NHỮNG KHÚC QUANH

CUỘC ĐỜI

Kính tặng thầy Đoàn Khoách

 (Nhân dịp Kỷ Niệm 50 Năm Thành Lập Đại Học Sư Phạm Huế, 1.7. 2007)

NGUYỄN THỊ YẾN


       Buổi sáng mùa xuân, tôi rảo bước quanh vườn, mỗi bước đi bàn chân tôi dịu dàng hôn lên thảm cỏ. Sáng nay, không có tiếng chim, chỉ có tiếng lá cây đong đưa xào xạc. Nắng rạng rỡ và trong gió thấp thoáng có mùi hương. Một bất ngờ thật dễ thương khi tôi nh́n thấy đám violet đầu mùa đang nở rộ. Ở Mỹ, khí hậu tốt, thiên nhiên trong lành, đất và phân bón là nguồn sống mạnh mẽ cho cây cỏ. Mấy đóa hoa violet cánh to, vươn lên khỏe đẹp, màu tím biếc nổi bật trên đám lá xanh tươi. Tôi ngồi xuống thật gần. Mùi hương tỏa nhẹ gợi trong tôi một cảm xúc rất con gái. Không phải t́nh cờ, mà thật ra mỗi loại hoa có mặt trong vườn nhà tôi đều có một ư nghĩa nào đó. Cây mộc là h́nh ảnh hai bụi hoa mộc của thân sinh tôi trong ngôi nhà vườn ở Huế. Khi hoa mộc nở trắng ngát hương cả khu vườn là khi tôi da diết nhớ đến ba tôi. Hoa hồng, hoa dạ lư, hoa ngọc lan, hoa quỳnh đều có những niềm thương quư trong tôi. Những đóa violet tim tím đă nằm trong ḷng đôi bàn tay nhỏ bé của tôi từ tuổi mười lăm, mười tám khi tôi vừa biết mộng mơ, nó cũng ghi dấu trong tôi kỷ niệm một thời. “Công chúa Violet” trong đêm Văn Nghệ Liên Khoa, tổ chức tại Đại Học Sư Phạm Huế, năm 1970 ... Nỗi nhớ bỗng xuôi ḍng chảy qua vùng kư ức, gợi trong tôi niềm mong mỏi được một lần gặp lại thầy cô và bạn bè. Không biết bây giờ thầy ở đầu, bạn ở phương nào?
       Cái đêm đáng nhớ năm 1970 ấy, lớp Việt Hán của thầy Đoàn Khoách với sự cộng tác của lớp Sử Địa đă đóng góp hai tiết mục văn nghệ: hoạt cảnh “Dạ Hội Muôn Hoa” và vũ khúc “Chiều Tà”. Trần thị Trà Mai độc vũ “Chiều Tà”, và chúng tôi Phan Bích Hà, Nguyễn thị Bạch Mai, Nguyễn Khoa Diệu Huyền, Nguyễn thị Kim Chi, Nguyễn thị Yến . . . trong màn hoạt cảnh. Bích Hà thủ vai “chú thằn lằn”, chủ nhân ông buổi dạ hội, c̣n mỗi diễn viên chúng tôi đóng vai công chúa của một loài hoa quư, hay giả trai làm công tước, bá tước, huân tước ... những vị thượng khách của đêm đại yến. Tôi “công chúa Violet” trong chiếc áo đầm dạ hội màu tím đă lọt vào sóng mắt của “bá tước Bạch Mai”. Trên sân khấu, buổi dạ hội thật đẹp đẽ, tưng bừng trong các điệu nhảy boston, tango, bolero, paseo ... Lớp Việt Hán năm thứ nhất của tôi nam nữ gồm 40 sinh viên, c̣n có chị Hàn Cúc Anh, Đoàn thị Nhỏ, Trần thị Kim Quỳ, Hoàng thị Thương, Nguyễn thị Liên Thi, Huỳnh thị Hồng Loan, Nguyễn thị Vân Hương ... Chao ơi, có thể nào một người được tắm hai lần trong cùng con nước của ḍng sông?
        Rồi năm tháng đi qua trên từng dấu vết cuộc đời, tôi ra trường không cùng một lần với các bạn, tốt nghiệp hạng tư, năm 1972. Nhiệm sở đầu tiên của tôi là trường Trung Học Đông Giang, Đà Nẵng. Sau hai năm, giữa 1974, tôi được hoán chuyển về dạy trường Quốc Học, Huế. Năm 1976, tôi chuyển về dạy tại Nguyễn Tri Phương, rồi Tây Lộc B, và Thống Nhất cho đến năm 1990. Gia đ́nh tôi rời Việt Nam, đến Mỹ vào tháng 5 năm 1990.
 

      Ba mươi lăm năm sau, kể từ ngày tốt nghiệp, tôi nhận được email của thầy tôi, thầy Đoàn Khoách. Một buổi hội ngộ kỷ niệm 50 năm Đại Học Sư Phạm Huế sẽ được tổ chức vào cuối tháng sáu năm 2007. Tin về buổi gặp gỡ quư báu hiếm hoi này đă khơi dậy cảm xúc trong tôi và có lẽ trong nhiều cựu giáo chức, công nhân viên và cựu sinh viên ĐHSP Huế. Tôi vui mừng, hồn nhiên trả lời email:
 

       “Kính thưa thầy Đoàn Khoách, quư thầy cô, anh chị và các bạn,
       Trước hết, em xin kính thăm thầy Khoách và quư thầy cô, các anh chị, các bạn. Em là cựu sinh viên ĐHSP Huế, tốt nghiệp năm 1972, và thầy Đoàn Khoách là thầy hướng dẫn của em, lớp Việt Hán.
       Em rất vui mừng nhận được email này. Em đă dạy học ở Đà Nẵng và Huế 18 năm, trước khi đến Mỹ, năm 1990. Em là cựu giáo sư/giáo viên các trường trung học Đông Giang ở Đà Nẵng, Quốc Học, Nguyễn Tri Phương, Tây Lộc B và Thống Nhất ở Huế. Đến Mỹ, em đă đi học lại, và được tiếp tục làm nghề dạy học. Hiện em đang ở Sacramento và đang dạy học tại Cosumnes River College, Sacramento, tiểu bang California. Niềm mơ ước một lần được gặp mặt ĐHSP đă nhen nhóm trong em từ mười mấy năm qua, em xin được bày tỏ niềm vui và rất mong ước được gặp lại các thầy cô, các anh chị, và các bạn trong dịp kỷ niệm 50 năm ngày thành lập ĐHSP Huế.

       Kính thư,
       Nguyễn thị Yến”

 

      Một đời nhà giáo với những khúc quanh chợt hiển hiện rơ ngời trong tôi, như chưa bao giờ rơ hơn thế.

       Ngày 17 tháng 3 năm 1975, khi nhiều người đang xôn xao, lục đục rời bỏ Huế, tôi đến trường Quốc Học gặp anh hiệu trưởng Phan Khắc Tuân xin nghỉ phép, để lo việc di tản gia đ́nh vào Đà Nẵng. Không ngờ chính lúc này, cùng với lịch sử dân tộc, đời tôi bắt đầu rẽ vào một khúc quanh!

       Đêm 5 tháng 4 năm 1975, tôi bắt đầu ghi ...
 

      Con đường Bạch Đằng trống hoác. Con đường dài thênh thang của những buổi sáng lồng lộng, những buổi chiều nắng vàng phủ ngập và đầy sức sống, bây giờ vắng tanh đến rợn người. Anh ở đâu? Ai đem gia đ́nh về lại Huế? Không một bóng người. Tôi đứng đó. Gió sông Hàn phần phật. Tiếng vỗ của những con sóng rối rắm, chồng lên nhau, chen lấn, di động như không hề dứt. Dấu tích của con tàu với hàng ngàn người bương bả t́m sống trong cái chết mới hôm kia, giờ ch́m sâu. Cái dấu lặng mơ hồ trên bề mặt của nước đang rần rật cuồn cuộn xoáy trong tôi. Nước màu đen, trời màu đen. Chỉ có ngọn đèn trên kia đang tỏa chút ánh sáng, dửng dưng, thách thức. Chờ ai? Thằng bé cựa quậy trên tay, miệng mấp máy như muốn hỏi. Ḿnh chờ ba con ạ! Tôi trả lời con bằng cái nh́n da diết rót thẳng vào đôi mắt đen láy của thằng bé mười tháng tuổi. Rồi cái nh́n ấy xa xăm, mất hút tận cuối con đường dài. Từ đầu đến cuối đường không một bóng người. Tôi quấn chặt con trong ṿng tay. Ngồi đó đợi. Cho đến khi bóng tối phủ khắp, hơi sương ập xuống thấm lạnh đến không chịu nỗi.
        Mười hai ngày vô vọng. Tôi quyết định đem các con trở lại Huế!
       Chiếc tàu thủy lắc lư rời bến Bạch Đằng khi mặt trời đă đứng bóng. Ba đứa con và tôi say mèm, nhiều người nôn tháo thốc v́ không chịu nổi sức xô đẩy liên tục của con tàu với những đợt sóng khủng khiếp. Giữa trùng khơi, con tàu cứ bồng bềnh. Khi trong bụng mỗi người không c̣n chi nữa, môi khô, ngủ. Thế rồi cũng đến. Nơi con tàu đổ là một băi đá đen. Từng đợt người chen lấn ồ ạt lên bờ, tranh nhau vượt qua băi đá. Thằng Trung nằm trong tay tôi không khóc, nó áp khuôn mặt xanh xao vào ngực mẹ, đưa mắt nh́n đám người nhốn nháo, lắng nghe những âm thanh hăi hùng vây quanh. Thằng Bằng bốn tuổi, một tay dắt con An, một tay giữ vali. Đôi mắt nó đăm đắm nh́n vào đám người hỗn loạn. Tiếng xe nổ, đến rồi đi, tiếng người căi cọ, trả giá, dành nhau. Thế rồi, mỗi người cũng t́m ra được một chuyến xe.
 

       Tôi c̣n nhớ như in ngày trở lại Huế, 17 tháng 4 năm 1975, sau một tháng di tản vào Đà Nẵng. Tôi đă trào nước mắt khi đến Huế. Buổi sáng hôm ấy trời trong và có nắng, con đường vào thành nội hai hàng cây xanh ngát, đường Đinh Bộ Lĩnh nhỏ nhắn, thẳng tắp. Huế mát mẻ trong lành. Mọi vật đều thân quen, nhưng ḷng tôi chua xót ngỡ ngàng. Huế ơi!
       Sáng hôm sau, tôi trở lại trường Quốc học tŕnh diện. Một Quốc Học đă đổi sắc, từ ấy! Những thảm cỏ xanh, những bồn lá đỏ giữa sân trường bắt đầu và dần dần nhường chỗ cho những đám rau lang, những vồng sắn. Nề nếp hoàn toàn thay đổi. Hôm nay chia thịt. Pḥng giáo vụ biến thành quày hàng thịt. Cần một vài nhân viên t́nh nguyện cắt, chia và bỏ thăm cho thầy cô. Tôi lẩn vào giữa hàng, đứng phía sau, tránh nh́n thấy khi các giáo sư đưa tay ra nhận gói thịt. Thế rồi quen dần, những lần chia nước mắm, những lúc chia đường. Ôi thầy cô, ban đầu có người tặng bạn phần tiêu chuẩn để khỏi cầm về, theo thời gian, đă quen với chế độ tem phiếu. Đầu quư, thầy cô đua nhau đạp xe đi từ khi trời chưa sáng, để sắp hàng. Khi mặt trời lên, khung cửa sổ vừa mở, và khi mùi thịt sống bốc lên là khi đám người bắt đầu xô đẩy nhau. Những đôi mắt đau đáu nh́n vào mấy khối thịt. Chen lấn, dành giựt, rủa nhau và hạnh phúc cũng ở đấy, đơn giản. Mỡ. Chị cho em ba lạng mỡ. Chị cho em miếng ba-rọi. Anh Nam cố chèn thân ḿnh lọt ra khỏi đám đông, nh́n tôi cười, đưa cao miếng thịt nói dơng dạc: một ngày hạnh phúc! Tôi và những cô giáo được phân công đi lao động ngày chủ nhật, làm vệ sinh chợ Đông Ba, đi làm sạch đường phố. Hôm nào đỏ mặt v́ chở bó hoa - cái chủi rành được gói trong giấy, theo tháng ngày, đă trở nên thành thạo khi cột cái xẻng, cái cuốc vào xe đạp lên đường từ sáng sớm đi lao động công ích. Cuộc sống thay đổi quá nhanh ngoài sức tưởng tượng của mỗi người. Chiếc xe dạp mini, đầu năm 1975, tôi mua v́ vẻ đẹp thanh lịch của nó, v́ thích có những buổi chiều lang thang một ḿnh đạp xe trên những đoạn đường Hàng Đoát, Lê Lợi, bây giờ, chiếc mini là phương tiện vận chuyển duy nhất của gia đ́nh. Hàng ngày tôi đưa con đi mẫu giáo. Sáng đến trường, chiều về, tôi đi chợ Đông Ba mua bán. Tất cả việc trường, việc nhà cũng chỉ nhờ vào hai bánh xe nhỏ dẻo dai, bền bỉ ấy.
          Từ Quốc Học, năm 1976, tôi được chuyển qua dạy trường Nguyễn Tri Phương một năm, rồi xuyên qua nội thành đến tận cùng cửa Chánh Tây, tôi về dạy tại trường Tây Lộc B bốn năm. Nhà tôi ở trước hồ Tịnh Tâm, mỗi ngày, từ sáng sớm tôi đạp về hướng đông đưa con đi học, rồi quay lại trực chỉ hướng tây đạp mau đến trường. Có những buổi chiều đi học tập nghị quyết, đến giờ con băi, xin phép đi đón con. Cắm đầu đạp từ tây sang đông, đưa con ghé nhà, tôi lại lên trường học tập tiếp. Những lúc làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm, buổi tối đi họp công đoàn, rồi c̣n làm thêm giờ nghỉ, cô chủ nhiệm đi thăm góc học tập của các em vào những ngày cuối tuần … Cũng nhờ chiếc mini ấy, theo kế hoạch rau xanh ngắn ngày, từ thành nội tôi đạp lên Chín Hầm đưa học sinh đi vỡ đất trồng sắn, cùng tập thể giáo viên đạp ra Phong Sơn trồng khoai. Khi về trường Thống Nhất, mười năm, cho đến năm 1990, cũng chiếc xe mini ấy, ngày hai buổi sáng trường chiều chợ nuôi con ...
        Tháng 2 năm 1990, tôi cất viên phấn, trả lại bục giảng, và giả từ các học sinh thân yêu. rời bỏ khúc quanh, làm cuộc đổi đời.
       Ôi quê hương, ai ra đi mà không mang nặng nỗi niềm! Tôi c̣n nhớ như in ngày bước chân ra phi trường Tân Sơn Nhất, 11 tháng 5, 1990. Buổi sáng có nhạc nắng, sân bay thênh thang, gió lùa tóc mơn man như lụa gấm mượt mà. Từ trên cao những bàn tay vẫy, những ḍng nước mắt tuôn trào trên khuôn mặt người thân. Bước lên nấc thang cuối cùng, thả va Ii, tôi quay lại, một lần nữa, vẫy hai tay. Vâng, tôi sẽ về!

         Ngày 18 tháng 5 năm 1990, gia đ́nh tôi đến Mỹ. Redding, một thành phố không thấy người Việt, nằm ở phía bắc tiểu bang California, đă đón nhận chúng tôi vào một buổi chiều khá lạnh. Bên cạnh sự choáng ngợp trước xă hội văn minh, và giàu có của xứ người, là nỗi nhớ quê hương và sự lo lắng cho tương lai, chúng tôi bắt tay xây dựng lại cuộc đời ngay trên thành phố hiền ḥa, yên tĩnh này. May mắn thay, những tấm ḷng từ thiện của người bản xứ đă nhanh chóng sưởi ấm, khuyến khích và giúp đỡ chúng tôi ḥa nhập vào cuộc sống mới một cách tự nhiên. Cả gia đ́nh tôi đi học. Các con tôi vào trường High School. C̣n vợ chồng tôi đem theo đứa con gái út, bé Cali vừa tṛn năm tháng tuổi, đến học tại Adult Education Center, một trung tâm giáo dục dành cho người lớn, cho đến một năm sau, mới đủ tiêu chuẩn vào học trường đại học cộng đồng.
        Phải chăng mỗi nhà giáo thường gắn cho đời ḿnh mối duyên nợ với tuổi trẻ? Năm 1993, gia đ́nh tôi chuyển về thành phố Sacramento, thủ phủ tiểu bang California, tiếp tục những ngày đầy ắp lo toan và gánh nặng công việc. Chuyện học hành, sách vở, chăm sóc gia đ́nh, đi làm kiếm sống đă trĩu oằn cả hai vai, mà lạ quá, khi ghé thăm trường Việt Ngữ Lạc Hồng, một trung tâm thiện nguyện dạy tiếng Việt cho trẻ em Việt Nam, tôi cứ bâng khuâng một nỗi, nỗi nhớ mênh mông. Lắm khi là nỗi dày ṿ. Tôi chưa làm được ǵ cho em cả, em đang ở xa vời vợi, Hường ơi! Làm sao cô không ray rứt khi thư em viết: “... Em phải đi bộ 4 cây số đường núi đến bưu điện để nhận thư cô. Đường về, em chạy cô ơi, em la to, bác ơi con nhận được thư Mỹ, cô giáo con gởi cho con. Em la to lắm cô ơi. Em la to, anh ơi, anh đâu rồi, em nhận được thư Mỹ, ... cô giáo em ...” Rồi thôi, từ dạo ấy, h́nh ảnh em và con đường đất đỏ xa xôi nào đó bên quê nhà mất hút theo bóng thời gian. Chỉ c̣n ... tiếng la to của em lâu lâu lại vọng về, nhói trong ḷng tôi! Hường ơi, có phải con đường đất đỏ heo hút từ núi rừng Trường Sơn, và tiếng la to lắm của em, đă giữ cô lại với trường Việt Ngữ Lạc Hồng? Năm 1995, tôi trở thành hội trưởng Hội Phụ Huynh & Giáo Chức, đảm trách điều hành trường Việt Ngữ Lạc Hồng, nhiệm kỳ 1995-1997. Cũng từ công việc này, tôi trở thành một người hoạt động xă hội tích cực, gắn bó không thể nào dứt với các hoạt động văn hóa và tuổi trẻ của cộng đồng Sacramento...
        Lần theo ngơ vào đại học như một học sinh vừa tốt nghiệp trung học ở Mỹ, sau gần mười năm dùi mài “kinh sử”, tôi đă may mắn hoàn tất việc học. Đây là một khúc quanh mới, đẹp đẽ, nhưng đầy cam go, mà tôi đă hy sinh đánh đổi rất nhiều. Vừa đến lớp, vừa đi làm, tôi c̣n phải làm tṛn bổn phận gia đ́nh. Đi học, tôi như người vượt biên, khi con thuyền đă ra khơi chỉ c̣n một ước mơ duy nhất là đến được bến bờ mơ ước. Có ǵ đằng trước cứ réo gọi, đằng sau là sức đẩy, và cứ thế, con thuyền tôi đi tới. Đi học, chịu khó, can đảm, bền bỉ, may mắn và hy sinh! Tất cả những thứ ấy, cả sự réo gọi đằng trước và sức đẩy đằng sau, đó là những ǵ đă bén rễ trong tôi, đă nuôi dưỡng tôi từ khi tôi c̣n là một nữ sinh dưới mái trường Đồng Khánh, là một sinh viên Đại Học Sư Phạm và ngay cả trên bục giảng, khi tôi đă trở thành một nhà giáo. Một nhà giáo mười tám năm kiên tŕ quyết không quăng viên phấn, dù phải bao lần chông chênh trước những bức bách của đời sống tinh thần, vật chất trên quê hương.
        Cũng như nhiều người Việt tị nạn ở đây, những tháng năm đầu, vừa đi học, tôi vừa kiếm sống bằng những công việc bán thời gian. Năm 1993, khi gia đ́nh đă chuyển về sống tại thành phố Sacramento, tôi được nhận vào làm phụ giáo tại một trường trung học thuộc học khu San Juan, và liền sau đó, được nhận vào làm một nhân viên song ngữ toàn thời gian (full time bilingual associate) cho hoc khu Elk Grove. Sau ba năm gián đoạn kể từ ngày rời Việt Nam, trở lại làm việc với môi trường giáo dục ở xứ người, tôi đă vui mừng không ít. Có một kỷ niệm thật xúc động, cho đến bây giờ khi viết những ḍng này, tôi vẫn rưng rưng. Đó là buổi sáng đầu tiên khi tôi đến nhận công việc tại trường Highlands High School, thuộc học khu San Juan. Khi tôi vừa vào trường, từ băi đậu xe đi bộ về hướng văn pḥng, một nhóm học sinh nam và nữ đang ngồi ở hàng hiên, đứng dậy chào tôi bằng tiếng Việt “thưa cô, thưa cô”. Tôi dừng lại, bàng hoàng tưởng như ḿnh đang ở Huế, trong sân trường Thống Nhất. Mà không, mấy cậu tóc vàng, tóc quăn, Mỹ, Mễ, trắng, đen đang chạy chơi đuổi nhau la ó rần rật đằng kia. Đây không phải là quê nhà! Tôi ứa nước mắt chào các em và hỏi “Tại sao các em biết cô?” Một em, sau này tôi mới biết em là người Việt gốc Chàm, trả lời vừa bằng tiếng Anh vừa tiếng Việt, “Em nghe bà counselor nói, sáng nay, sẽ có một cô người Việt đến làm ở trường này. Bọn em chờ cô ở đây để ‘say hello’ và bọn em biết ngay cô là người Việt.” Tôi mỉm cười, ḷng vui khi bắt gặp trong ánh mắt các em niềm thương mến rất Việt Nam. Ấn tượng thân thương này, vừa làm tôi càng nhớ các học sinh ngày xưa của tôi ở Huế, vừa là chất keo gắn chặt t́nh thầy tṛ chúng tôi, thúc đẩy tôi chịu khó từng ngày, làm tốt từng công việc của ḿnh, trong suốt gần bốn năm tôi làm việc tại học khu.
        Cuối năm 1999, khi vừa tốt nghiệp, tôi bắt đầu làm một cán bộ xă hội (social worker) cho cơ quan Chăm Sóc Trẻ Con Nuôi (Foster Care), và từ giữa năm 2000, tôi trở thành giảng viên trường Cosumnes River College cho đến nay. Hôm ấy, sau buổi phỏng vấn và biết ḿnh được nhận vào dạy tại trường này, tôi nghe ḷng mới mẻ, hân hoan. Và lạ chưa, từ trên bực cấp của sân trường bước xuống, giữa mùa hè trời nắng chang chang, hướng về băi đậu xe, tôi chợt thấy lại qua kư ức và nghe rơ ràng như thật, một mảnh trời thân thương rất mát dịu của Huế, trong đó có tiếng cười trong trẻo của bạn bè tôi giữa sân trường đại học, và tiếng nhạc vui, cả tiếng chuông nhà thờ đổ... mà cho đến nay, tôi không thể nào giải thích được.
       

        Bảy năm qua, c̣n được tiếp tục đứng trên bục giảng xứ người là một phần thưởng lớn đối với tôi. Ngoài ra, tôi là người may mắn có được cơ hội giúp đỡ, gần gủi với tuổi trẻ Việt Nam rất dễ thương ngay dưới mái trường này. Phải nói rằng, chúng ta thật sự hănh diện với những thành công của tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại. Các em có khả năng sánh vai với tuổi trẻ trên khắp năm châu, đă và đang góp phần vào sự phát triển văn minh và giàu có của thế giới. Tại Cosumnes River College, hằng năm, chúng tôi tổ chức các hoạt động tham gia cùng với nhà trường trong các dịp lễ, nhất là các Tuần Lễ Văn Hóa Á Châu. Chúng tôi luôn luôn sẵn sàng nắm lấy cơ hội để nói với mọi người “Chúng tôi là người Việt Nam!” Ngoài những đóng góp nhỏ nhặt nhằm giới thiệu những nét đặc thù của người Việt qua những tṛ chơi trẻ em như đánh thẻ, chơi căn cù, bịt mắt bắt dê, nhảy ḷ c̣..., qua các món ăn như chè trôi nước, chả gị, nem nướng, bánh nậm, xôi ṿ..., hay các vở kịch “Lưu B́nh Dương Lễ”, “Ba Anh Em Nhà Họ Nguyễn” ... chúng tôi đă không ngại khó khăn thực hiện các công tŕnh (project) lớn như “Cuộc Hành Tŕnh Từ Việt Nam Đến Mỹ”, “Hội Chợ Tết”, “Tết Trung Thu” ..., hay kết hợp với các tổ chức cộng đồng thực hiện ngày “Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương”... ngay trong sân trường Cosumnes River College. Những công tŕnh này, tôi biết, đă gây ấn tượng khá rơ nét trong suy nghĩ của người bản xứ và các sắc dân khác về đất nước và con người Việt Nam.

        Mới đó mà đă mười bảy năm làm cuộc đổi đời. Mới đó mà tóc tôi đă pha màu sương trắng. Một đời nhà giáo với những khúc quanh. Một đời phấn trắng bảng đen, một đời bục giảng và những ánh mắt tuổi trẻ thân thương. Càng yêu nghề, càng gắn bó với tuổi trẻ, tôi càng biết ơn các thầy cô, và thương nhớ không nguôi mái trường xưa. Làm sao tôi quên được đă một thời là nữ sinh Đồng Khánh. Làm sao tôi không xúc động khi nh́n lại quá khứ đă tốt nghiệp từ mái trường Đại Học Sư Phạm Huế thân yêu!

NGUYỄN THỊ YẾN
Sacramento,15 tháng 4, 2007


 

trang uyên nguyên

art2all.net