|
______________________________________________________ Nguyễn Đặng Bắc Ninh Hoàng Cầm, vài kỷ niệm rời
Năm 1994, nhân đọc bài “Cuối Năm Đi T́m Nguyễn Hữu Đang” của Phùng Quán, vợ chồng tôi đem theo một túi ngủ (sleeping bag) về Việt Nam t́m cụ Đang để tặng cụ để chống lại cái lạnh cắt da của mùa đông Bắc Việt. T́nh cờ chuyến thăm quê này lại khởi đầu cho chúng tôi một mối giao t́nh đặc biệt với cả ba người Nguyễn Hữu Đang, Phùng Quán và Hoàng Cầm.
Chúng tôi vẫn biết Hoàng Cầm là người cùng quê và là bạn với một ông anh họ từ thời kháng chiến chống Pháp, nhưng không ngờ nhà thơ lại theo xe ra đón chúng tôi ở phi trường Nội Bài. Hôm đó Hoàng Cầm mặc một cái màu đỏ xậm trông rất hào hoa dù Hà Nội năm đó vẫn c̣n rất nghèo.
Suốt thời gian chúng tôi ở Hà Nội ông đến thăm nhiều lần v́ khách sạn chúng tôi ở gần nhà ông trong khu phố cổ. Tôi nhớ một buổi sáng ông dẫn chúng tôi đi ăn bún riêu ở ngơ Tạm Thương. Lâu rồi không được ăn cua đồng, thấy ngon tuyệt. Ông tặng chúng tôi mấy quyển thơ và một cuốn băng do ông đọc. Và cả những lời thơ ông viết tặng trên cuốn Tự Điển Việt Nam, mang nặng h́nh ảnh quê hương:
Ta con chim cu về gù dặng tre đưa nắng ấu thơ về sân đất trắng đưa mây lành những phương trời lạ về tụ nóc cây rơm…
Chúng tôi cũng đến thăm ông vài lần ở 43 phố Lư Quốc Sư. Cả căn nhà mặt tiền của ông đă bị chiếm, họ chỉ để lại cho gia đ́nh ông một pḥng nhỏ phía sau. Hai người con trai và vợ con ở tầng dưới. Chúng tôi phải leo cái thang gỗ ọp ẹp lên cái gác xép đơn sơ là giang sơn riêng biệt của thi sĩ, ngổn ngang những tài liệu cũ mới. Dưới ngọn đèn không đủ ánh sáng, chúng tôi ngồi nói với nhau đủ chuyện. Qua giọng nói ḥa nhă của ông, tôi có cảm tưởng ông không những là một nhà thơ, mà là một nhà văn hoá, đặc biệt về văn hóa Kinh Bắc.
Đêm chúng tôi rời Hà Nội, Hoàng Cầm lên tận toa xe ngồi với chúng tôi cho tới khi tàu chuyển bánh. Ông cũng đem theo một bài thơ tặng Thuấn Anh, con gái chúng tôi, mà ông gọi là “khối pha-lê màu xanh lá mạ”của ông. Nguyên là mấy ngày hôm trước ông theo chúng tôi về Gia Lâm Bắc Ninh thăm mộ ông thân chúng tôi. Sau buổi lễ, cháu tha thẩn ngắt những bông hoa dại mọc đầy gần đó. Bác Hoàng Cầm hỏi cháu có biết những cánh hoa đó là hoa Trinh Nữ (cây mắc cở) không? Dĩ nhiên là cháu không biết. Bác giảng giải cho cháu những đặc tính của cây hoa và một số cây cỏ khác của quê hương. Về nhà, bác viết cho cháu những ḍng thơ:
….Đă ổi ương đâu mà bướng bỉnh Mà nghe đu đủ thiếu thơ ngây Cây soan lạ nhỉ đương soan thế Sao vội buồn nghiêng lá rụng đầy
Cây ǵ cũng lạ, hoa không biết Cỏ cũng không tên, lá dị kỳ Chỉ thấy trắng mây trời cơi Việt Mẹ em th́ khóc nỗi ra đi…….(Hoàng Cầm)
Chuyến tầu tốc hành đêm đó không những đă hoàn thành chuyến xuyên Việt Bắc Nam của chúng tôi mà bao năm hằng mong đợi, mà lại đem theo h́nh ảnh sâu đậm của những người bạn mới, những con người lư tưởng chỉ v́ đ̣i hỏi nhân quyền, tự do ngôn luận, mà trở thành những tội đồ khốn khổ suốt đời dưới chế độ Cộng Sản do vụ án Nhân Văn - Giai Phẩm hồi 1956.
Sau khi trở về Mỹ, cả ba người đều liên lạc với chúng tôi bằng thư từ. Phùng Quán sau đó bị ung thư gan nặng nhưng trước khi mất cũng đă viết cho chúng tôi một loạt thư trong mấy tháng ngắn ngủi cuối cùng. Chúng tôi cũng c̣n giữ được những lá thư dài của cụ Đang. Cụ rất cảm động khi chúng tôi t́nh cờ thấy được h́nh chụp của cụ với Hồ Chí Minh trên đài ngày tuyên bố độc lập mùng 2 tháng 9 năm 1945 ở vườn hoa Ba Đ́nh và gửi cho cụ.
Về Hoàng Cầm, mấy năm sau, về thăm Hà nội, chúng tôi có đến thăm ông. VN đă đổi mới. Đời sống vật chất của ông có thoải mái hơn xưa, nhưng sức khỏe không c̣n được như trước. Đọc lại những lá thư của ông, chúng tôi lại thấy bùi ngùi. Có thư dài 12 trang đầy ư t́nh thắm thiết dành cho người đồng hương mà chúng tôi không bao giờ quên.
So sánh giữa hai nguồn thơ Phùng Quán và Hoàng Cầm, ông đă viết: “Thơ Phùng Quán là tiếng gọi, tiếng hô hào khí phách, thơ diễn tả tư cách chiến đấu sôi nổi của thi sĩ. Thơ Hoàng Cầm th́ ch́m sâu vào chữ nghĩa, âm điệu tiết tấu, lắng vào cơi vô thức của bản ngă. Thơ của Quán nghe hiểu ngay, hào hứng ngay. Thơ Hoàng Cầm mới nghe khó hiểu, chỉ cảm thấy mơ hồ một điều ǵ đấy cần phải có tri thức về văn hóa Kinh Bắc mới vỡ ra dần dần. Nhưng khi đă cảm nhận, thấm hiểu được rồi th́ nó bám rất chắc vào tâm hồn người đọc. Với cả hai anh em th́ mỗi người mỗi vẻ, một bên bốc lên như tiếng kèn xung trận, như hồi trống dục giao tranh, như hồi cồng chiến thắng. C̣n một bên trôi ch́m như mạch nước ngầm, thấm sâu xuống vực sâu của tâm tư dân tộc, thấm rồi lại nổi lên h́nh dáng đường nét, màu sắc của vẻ đẹp dân tộc ngh́n xưa”
Hầu hết mọi người hay nhắc đến hai bài thơ nổi tiếng Đêm Liên Hoan và Sông Đuống trong thời kỳ kháng chiến và sau này hai bài T́nh Cầm và Lá Diêu Bông. Nhưng phải đọc lại những bài thơ trong tập Về Kinh Bắc mới thấy được chính Hoàng Cầm, chính cái ḍng thơ đặc thù sâu xa thầm kín của ông. Trong đó có những t́nh yêu quê hương tha thiết, có những huyền thoại của thời lập quốc, có những linh hiển của tổ tiên, có những bí ẩn không nên lời và đôi khi c̣n phảng phất h́nh ảnh dị kỳ. Tất cả trộn lẫn với nhau thành một tuyệt phẩm về vùng Kinh Bắc cổ xưa.
Hoàng Cầm đă ra đi ngày 6 tháng 5 năm 2010. Biết rằng ông đă bị ngă và phải nằm một chỗ từ mấy năm nay, nhưng chúng tôi không khỏi buồn, thương và tiếc. Tôi nhớ lại những lời thơ Phùng Quán đọc tặng Hoàng Cầm khi tinh thần ông trở nên suy sụp sau mấy năm tù đày v́ tội gửi văn thơ ra nước ngoài:
Tôi tin núi tàn, tôi tin sông lấp Nhưng tôi không thể nào tin một nhà thơ như anh lại ngă ḷng suy sụp Ôi nhà thơ đă viết cách đây ba mươi năm những vần thơ lẫm liệt: - Tiểu đội anh những ai c̣n ai mất” - Không ai c̣n ai mất, chỉ chết cả mà thôi. Kẻ trước người sau lao vào giặc Giữ vững ngàn thu một giống ṇi (trích Đêm Liên Hoan)
Thế gian có một ngàn gịng sông Và một ngàn nhà thơ lớn Nhưng chỉ có một gịng May được thơ xưng tụng Nhờ thơ mà vang vọng, nhờ thơ mà vinh danh Đó là con sông Đuống, con sông của quê anh Mà anh xót xa như bàn tay anh rụng
Tôi có một niềm tin, chắc như đanh đóng cột Ngày mai anh nhắm mắt Đi sau linh cữu anh, ngoài bạn hữu gia đ́nh Có cả con sông Đuống Sông Đuống sẽ mặc đại tang Khóc bên bồi bên lở, sóng vỗ bờ nức nở Ngàn đời chịu tang anh… (Thơ Phùng Quán)
Hoàng Cầm đă giă từ chúng ta thật rồi. Như Phùng Quán, tôi cũng có một niềm tin: Con sông Đuống của vùng Kinh Bắc, của quê tôi đang nức nở sóng nước đôi bờ để măi măi chịu tang ông.
Nguyễn-Đặng Bắc Ninh 05/2010
|