ nhơm, niềm vui tràn ngập trong ḷng.
Mỗi khi hồi tưởng những kỷ niệm đẹp ấy, tôi lại nhớ đến các em học
sinh đă một thời cùng tôi cuốn hút vào không khí náo nức vui tươi
cuả những ngày làm văn nghệ. Chính những giờ phút này mà t́nh cảm
thân thương tŕu mến đă gắn chặt tôi với các em, giúp tôi thấy rơ
hơn thiên chức cao đẹp cuả nghề dạy học. Có thể khán giả đă có những
giây phút thật sảng khoái khi xem các em biểu diễn mà họ chẳng cần
biết ai là người dàn dựng nên những tiết mục ấy, nhưng tôi không hề
quan tâm, chỉ biết rằng tôi rất hạnh phúc v́ đă đem niềm vui đến cho
đời và v́ các em học sinh đă đem niềm vui đến cho tôi. Tôi cũng rất
biết ơn chồng con tôi đă thông cảm cho nỗi đam mê văn nghệ cuả tôi
mà không phiền hà, lại hỗ trợ hết ḿnh khi tôi cần đến sự giúp đỡ
cuả họ.
Tôi gửi lời xin lỗi đến một số em tôi đă quên tên (hơn hai mươi mấy
năm, bộ nhớ cuả tôi đă rệu ră lắm rồi). Có em nào biết hoặc em nào
là “người trong cuộc” xin giúp tôi bổ sung. Một điều khiến tôi hối
tiếc là không lưu giữ được những h́nh ảnh cuả những thời khắc đáng
nhớ ấy (Lúc này trường c̣n nghèo và chưa có những phương tiện kỹ
thuật hiện đại như bây giờ). Có chăng chỉ c̣n đọng lại trong tâm
tưởng.
Vĩnh Liêm Dalat
(Trích Đặc San Kỷ Niệm 55 Năm Thành Lập Trường Bùi Thị Xuân – Đà Lạt
1952-2007)
_________
A2a mời nghe Vĩnh Liêm trong:
Lá đổ muôn chiều
Tà áo xanh
Trang
Vĩnh-Liêm Dalat & Văn Uyên
art2all.net
|