NGUYỄN THỊ YẾN

  

Tinh Thần Bồ Tát

Trong Thiền Tánh Không

 

 

Từ năm 2000, tôi bắt đầu thật sự dành thời gian để đọc và t́m hiểu Phật giáo.  Có mười một anh chị em cùng chí hướng, chúng tôi gặp nhau theo thời khoá biểu hằng tháng để trao đổi những bài Phật pháp và sau đó thành lập Nhóm Học Phật Lộc Uyển tại Sacramento.  Sinh hoạt của nhóm có nhiều lợi lạc và theo thời gian có thêm đông thành viên.  Bộ Phật Học Phổ Thông gồm 4 tập dày của Hoà Thượng Thích Thiện Hoa là bộ sách gối đầu của chúng tôi.  Ngoài ra, online là nguồn tư liệu Phật pháp dồi dào cho chúng tôi nghiên cứu và học hỏi, cho đến nay đă qua gần mười hai năm sinh hoạt.

Trong quá tŕnh học Phật, tôi đă may mắn đi vào con đường Thiền bằng những bước chân êm ả của những tháng ngày rất dịu ngọt: có Mẹ bên tôi!  Thời gian này, Mẹ tôi đến Mỹ thăm và ở lại với chúng tôi.  Lần đầu tiên tiếp xúc với Thiền vào năm 2003, là dịp Mẹ tôi cùng đi với Nhóm Học Phật Lộc Uyển của chúng tôi lên thiền viện Diệu Nhân.  Đây là một ngôi thiền viện nhỏ, đẹp và tĩnh lặng luôn phảng phất hương thiền, nằm ở một vùng cao thuộc miền đông thành phố Sacramento, thủ phủ tiểu bang California.  Tôi gọi Diệu Nhân là chiếc nôi Thiền của tôi một cách thân thương là cũng v́ thế.  Tiếc rằng, lúc này tôi không đủ duyên để thỉnh thoảng lên Diệu Nhân thọ Bát quan trai, hay tham dự các khoá tu, ngày lễ. 

Tôi bước tiếp và rẽ vào ḍng Thiền Tánh Không từ năm 2008.  Càng học và thực tập, con đường thiền càng mở rộng trước mắt tôi, tươi sáng, an lạc và rất quyến rũ.

Sau ba năm sinh hoạt đều đặn, để đáp ứng nhu cầu của thiền sinh, đạo tràng Tánh Không Sacramento được chính thức thành lập vào năm 2011, dưới sự chứng minh và tham dự của Thầy thiền chủ, ni sư Triệt Như và một số tăng ni, cư sĩ từ thiền viện trung ương và đạo tràng San Jose. 

Một số anh chị em chúng tôi từ đạo tràng Tánh Không Sacramento được đề nghị đi học khoá Giáo Thọ dành cho cư sĩ.  Có thể nói, dường như tất cả chúng tôi tham gia khoá học này là để học hỏi chứ không phải để trở thành một người giáo thọ cư sĩ.  Lư do, tôi quan niệm, người giáo thọ phải là một vị xuất gia có đầy đủ đạo hạnh, có kiến thức uyên thâm về Phật pháp và thật sự có năng lực hướng dẫn người tu tập.  Ngay trong khoá học đầu tiên, Thầy dạy: “Giáo Thọ vừa không ra ngoài quy cách truyền thống, vừa ‘cấp tiến’, đáp ứng nhu cầu Thiền Đi Vào Đời Sống Con Người trong bối cảnh cuộc sống hiện đại thế kỷ thứ 21 theo ḍng lịch sử phát triển của con đường tâm linh Phật Giáo.  Ban giáo thọ cư sĩ sẽ được thành lập sau các khoá tu học chuyên đề Giáo Thọ.  Người giáo thọ cư sĩ sẽ có dịp đóng góp công sức ḿnh trong ban giáo thọ tuỳ theo khả năng của tự thân.  Không phải ai tham dự các khoá giáo thọ cũng có thể trở thành người đứng lớp để hướng dẫn pháp môn Thiền, cho dẫu đă nhận được chứng chỉ tốt nghiệp và đứng lớp.” (1) … Hiểu được như thế, chúng tôi yên tâm tiếp tục tham dự các khoá giáo thọ tiếp theo.  Dẫu vậy, sau khi học xong các khoá giáo thọ căn bản, được lệnh của Thầy thiền chủ, mỗi đạo tràng chuẩn bị thành lập Ban Giáo Thọ chính thức tại địa phương, nhiều thiền sinh bối rối.  Bối rối của thiền sinh thể hiện dưới một vài h́nh thức khác nhau.  Một số xác định rơ mục đích tham dự các khoá giáo thọ là chỉ để học hỏi và tu tập cho bản thân.  Những băn khoăn khác bắt nguồn từ ư tưởng cho rằng việc đảm nhận trọng trách “giáo thọ” là chưa hề có trong hàng cư sĩ. 

 

*

 

Chỉ thị của Thầy Thiền Chủ như một tiếng chuông vừa gióng lên.  Tiếng chuông ngân rồi lắng sâu vào tâm thức thiền sinh.  Năm 2013 mỗi đạo tràng ở các địa phương sẽ tổ chức một Ban Giáo Thọ chính thức, mở các lớp Thiền Căn Bản, lănh trách nhiệm hướng dẫn người khác học Thiền Tánh Không.  Những trăn trở có ngay trong khoá học ấy.  Đó là hai ngày tu học, 15 và 16 tháng 9 năm 2012 tại thiền viện trung ương.  Băn khoăn là phải.   Từ một thiền sinh giáo thọ đến một giáo thọ cư sĩ … tôi nghĩ, phải là một con đường dài tinh tấn tu học và tu tập, có khi phải cần đến cả một đời – một đời người biết lấy tâm Bồ đề làm sức sống hướng đến trí tuệ vô ngă.  Đó là con đường thực tập trở về với chính ḿnh để nhận ra tánh giác và phải thực tập miên mật để tánh giác thường xuyên có mặt.  Con đường này, Phật dạy trong Kinh Lăng Nghiêm, là con đường trở về với thể tánh chân tâm thường trụ để có được cái thấy như thật, đưa đến giác ngộ, phát huy trí tuệ tâm linh và giải thoát.  Con đường đồng với ư nghĩa trong Kinh Pháp Hoa: “Khai thị ngộ nhập Phật tri kiến”.  Thông báo gởi đến cho tất cả các đạo tràng theo chỉ thị của Thầy với một chương tŕnh ghi rơ.  Thầy nhấn mạnh: “Đặc biệt cần thiết sự có mặt các đạo tràng Nam Cali, San Jose và Sacramento”.  

Năm anh chị em chúng tôi thu xếp công việc cùng nhau khăn gói lên đường.  Chúng tôi đi bằng xe phải mất hơn bảy tiếng mới đến thành phố Perris.  Từ đường cái rẽ vào, con đường dài đất đá gổ ghề giữa núi đồi thanh vắng hướng về mái ấm tâm linh đă trở nên thân quen với tôi.  Ngôi thiền viện có diện tích quá rộng lớn, xây dựng chưa hoàn chỉnh nhưng tự nó mang đậm nét thiền, được cất ngay giữa một băi sa mạc đầy những khối đá lớn nhỏ trùng trùng, thuộc miền tây nam tiểu bang California.  Cuối chiều hôm ấy, một ḿnh đứng giữa đất trời hoang sơ, xanh tươi cây lá, không gian lặng lẽ thênh thang tự nhiên thấm nhẹ vào thân tâm, cho tôi một nguồn năng lượng tràn đầy yêu thương.  Cảm nghe niềm an lạc, tôi thầm biết ơn sự hỗ trợ của gia đ́nh, t́nh gắn bó của anh chị em từ đạo tràng Sacramento đă tạo duyên lành cho tôi có dịp về lại nơi đây, được gặp lại Thầy, gặp lại Ni Sư, tăng đoàn và các bạn đạo cùng tham dự khoá học. 

Lần này, chương tŕnh học được Thầy thực hiện hơn cả nghiêm túc.  Thời gian dạy vượt trội hơn thời gian đă sắp xếp ghi trong chương tŕnh.  Khoá học bắt đầu lúc 10 giờ sáng ngày thứ bảy, trong lúc thời gian ấn định ghi trong chương tŕnh là bắt đầu lúc 3 giờ chiều.  Buổi sinh hoạt cuối cùng đă kết thúc lúc 2g30 chiều chủ nhật, trong khi thời khoá biểu thông báo kết thúc chương tŕnh lúc 12 giờ trưa.  Thầy thiền chủ, Ni Sư và thầy Không Chiếu cùng tăng đoàn đă dành tất cả nổ lực cho khoá học.  Tất cả thiền sinh thọ nhận những lời dạy ân cần của Thầy thiền chủ.  Sinh hoạt tập trung vào chủ đề.  Tăng đoàn có mặt đông đủ, trang nghiêm và thanh tịnh.  Thầy thiền chủ sau thời gian dài nhập thất có gầy đi nhưng hồng hào và khoẻ khoắn, sáng suốt chỉ đạo.  Ni sư Triệt Như đạo hạnh, đầy trí tuệ thực hiện các bài giảng “tuyệt chiêu” do Thầy chỉ định.  Thượng toạ Không Chiếu khiêm cung và vững chăi.  Đây là hai vị giáo thọ đang trực tiếp cùng Thầy thiền chủ thực hiện không ngừng các khoá tu học khắp nơi để hoằng hoá giáo pháp của Đức Bổn Sư theo đường lối và chủ trương của Thiền Tánh Không.  Các thiền sinh giáo thọ thuộc hàng “cao thủ vơ lâm” cũng được Thầy gián tiếp giới thiệu trong dịp này.

Nội dung khoá học đi theo đúng tŕnh tự của những bài dạy với các chủ đề được ôn lại rơ ràng, sâu sắc dành cho các thiền sinh giáo thọ.  Đó là: (a) Nguyên tắc điều hành và vai tṛ của Ban Giáo Thọ, (b) Nhiệm vụ của Ban Giáo Thọ trong năm 2013, (c) Các bài giảng đặc biệt cho Ban Giáo Thọ: Thở, Niệm Nhận Thức.

Trước khi đi vào phần giảng dạy, được lệnh của Thầy thiền chủ, ni sư Triệt Như tŕnh bày tổng kết về sinh hoạt các đạo tràng nói chung và trong năm 2012 nói riêng.  Có tất cả 14 đạo tràng trên các nước, trong đó có 13 đạo tràng đang hoạt động tốt và đều đặn.  Ở Mỹ có các đạo tràng: Houston - Texas, Nam California, San Jose, Sacramento, Florida, Virginia, Hoa Thịnh Đốn; ở Pháp có các đạo tràng Toulouse, Paris và Poitiers– là một đạo tràng mới đang thành lập; ở Canada có đạo tràng Toronto; ở Thuỵ Sĩ có đạo tràng Thuỵ Sĩ; và một đạo tràng ở Úc.  Trong số này, có một số đạo tràng đang sinh hoạt mạnh và phát triển rất tốt, có rất đông thiền sinh.  Các đạo tràng khác đang sinh hoạt đều đặn.  Có đạo tràng hầu hết là người bản xứ như đạo tràng Toulouse ở Pháp.  Ở Mỹ, sinh hoạt Thiền Tánh Không chưa đủ duyên để phát triển đến cộng đồng người bản xứ.  Đạo tràng Houston và đạo tràng Nam Cali hoạt động mạnh mẽ nhất.  Đạo tràng San Jose phát triển rất tốt.  Đạo tràng Sacramento sinh hoạt rất đều đặn, có nền nếp.  Ni sư cho biết, có hai điều kiện chính để một đạo tràng có thể phát triển mạnh và tốt: đó là có cơ sở vật chất ổn định và ban điều hành hoạt động tốt. 

Nói đến công việc của người giáo thọ, Thầy thiền chủ nhấn mạnh: Chủ trương và đường lối của Thiền Tánh Không là hướng dẫn thực hành thiền theo con đường của Đức Phật Thích Ca để giúp hành giả  “hài hoà thân tâm” đi đến “thoát khổ, giác ngộ và giải thoát ”.   Thầy nói: Giáo lư của Thiền Tánh Không là sự kết hợp tinh hoa của các hệ Thiền:  Phật giáo Nguyên Thuỷ, Phật giáo Phát Triển và Thiền Tông.  Ngoài việc truyền đạt kiến thức Phật học và kiến thức Thiền học, người giáo thọ mượn kiến thức khoa học về năo bộ để giải thích rơ ràng phần lư thuyết và dùng kiến thức kỹ thuật để hướng dẫn thực hành bốn phương thức thiền căn bản của Phật dạy: Quán, Chỉ, Định, Huệ.  … Vai tṛ của người giáo thọ mang ư nghĩa tinh thần Bồ Tát theo truyền thống của Chư Phật, dùng phương tiện giaó hoá, đem lại lợi ích thiết thực cho người.

 

*

Trong lịch sử Phật giáo, Tinh thần Bồ tát là lư tưởng cao cả nhất của cả hai hệ: Phật giáo Nguyên thuỷ và Phật giáo Đại thừa (hay Phật giáo Phát triển). “Phật giáo Đại thừa nhấn mạnh đến sự nghiệp của một vị Bồ tát – trái tim khát vọng cứu độ hết thảy chúng sinh, cho đến khi không c̣n một chúng sinh nào đắm ch́m trong cơi khổ đau, th́ khi đó ngài mới hoàn tất công vụ ‘nhiêu ích hữu t́nh’ của ḿnh.” (2)  Phật giáo Nguyên Thuỷ quan niệm: “Bồ tát là một con người giữa chúng ta mà đă dành trọn đời ḿnh cho sự thành tựu phẩm hạnh viên măn và cuối cùng trở thành một vị Phật toàn giác v́ lợi ích và hạnh phúc của chư thiên và nhận loại.” (3)

Tinh thần Bồ tát có thể thực hiện dưới nhiều h́nh thức khác nhau nhưng ư nghĩa chung là phụng sự v́ lợi ích tha nhân với tâm vô ngă.  Là cư sĩ, có lẽ bạn cũng như tôi, chưa hề quan tâm đến lư tưởng giác ngộ tối thượng để trở thành một vị Phật toàn giác, bởi một điều dễ hiểu, chúng ta là những người thế tục đang sống và đang chịu ràng buộc giữa cuộc đời đầy những bất an, buồn vui, được mất, lo âu … Cho nên mong ước sự giác ngộ tối thượng có thể là một điều huyễn hoặc hay quá xa vời đối với chúng ta lúc này.  Tuy nhiên, ước mong có một thân tâm hài hoà, một cuộc sống an lạc và nhất là, được an trú trong tỉnh thức là điều chắc chắn đang có mặt trong bạn và trong tôi.  An trú vững chắc trong tỉnh thức sẽ giúp thân tâm bạn hài hoà và cuộc sống của bạn sẽ an lạc. 

Cuộc sống là một gịng trôi biến hiện không ngừng, bởi lẽ vô thường, vạn pháp đổi thay trong từng giây phút.  Với đôi mắt thế gian, sự đổi thay có khi làm cho cuộc sống xấu đi và cũng có khi làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn.  Thế nhưng, chỉ khi an trú trong tỉnh thức, bạn mới có cái thấy biết đúng về sự thật của cuộc sống.  Sự tỉnh thức này có thể được hiểu khác nhau, từ đơn gỉản đến sâu sắc, tuỳ theo góc độ cuộc sống của mỗi người.  Mong ước được an trú trong tỉnh thức của mỗi người, từ đó, cũng có thể khác nhau.  Tuy vậy, dẫu đứng ở góc độ nào, tất cả chúng ta đều thừa nhận sự tỉnh thức-giác ngộ mới thật sự là sự tỉnh thức hoàn toàn về cuộc sốngKhi tỉnh thức, đôi mắt thế gian của bạn thay đổi.  Lúc ấy, bạn mới hiểu, chỉ có sự tỉnh thức mới có thể cho bạn khả năng sống an lạc, nhất là khi đối diện với băo tố cuộc đời.  Khả năng này không thể đến với bạn trong khoảnh khắc mà “tiệm tiến”.  Từ sơ cơ, bạn thực tập để nhận ra thế nào là sự tỉnh thức tức là niệm biết không lời, tiếp tục thực tập thường xuyên, bạn sẽ kinh nghiệm thầm nhận biết, rồi tỉnh thức biết và từ đó dụng công miên mật là con đường dẫn bạn đi vào nhận thức biết.  Khi bạn thể nhập và chứng nghiệm được nhận thức biết là khi bạn có thể an trú vững chắc trong tỉnh thức.  Đây là kết quả của một quá tŕnh thực tập liên tục, bền bỉ và lâu dài. 

Ngoài ra, dẫu đang đi đến đâu trên con đường tâm linh, để xây dựng một đời sống tỉnh thức, bạn và tôi, không những cần phải tinh tấn trong thực hành thiền, mà c̣n phải thường xuyên thực hành điều thiện làm điều lợi ích cho người.   Các điều thiện này là đặc điểm căn bản của tinh thần Bồ tát.  Thực hành những điều thiện và làm những điều lợi ích cho người thường xuyên sẽ giúp bạn gạn lọc rồi đi đến tẩy sạch được các tập khí ác xấu đối với người.  Trên thực tế, thực hiện tinh thần Bồ tát sẽ giúp bạn đắc lực trong việc xây dựng và phát triển tâm từ bi-vô ngă, mà chỉ có tâm từ bi-vô ngă là có năng lực cao nhất giúp bạn buông bỏ những dính mắc, bám víu, tham lam, sân hận … là những chướng ngại trên con đường tâm linh.  Có thể nói, tinh thần Bồ tát là một trợ lực mạnh mẽ cho bạn hướng đến sự an trú trong tỉnh thức.  Nói một cách khác, tinh thần Bồ tát là tính chất cao quư của sự tỉnh thức, là hành trang không thể thiếu của người thực hành thiền. 

*

Trở lại việc chuẩn bị thành lập Ban Giáo Thọ chính thức của mỗi đạo tràng theo lệnh của Thầy thiền chủ, chúng ta có thể hiểu bối rối của thiền sinh giáo thọ là sự chưa nhận diện rơ chính ḿnh trên con đường tâm linh.  Sự chưa nhận rơ này thể hiện qua tinh thần khiêm tốn và sự e ngại: e ngại đối với bản thân bởi cho rằng ḿnh chưa đủ khả năng để giúp người tu học, e ngại đối với người bởi không muốn nghe những phê b́nh chê bai. 

Trong lịch sử nhân loại, thánh Gandhi (1869-1948) là một tấm gương cao cả cho những ai mong ước sống đời thánh thiện giữa ḷng cuộc đời.  “Mở đầu về cái nh́n tôn giáo, Gandhi nói: Nếu tôi hoàn toàn chú tâm vào việc phụng sự đoàn thể, th́ lư do đằng sau đó là ḷng ao ước thành tựu bản thân tôi. … Ông cho rằng, chỉ có thông qua con đường phụng sự mới có thể chứng nghiệm được chân lư hay tiếp xúc với Thượng đế.  Nhưng Thượng đế của Gandhi, cũng như Kant, hay Nietzsche, hay Schopenhauer, hay Sartre... không phải là một Thượng đế đầy quyền năng, có thể thưởng phạt hay chi phối đời sống của con người ở trần gian.  Mà trái lại, đó là Thượng đế của chân lư, của sự thật.” (4)  

Trong Kinh Lăng Nghiêm, có đoạn: “A Nan cúi đầu lạy Phật kính cẩn thưa rằng: - Bạch Thế Tôn, con nay đă hiểu pháp môn tu hành để thành Phật rồi; trên đường tu hành con không lầm lạc nữa.  Nhưng con thường nghe Phật dạy: Người chưa được ngộ mà muốn độ người, đó là tâm Bồ tát.  C̣n người đă được giác ngộ hoàn toàn, rồi giác ngộ cho người, đó là việc làm của Như Lai.  Nay con chưa ngộ, mà phát tâm muốn độ tất cả chúng sanh đời sau. … Vậy nếu có chúng sanh phát tâm tu hành, th́ làm sao để tránh xa các ma chướng đối với con đường Bồ-đề, tâm không thối lui?”  Phật dạy: phải tu Giới, Định, Huệ!  “Này A Nan, ông đă thường nghe Ta dạy, người tu hành quyết định phải đủ ba điều cần yếu: (a) Dùng giới luật nhiếp phục tự tâm; (b) Nhơn giữ giới, tâm mới sanh định; (c) Nhơn định, tâm phát huệ.  Đây gọi là ba món tu vô lậu.” (5)

Vậy th́, bạn cũng như tôi, đă có thể nhận diện được chính ḿnh.  Hăy tự nhắc ḿnh rằng, giá trị của thiền là tiếp xúc với cuộc sống mà tâm vẫn không dính mắc, như hoa sen nở giữa bùn mà vẫn giữ được mùi hương thanh cao.  Và, bạn cũng như tôi, chúng ta hăy tự thắp đuốc lên mà đi!  Khi chưa thành lập ban giáo thọ, mỗi chúng ta cũng đă thực hành công việc của một thành viên trong “ban giáo thọ”, đó là tinh thần tương trợ, d́u dắt nhau trên con đường tu học dưới mọi h́nh thức.  Đó là tinh thần “mentorship” của đạo tràng Tánh Không Sacramento.  Một mai, khi ban giáo thọ được chính thức thành lập, bạn cũng như tôi, hăy hoan hỉ làm những ǵ có thể làm được để giúp người, giúp bạn bước vào hay bước tiếp trên con đường thiền.  Riêng tôi, nếu không làm được một đoá hoa góp mặt cho vẻ đẹp của khu vườn tâm linh, tôi sẽ hoan hỉ làm viên sỏi lót đường cho hành giả từng bước thong dong trên nẻo hướng về Chân Như.

 

Nguyễn Thị Yến

Elk Grove, 10.10.2012

______________________

Ghi chú:

(1)   Cùng tác giả: “Những Hạt Thiền”, 2011

(2)   Khải Thiên: “Tâm Bồ Đề” - Foundation of Your Spiritual Journey

(3)   Đại sư Walpola Rahula – Vương Mộng Giác dịch: “Phật Giáo Nguyên Thuỷ và Phật Giáo Đại Thừa”. 1996. (Therevada – Mahayana Buddhism: “Germs of Buddhist Wisdom”)

(4)   Thích Tâm Thiện: “Hài Nhi Tóc Bạc”, 1998

(5)   Thích Thiện Hoa:  Phật Học Phổ Thông, Quyển II, trang 576-577

  

trang uyên nguyên

art2all.net