Vĩnh Liêm Dalat

VỚI NGƯỜI ĐĂ KHUẤT

Kính dâng hương hồn Cô T.N

(Thương tặng các bạn Đệ nhất C niên khoá 1963-1964)

 


 

Thế là cô từ giă cơi trần gian tạm bợ và đầy nghịch cảnh này dễ thường đă gần hai mươi năm. Hằng đêm em vẫn thầm cầu nguyện hương linh cô về với Chư Phật và xin cô tha thứ cho đứa học tṛ ngu muội, vong ơn bội nghĩa này. Số phận đă không mĩm cười với cô, một hồng nhan bạc mệnh, mà trong đó em vốn được cô xem như đứa học tṛ ruột cũng góp phần làm cô đau ḷng.

Mấy mươi năm về trước cô là hiệu trưởng của một trường nữ nổi tiếng nằm bên bờ con sông Hương thơ mộng hiền ḥa-trường Nữ trung học Đồng Khánh với những tà áo trắng, những đoá hoa khôi kiều mị đă làm không biết bao thi nhân, nhạc sĩ tốn không biết bao nhiêu giấy mực viết lên những áng thơ tuyệt tác, những bản t́nh ca bất hủ. Hồi ấy cô c̣n rất trẻ, xinh đẹp, dáng người nhỏ nhắn nhưng rất uy nghi và đầy năng lực.Chúng em, những đứa học tṛ bé dại rất sợ cô nhưng cũng thích ngắm nh́n cô và tự hào về cô.

   

Điều hành một ngôi trường lớn như thế, công việc của cô thật lắm bộn bề. Nhưng do t́nh trạng thiếu thầy, cô phải đảm trách một số giờ Việt văn của lớp em, lớp Đệ tam C2 niên khoá 1961-1962 vài tháng trong thời gian t́m giáo sư mới.

Nhớ hôm nào cô bước chân vào lớp, cả lớp răm rắp đứng lên chào cô mà ḷng đứa nào cũng nặng chĩu lo âu (tâm lư học sinh chúng em rất sợ các cô hiệu trưởng, giám học, tổng giám thị v́ các cô là biểu hiện của nề nếp kỷ luật, có lẽ nhờ vậy mà chúng em mới nên người). Em ngồi ở bàn đầu lấm lét nh́n cô mà tim đập th́nh thịch. Nhưng chỉ vài phút sau, khi cô bắt đầu bài giảng về truyện Kiều, cả lớp như bị cuốn hút vào giọng nói ngân nga thánh thót của cô. H́nh như lúc bấy giờ cô không c̣n là cô nữa mà đă hoá thân thành nàng Kiều tài hoa mà bạc phận. Chính những ngày tháng học với cô, em mới thật sự thích đọc truyện Kiều và mơ hồ cảm nhận giữa nàng Kiều với cô h́nh như có một mối dây liên hệ nào đó.

Cô thích gọi em đọc thơ mỗi lần đến giờ giảng văn. Cô bảo em có giọng ấm áp truyền cảm và biết nhấn nhá lên xuống chứ không như mấy đứa khác trong lớp, đọc khô cứng, cứ ngắt nga ngắt ngứ. Những bài luận văn của em bao giờ cũng được điểm cao, h́nh như có một sự đồng cảm nào đó giữa cô và em, cô tỏ ra “cưng” em hơn bất cứ đứa nào trong lớp.

Cô không thích nữ sinh chưng diện, mỗi lần thấy đứa nào mang đồ trang sức quư đến trường cô đều bắt tháo ra cất đi. Cô kể về thời thơ ấu của ḿnh bằng giọng bùi ngùi ”Tôi mồ côi mẹ từ thuở nhỏ, sống với ngoại. Cha tôi đi làm xa, vài ba tháng mới về thăm tôi một lần. Mỗi lần về thấy tôi rách rưới lem luốc, cha đều khóc và đem tôi đi tắm rửa, khâu vá áo quần cho tôi. Có hôm tôi phải chui vào kẹt cửa cởi quần áo ném ra cho cha khâu v́ không c̣n bộ nào để thay”. Chúng em bồi hồi xúc động, mắt đứa nào cũng đỏ hoe, từ đó cũng bớt tính se sua chưng diện.

Một hôm cô gọi riêng và trao cho em quyển vở soạn giảng văn mà cô giữ ǵn rất cẩn thận, căn dặn “Nhớ đọc kỹ để hiểu thêm những ǵ tôi giảng trên lớp, khi nào đọc xong hăy trả”. Em sung sướng mang về, nâng niu quyển vở như một báu vật. Khi giở bên trong, em đi từ ngạc nhiên này sang ngạc nhiên khác xen lẫn ngưỡng mộ. Chữ cô nắn nót rất đẹp, từng trang được đóng khung cẩn thận. Thỉnh thoảng giữa các bài lại có những bức tranh vẽ Kiều bằng những nét chấm phá rất tài hoa. Nơi này là Kiều gặp Kim Trọng ở Hội Đạp thanh vẻ mặt e thẹn nép ḿnh dưới hoa, chỗ kia là Kiều đang tựa cửa ở lầu Ngưng bích với nét u sầu... Trên trang đầu quyển vở có ghi một ḍng chữ “để cho con trai Ngộ Lang của mẹ”. Ngộ lang? Có phải là tên cậu bé thông minh đĩnh ngộ mà Nguyễn Tuân đă miêu tả trong “Một cảnh thu muộn” của tập truyện ngắn "Vang bóng một thời” không? Ngộ Lang phải chăng là đứa con trai mà cô đang mong đợi v́ lúc này em biết thầy cô vẫn chưa có con và phải chăng đây là một định mệnh oan nghiệt ? Những bức tranh cô vẽ đẹp quá, em cũng bắt chước vẽ vào trong vở của ḿnh những bức tranh tương tự.

Cô không những giảng Kiều hay mà cả những trích đoạn của Chinh phụ ngâm khúc cũng được cô chuyển tải một cách nhẹ nhàng sâu lắng, nhất là đoạn nói về vai tṛ làm mẹ, cô đă diễn đạt rất thiết tha nồng nàn như đó là niềm mơ ước thầm kín của riêng ḿnh. Em vẫn nhớ măi hai câu thơ cô đọc làm rung động ḷng người:

“Ngọt bùi thiếp đă hiếu nam

Dạy con đèn sách thiếp làm phụ thân”.

Cô vốn thích văn nghệ nên trong thời gian cô làm hiệu trưởng hầu như năm nào trường cũng tổ chức những buổi hội diễn ở rạp Nguyễn văn Yến hay rạp Hưng Đạo. Với sự nhiệt t́nh góp sức của các cô Q.H, N.T.V… những tiết mục rất đặc sắc như Tŕnh diễn trang phục của phụ nữ Việt nam qua các thời đại, các điệu múa Espana cani, đấu taureau, những bản hợp xướng Tiếng vọng rừng chiều, Đêm Mê linh, kịch Thành Cát Tư Hăn diễn chung với trường Quốc học…rất được khán giả tán thưởng. Em có trong ban hợp xướng của trường, vẫn thường xuyên tập hát với thầy L.N.K đệm đàn piano. Có lần cô tạt qua pḥng tập, nh́n chúng em hát với vẻ hài ḷng rồi quay lại nói với các cô cùng đi ”Chúng nó đều là những đứa học giỏi”.

Cô chỉ dạy lớp em mấy tháng, sau đó một giáo sư khác vào thay nhưng cô đă để lại trong em dấu ấn khó quên, cô đă trở thành thần tượng của em. Em ao ước được thành đạt như cô cả về công danh sự nghiệp lẫn cuộc sống gia đ́nh êm ấm. Nhưng có một điều em đă ngu dại không nhận thấy và măi đến bây giờ em vẫn cứ ân hận không nguôi, đó là cô đă yêu em như một đứa em gái bé bỏng của cô, cô đă dơi theo từng bước đi lên của em cả trong trường học cũng như trong trường đời.

Cho đến năm 1963 em đă là nữ sinh lớp Đệ nhất C của trường (C1,C2 nhập chung), là niên khoá đầu tiên trường mở khối Đệ nhất, học sinh của trường không c̣n phải sang “tá túc” bên Quốc học nữa, đây cũng là năm đầy biến cố. Những vụ tranh đấu, xuống đường của đồng bào Phật tử đă cuốn hút chúng em. Em đă tham gia vào tổ chức học sinh sinh viên chống chế độ Ngô Đ́nh Diệm và đă bị bắt.

Sáng hôm đó đến trường, em thấy bọn mật vụ đông đặc, chúng gác ở cổng ra vào của nữ sinh, mặt đằng đằng sát khí. H. kéo em vào một góc th́ thầm ”L., U và X. đă bị bắt (là những người trong tổ chức), không khéo chúng nó khai tên tụi ḿnh”. Em rụng rời tay chân và linh cảm thế nào cũng sẽ bị bắt v́ chính những người này đă đưa truyền đơn để em phân phát cho các bạn trong lớp. Quả nhiên khuya đến bọn chúng ập vào nhà, lôi em ra tra hỏi, rồi ném em vào chiếc xe bịt bùng lố nhố nhiều người bị bắt chạy về Ty Cảnh Sát Đặc Biệt, em bị tra điện để hỏi cung. Lần đầu tiên trong đời em bị mắng mỏ, bị sỉ nhục, ngược đăi. Luồng điện chạy khắp cơ thể, buốt tận tim óc. Chịu không nổi em đă thét lên, nước mắt giọt ngắn giọt dài lả chả trên khuôn mặt xanh mét của em. Những ngày tiếp theo chúng tiếp tục tra hỏi, vừa dụ dỗ vừa đe doạ. Biết không thể làm ǵ khác, lại sợ bọn chúng giở tṛ bỉ ổi, em buộc ḷng phải khai nhưng cũng đủ thông minh để chỉ khai tên những người em biết đă bị bắt (bọn chúng không cho gặp mặt nhau để dễ điều tra), c̣n các bạn trong lớp em bảo là có đưa truyền đơn nhưng không đứa nào chịu nhận. Nh́n cái mặt non choẹt, (giả vờ) ngơ ngác đến tội nghiệp của em, bọn chúng đă tin và thôi không dùng cực h́nh với em nữa. Em và N.T.L lớp đệ nhất A bị bắt và giam giữ tại đây.

Mười ba ngày ở nhà tù, ăn cơm tù, đêm đêm nghe tiếng la hét của những người bị tra tấn, tim em muốn vỡ, tinh thần em suy sụp, nhất là khi một người bạn của ba em vào thăm, để lấy ḷng bọn cảnh sát nới tay với em, đă mắng em như tát nước ”đồ bất hiếu!”. Em đă khóc như mưa, đau đớn tự hỏi có phải em thật sự là đứa con bất hiếu, đă làm cho cha mẹ phải đau khổ không (?). Em đâu biết suốt thời gian em bị giam giữ, cô và cả cô V.T.N, N.T.T cũng đă bị bọn cảnh sát mật vụ bắt giữ v́ cái tội tham gia vào phong trào và đă để học tṛ làm loạn.

Cô ạ, em không có dũng khí của một người anh hùng dám xă thân v́ đại nghĩa. Suốt thời gian ở tù em chỉ thấy nhớ nhà, nhớ cha mẹ, nhớ thầy cô, bạn bè, nhớ những giờ phút trên lớp học, nhớ những buổi sớm mai sương thu lành lạnh trên bến Thừa phủ, nhớ những chuyến đ̣ ngang chờ đầy học tṛ Đồng khánh-Quốc học sang sông đến trường, nhớ tiếng cười nói lao xao, nhớ những ánh mắt t́nh tứ kín đáo trao nhau. Những nỗi nhớ ấy khiến em không ngủ được, em cất tiếng hát những bài hát em vẫn thích “Nh́n những mùa thu đi em nghe sầu lên trong nắng, và lá rụng ngoài sân nghe tên ḿnh vào quên lăng …”, “Xa ĺa trường mến yêu, nhớ hồi trống vang trong bóng chiều, nhớ vành nón sao mà yêu kiều, nhớ tà áo bay dập d́u…” để tự ru ḿnh và xoa dịu nỗi buồn cho mọi người trong pḥng giam rộng mênh mông.

Thế mà sau biến cố ngày 1/11/1963 em trở về trường lại được cả lớp đứng dậy hoan hô như một người anh hùng, em thật xấu hổ chỉ muốn chui xuống đất. Ít lâu sau em được bạn bè chuyền cho xem một tờ báo đăng “Bức thư của một nữ phật tử đại diện cho các nữ phật tử trường Đồng Khánh chào mừng Đức Tăng Thống Thích Tịnh Khiết trở về Huế” kư tên L.T.V.L. và hỏi “Có phải mi viết không ?”. Tự em em biết không phải, vậy th́ ai ? Chỉ có một người đă làm việc này, đó là cô. L.K. biết chuyện cũng bảo đúng là như vậy. Cô đă yêu em và nghĩ rằng chỉ có em mới xứng đáng để cô dùng tên kư dưới một bức thư với lời lẽ cảm động và vô cùng trang trọng dâng lên Đức Tăng Thống, người mà đồng bào phật tử xem như một vị Phật sống. Cô đă làm rạng danh cho trường, dư luận trong và ngoài nước đă xôn xao về bức thư đó với sự thán phục nữ sinh Đồng Khánh, và cô cũng đem lại vinh quang cho em, nhiều người lúc bấy giờ đă biết đến em. Thậm chí có một lưu học sinh ở Pháp đă gửi thư làm quen sau khi đọc được bức thư, nhưng em không thể trả lời v́ không thể dối trá. Cô ơi, lúc bấy giờ em muốn chạy đến bên cô mà nói rằng “Cô quá thương em chứ thật ra em không xứng đáng”, thế mà do bản tính rụt rè, nhút nhát em đă không làm được, em đă khiến cho cô phải buồn ḷng. Sự ngăn cách t́nh cảm giữa cô và em cũng v́ cái bản tính đáng ghét này ngày càng lớn. Em thật sự vô cùng ân hận.

Thời gian trôi qua, em đă trở thành sinh viên đại học, nhiều lúc qua trường, em muốn ghé vào thăm cô, bày tỏ nỗi ḷng với cô, nhưng ḷng cứ ngập ngừng lại thôi. Rồi những buổi lên giảng đường, những giờ miệt mài trong thư viện, những đêm thức trắng học bài thi, cả men t́nh yêu nữa đă cuốn hút em khiến em không c̣n thời gian để nhớ về những kỷ niệm cũ. Thế rồi …một buổi chiều mùa đông mưa rả rích, em cùng người yêu về Thuận an ngắm cảnh biển vắng, t́nh cờ gặp lại cô trong một quán nhỏ cùng vợ chồng thầy H.V.G, nét mặt cô buồn rười rượi. Lúc bấy giờ do mặc cảm có lỗi, lại ngỡ ḿnh c̣n là học tṛ thuở trước và cũng vẫn do bản tính rụt rè đáng ghét, thay v́ chạy đến vồn vă hỏi thăm cô th́ ngược lại em chỉ lí nhí mấy tiếng chào cô trong cổ họng, một lần nữa em đă làm cô thất vọng về em. Cô thờ ơ gật đầu rồi đăm chiêu nh́n ra cảnh trời nước mênh mông buồn. Em cũng không kịp suy nghĩ v́ sao cô lại có mặt ở đây vào một chiều đông buồn như thế (?). Em đâu ngờ đó là lần cuối cùng em được gặp cô, cô và em đường đời chia đôi ngả kể từ sau cuộc gặp gỡ đó.

Em ra trường, nối nghiệp cô đem kiến thức và tâm huyết vào bài giảng, d́u dắt các thế hệ học tṛ trở thành những người hữu ích cho xă hội. Lúc này em đă dạn dĩ, đă trưởng thành, đă hiểu những ngốc nghếch của ḿnh thời đi học, muốn t́m đến cô để tạ tội th́ không được nữa rồi, năm 1967 cô đă thôi giữ chức hiệu trưởng và đă chuyển vào Nam. Công việc dạy học, làm vợ, làm mẹ đă khiến em không c̣n cơ hội t́m gặp cô, nhất là những năm chiến tranh ác liệt. Nhưng ḷng em luôn hướng về cô, qua những người thân quen để biết tin cô, đă bồi hồi ray rứt khi nghe những bất hạnh trong gia đ́nh cô.

Năm 1975 cuộc đổi đời lớn đă diễn ra trên khắp miền Nam nước Việt, tất tả ngược xuôi trong ḍng đời cay cực, em không c̣n nghĩ ǵ ngoài miếng cơm manh áo cho gia đ́nh. Thế rồi đột ngột nghe tin cô qua đời trong cô đơn quằn quại, em bàng hoàng đau đớn, đau đớn vô cùng v́ hoàn cảnh lúc bấy giờ không cho phép em về thắp cho cô một nén nhang gọi là để tạ lỗi trước vong linh cô.

Cô ơi, khi em giải mă được những ẩn số đời cô th́ cô đă thành người thiên cổ. T́nh yêu mănh liệt đối với Kiều, cái tên Ngộ Lang ở trang đầu quyển vở soạn bài, h́nh ảnh cô đơn trong chiều biển vắng, phải chăng đó là định mệnh oan nghiệt đă đẩy cô vào ḍng xoáy của nghiệp chướng? Một con người xinh đẹp, tài hoa với tâm hồn phong phú nhạy cảm như cô đúng ra phải được sống một cuộc sống hạnh phúc với một người tri kỷ hiểu cô và yêu quư cô, thế nhưng cô đă phải trả một giá quá đắt cho một khát vọng rất đời thường của một phụ nữ, đó là “được làm mẹ”.

Cô mất đi để lại niềm thương tiếc vô hạn cho nhiều thế hệ học tṛ và niềm ân hận khôn nguôi trong ḷng em. Nghiệp chướng đă trả xong, nơi miền tiên cảnh chắc cô đang thanh thản với câu kinh tiếng kệ sớm chiều. Đốt nén nhang ḷng mà tim rưng rưng, em cầu mong cô tha thứ cho đứa học tṛ vô tâm, ngu muội đă từng làm cô đau ḷng mà trên trần thế đă không c̣n một cơ hội nào tạ lỗi cùng cô.

Vĩnh Liêm Dalat

 

 

Trang Vĩnh-Liêm & Văn Uyên

 

art2all.net