|
VĂN HỮU ____________________________________________
Nguyễn Hoàng Dương Cát tiên ngày ấy Chương 2 và 3
Năm 20 tuổi tôi đặt chân đến vùng rừng núi Lâm Đồng. Những bước chân phiêu bạt đầu tiên của tôi đă chìm đi trong tiếng nước hung hãn của con sông Đồng Nai từ thượng nguồn lao về phía đồng bằng. Lời than thở vì nỗi lạ cảnh lạ người cũng bị át đi bởi tiếng kêu ầm ĩ của lũ chim mọi rợ chiều chiều bay về đậu kín cả một vùng lau sậy ven sông. Cát Tiên ngày ấy còn hoang dã, con người sống lẫn lộn với sấm sét và thú rừng. Tôi đă từng bàng hoàng trước những trận mưa như thể muốn hủy diệt cả sự sống và đôi phen lạnh người khi nh́n bóng trăng ma quái treo lủng lẳng trên đầu núi Mồ Côi...
CHƯƠNG II
- Ban ngày chú không được ngủ để khỏi phải ghi tên vào danh sách bệnh nhân sốt rét vốn đă quá dài ở đây. Chiều chiều, sau khi mưa tạnh, tôi ra sau vườn nh́n ḍng nước đục cuốn những cành cây khô và nghe những tiếng chim kêu rất lạ lùng trong những lùm tre ngă xuống bờ sông. Ở đoạn này, bờ sông bớt vẻ hoang vu, bên kia sông thuộc địa phận tỉnh Sông Bé với những đám dâu xanh mơn mởn trong bóng chiều. Bờ này cách bờ kia khoảng hơn 100 m, có thể hai người ở hai bờ gọi nhau vẫn nghe rơ. Sông hẹp vậy nhưng chẳng có mấy ai dám bơi từ bên này sang bên kia cả, dù là những tay bơi cự phách. Nh́n mặt sông với những xoáy nước dữ tợn kia tôi biết đó là những cái bẫy giết người. Ném một khúc cây xuống, khúc cây ấy sẽ bị những xoáy nước hút xuống đáy sông, rồi mấy phút sau mới thấy nổi lên cách chỗ thả mấy chục mét. Nghe kể quanh khúc sông này đă có mấy người chết đuối. Tôi không khỏi ngậm ngùi khi nghĩ đến những con người tha phương cầu thực, bỏ xứ đến đây để rồi mất mạng dưới ḷng con sông hung dữ này. Có những đàn chim én bên kia sông chiều chiều bay về phía rừng bên này, bóng của chúng che khuất cả mặt trời như một đám mây đen. Chim chóc, muông thú vẫn chưa chịu bỏ đi mặc dù sự hiện diện của những đoàn quân cơm áo đến đây như thể xua đuổi chúng để giành đất sống. Chúng vẫn c̣n sức để phá phách, trả thù. Những đàn heo rừng chỉ trong một đêm cũng đủ giẫm nát hàng mấy hecta lúa rẫy. Lần đầu tiên đi xa mà lại đến nơi rừng núi heo hút này, đôi lần trong bóng ngày sắp tắt, tôi cảm thấy nhớ nhà như một đứa trẻ nhỏ. Bao nhiêu năm tâm hồn tôi bị nhốt chặt trong thế giới sách vở đến độ bệnh hoạn, tôi khao khát được ra đi, được giải phóng khỏi sự tù hăm của không gian quá đỗi quen thuộc. Vậy mà đến đây mấy hôm đă thấy nhớ nhà, chí giang hồ mới đó đă nhụt.
***
Có một con người mà nếu không có anh ở đây chưa hẳn tôi đến Cát Tiên. Người đó là nhà thơ Lâm Anh. Tôi gặp anh lần đầu vào một buổi chiều mùa đông năm 1984 tại quê nhà Quảng Ngăi. Năm ấy tôi 19 tuổi, vừa mới nghỉ học. Anh từ khu kinh tế mới An Khê trở về quê, ngày ngày làm thơ trong cảnh nghèo khó. Tôi không biết anh mến tôi v́ lẽ ǵ, riêng phần tôi chỉ ngay lần đầu nh́n thấy dung mạo anh và nghe anh đọc thơ bên bàn rượu cũng đă khiến tôi ao ước được sống bên anh đời đời kiếp kiếp. Tôi sinh năm Bính Ngọ, anh sinh năm Nhâm Ngọ, tuổi tác chênh lệch đúng hai giáp. Tôi mới tập tành làm thơ, hay nói đúng hơn là một người yêu thơ, anh làm thơ đă trên 20 năm và là một nhà thơ nổi tiếng trong làng thơ Quảng Ngăi. Sau lần gặp gỡ đầu tiên đầy ấn tượng và quá nhiều cảm xúc ấy, tôi thường xuyên lui tới uống rượu và nghe anh đọc thơ.. Những lần như thế, để tránh sự ḍm ngó của những kẻ xấu bụng, rượu mua về phải sang qua b́nh uống nước trà và mồi nhắm chỉ là trái cây hoa quả Những tưởng niềm vui lớn ấy kéo dài, ngờ đâu khoảng hai tháng sau, anh cùng gia đ́nh lên đường vào Cát Tiên. Đây là lần thứ hai anh dắt bầu đoàn thê tử tiến vào rừng núi để t́m kiếm miếng cơm manh áo v́ ở quê nhà với anh đă không c̣n đất sống. Năm sau tôi thi đỗ vào Đại học Sư phạm Qui Nhơn nhưng không được nhập học v́ ba tôi có “lư lịch không tốt”. Đang trong những ngày buồn chán, tôi nhận được thư anh từ Cát Tiên gửi về. Anh đă hay tin tôi gặp chuyện không may. Trong thư có đoạn anh rủ rê: “Chú đang buồn phải không? Hăy vào đây với anh, tụi ḿnh sẽ ra đồng cùng đi ṃ cua bắt ốc về uống rượu ngâm nga với nhau cho đỡ buồn…”. Hôm trên xe bước xuống tôi nh́n thấy chị Bích, vợ anh, đứng trước hiên nhà nh́n ra. Có vẻ như chị chưa nhận ra tôi dù rằng đă nhiều lần tôi gặp chị hồi c̣n ở quê. Tôi chào chị. Chị nh́n tôi ngờ ngợ, một lát sau mới nhận ra. - Chú Dương phải không? Nghe nói chú sắp vào, mấy hôm nay anh Lâm Anh nhắc hoài đến chú. Sáng nay anh đi cuốc rẫy, trưa mới về. Chú vào nhà đi. Ngày c̣n ở quê nhà, trong khoảng thời gian đến chơi với Lâm Anh, tôi đă gặp và rất mến chị. Chị có gương mặt quư phái và tính t́nh cởi mở. Nh́n chị, tôi h́nh dung ngày xưa chị rất đẹp, nhưng bây giờ nhan sắc ấy đă tàn tạ đi nhiều v́ lam lũ nghèo khó. Sau gần hai năm, bây giờ gặp lại, tôi thấy chị có phần ốm hơn trước. Tôi bước vào nhà, nhà rộng răi nhưng đồ đạc để lung tung mọi chỗ. Bên cửa sổ tôi thấy năm bảy món hàng đặt trên tấm phên tre. Tôi hỏi chị: - Chị mở quán bán hàng từ bao giờ vậy? - Khoảng hơn một tháng nay thôi – Chị trả lời - Chị ở nhà lo cơm nước và trông coi mấy đứa nhỏ, bỏ mấy món hàng lặt vặt buôn bán cho vui thôi… Đúng là bán cho vui, nh́n năm bảy món hàng buồn thảm trên kệ, tôi nghĩ lấy đâu cho ra lời lăi. Vậy mà chỉ chừng nửa năm sau, quán Lâm Anh gần xa thiên hạ đều biết.
***
Gần hai năm sau đêm rượu tiễn biệt đầy mưa gió nơi quê nhà, tôi và Lâm Anh cùng nhau cụng chén trùng phùng nơi đất Trích xa xôi. Ngọn đèn dầu sáng lên trong niềm vui hạnh ngộ. Lâm Anh với vầng trán vút cao ngồi uy nghi giữa bốn bề rừng núi, sau lưng tôi sông Đồng Nai chảy lạnh một ḍng. Tiếng ly chạm nhau ngân dài như hồi chuông hành lễ, và Lâm Anh đọc thơ. Thơ anh vạm vỡ một niềm bi tráng. Tiếng thơ anh đi vào hồn tôi như lời đồng vọng từ những cơn cuộc bể dâu. Tôi nghe khí thơ anh cuồn cuộn bay trong đêm rừng núi, hồn thơ anh vây phủ hồn tôi. Những oan nghiệt giữa cuộc tử sinh được thơ hóa giải, anh ung dung dắt bóng thơ đi giữa trận đồ bát quái của cơm áo cơi người. Thơ anh như lời gọi thức tỉnh hồn tôi, bởi tôi, một chiếc bóng mộng du đang bơ vơ trên những nẻo đoạn trường… Tôi nhắm mắt ngồi nghe thơ anh chen trong tiếng gió khuya hú dài qua truông rẫy, lẫn trong tiếng nước sông Đồng Nai đang âm vang một khúc kinh buồn… Đêm ấy, tôi say thơ, say rượu, say núi, say rừng. Tôi ôm đàn, lảo đảo đứng lên hát nghêu ngao những bản t́nh ca si dại trước khi ngă gục vào thảm cỏ xanh êm ái giữa chiêm bao.
***
Tôi thức dậy, mơ hồ nghe ngoài bờ sông có tiếng chim hót gọi u buồn. H́nh như đang là buổi chiều, có tiếng người từ ngoài ngơ vọng vào. Tôi nằm trên bộ ván kê trong ngăn buồng hẹp trong nhà người chị. Tôi nhớ lại cuộc rượu đêm qua, tôi say khướt và có lẽ anh Chất đă đưa tôi về đây. Cảm giác bải hoải ră rời sau một cuộc rượu lớn khiến tôi không muốn ngồi dậy. Tôi trở ḿnh nh́n qua kẽ vách, bóng chiều bên ngoài bỗng dưng gợi trong tôi nỗi nhớ quê nhà. Tôi h́nh dung giờ này má và các em tôi đang cắt rau, nhổ cỏ ngoài băi. Tôi đi rồi, nỗi lam lũ, khổ cực đè nặng thêm lên vai những người ở lại. Tôi đi chỉ để thỏa măn ước mộng phiêu du của ḿnh, chẳng giúp ích ǵ được cho gia đ́nh mà lại c̣n làm cho ba tôi thêm lo lắng. Với ba, tôi chỉ là đứa bé c̣n nhỏ dại dù tôi đă 21 tuổi. Ba tôi rất buồn v́ việc tôi không được vào đại học bởi chuyện lư lịch của Người. Người không hề có lỗi, đây chỉ là bi kịch c̣n rơi rớt lại sau cuộc nội chiến 21 năm mà đến thế hệ tôi phải gánh chịu. Ḷng tôi không có chỗ cho sự thù hận. Tôi chỉ buồn và tự an ủi ḿnh rằng so với sự mất mát lớn lao của cả dân tộc trong cuộc chiến tranh th́ sự thiệt tḥi của tôi nào có ǵ đâu. Ba tôi đành để cho tôi đi t́m sự khuây khỏa ở một nơi nào đó xa quê hương với nỗi cay đắng lẽ ra ngồi trên ghế đại học, đứa con ḿnh lại phải lê thân vào nơi núi rừng heo hút. Tôi nhoài người lấy gói thuốc, châm một điếu. Khói thuốc lọt qua kẽ vách tan vào buổi chiều bên ngoài. Vài ba vệt nắng yếu ớt soi vào chỗ nằm như thể lân la làm quen. Tôi nghe có tiếng xe đạp dựng ngoài sân. Giờ này anh Chất đi làm đă về. Bước vào nhà, thấy tôi c̣n nằm trên ván, anh la lớn: - Giờ này mà c̣n nằm dài ra đó à? Dậy đi! Ai bảo chú nốc rượu cho nhiều vào để đến giờ chưa ngóc dậy nổi. Coi chừng chứ muỗi nó xơi rồi dính sốt rét đấy! Tôi ngồi dậy, và sau khi tắm rửa bỗng thấy người khỏe hẳn ra. Trong bữa cơm tối, anh Chất bảo tôi: - Chú chơi vài ba hôm nữa rồi nếu muốn th́ đi làm với anh Điềm. Anh Điềm, chồng chị Phụng, rể của cô tôi, đang lái máy cày trong đội cơ giới của huyện. Bây giờ bước sang mùa khô, xe sắp sửa đưa vào vùng sâu, vùng xa cày vỡ hoang. Anh Điềm cũng có mặt trong bàn ăn, anh hỏi tôi: - Em đồng ư không? Anh cũng đang cần người phụ xe, xe sửa gần xong rồi, khoảng một tuần lễ nữa là vào việc. - Được, em sẽ đi làm với anh – Tôi gật đầu không do dự - Nằm măi thế này cũng chán.
***
Brun cách thị trấn Buôn-go khoảng 15 km về phía đông. Đây là nơi lập nghiệp của người Bắc, hầu hết là người Hà Nam Ninh. Ở đây núi rừng bỗng dang rộng ra, nhường chỗ cho một cánh đồng bằng phẳng mênh mông. Tôi lấy làm lạ, không hiểu sao ở nơi núi rừng lại có một vùng đồng bằng giống hệt như ở quê ḿnh. Xa xa, đây đó những đụn khói rơm ai đốt bay lên lơ lửng trong ráng chiều, dăy núi ṿng cung in mờ mờ lên nền trời một dáng h́nh trầm mặc. Tổ xe gồm ba chiếc, đỗ lại ở một khoảng đất trống ven đường. Tôi cùng anh em bước xuống xe với quần áo và mặt mũi, tay chân phủ đầy bụi đỏ. Việc đầu tiên là t́m chỗ ở. Anh Điềm vốn đă quen nơi này từ những vụ cày trước nên việc t́m nhà ở cũng dễ dàng. Một giờ sau, sáu người trong tổ xe chúng tôi bước vào ngôi nhà khá rộng răi, mái lợp tranh và vách được trát đất. Nhà có một căn gác được làm toàn bằng tre rừng. Mỗi lần có người leo lên là tiếng những thanh tre va vào nhau rất ồn ào. Chủ nhà là một người đàn ông khoảng 60 tuổi, vóc dáng to lớn, khuôn mặt hiền lành, chất phác. Vợ ông, l một người đàn bà mảnh khảnh và vô cùng hiếu khách. Khi chúng tôi vào, bà vồn vả chào đón: - Các anh đến đây, nhà rộng tha hồ mà ở. Cứ yên tâm đi cày, cơm nước tôi sẽ lo giùm cho. Có lẽ những đứa con của hai ông bà đă ra ở riêng hoặc làm ăn nơi xa, chỉ có một cô con gái nhỏ hơn tôi vài tuổi ở cùng cha mẹ. Sự có mặt của chúng tôi làm cô có vẻ mất tự nhiên. Sáng hôm sau, đoàn xe chúng tôi bắt đầu vào việc ngay. Công việc của tôi rất đỗi nhàn hạ, chỉ ngồi trên xe và chờ anh Điềm sai vặt. Thỉnh thoảng xe bị trật xích, lúc ấy tôi mới thực sự dùng đến sức lực trai trẻ của ḿnh. Tôi thích nhất là lúc trời ngả về chiều. Có khi không muốn ở trên xe, tôi t́m một bờ ruộng ngồi hút thuốc, ngắm những dăy núi mờ xa. Đồng rộng mênh mông, có những đường cày dài cả cây số, đó là lúc đứng ở đầu này nh́n thấy chiếc máy cày chỉ c̣n bé xíu ở đầu kia. Đầu óc đặc sệt tiểu thuyết của tôi khiến tôi liên tưởng khung cảnh và công việc này giống hệt cảnh cày vỡ hoang trong truyện của Sholokhov. Những chiếc máy cày nhỏ xíu tận đầu kia trên đồng ruộng mênh mông này có khác ǵ những chiếc máy cày gần như mất hút trong bóng chiều thảo nguyên ở đất nước Nga xa xôi mà Sholokhov đă tả trong “Đất vỡ hoang” của ông. Thường th́ chúng tôi nghỉ việc và về chỗ ở trước 6 giờ chiều. Tôi tranh thủ tắm rửa trước mọi người rồi ra vườn thơ thẩn một ḿnh. Cảnh chiều ở đây sao mà quạnh vắng. Vườn rất rộng, vào giờ ấy, bà chủ nhà thường hay làm ở cuối vườn và cô con gái của bà ở trong nhà nấu cơm. Mỗi khi muốn hỏi mẹ điều ǵ, cô ra đứng hiên sau nói vọng ra. Bao giờ cô cũng mở đầu bằng tiếng gọi “Mẹ ơi!” bằng giọng Bắc của cô. Cứ mỗi lần nghe là tôi thấy nao ḷng. Cô tỏ ra thẹn thùng mỗi lần bắt gặp ánh mắt của tôi, mấy lần cô lảng tránh khi thấy tôi đến lân la tṛ chuyện.
Ở đấy khoảng hơn nửa tháng, chúng tôi phải dời đến
nơi khác v́ cánh đồng đă cày xong. Suốt thời gian chúng tôi ở đây, vợ
chồng chủ nhà luôn tỏ ra mến thương, quyến luyến. Hôm chúng tôi lên xe
từ biệt Brun, hai vợ chồng già ra sân tiễn đưa và nh́n theo rưng rưng
nước mắt. - Anh cho em nghỉ việc, ở đây buồn quá em chịu không nổi, hơn nữa công việc cũng không thích hợp… Anh Điềm luôn tỏ ra dễ dăi với tôi: - Tùy em – Anh trả lời - Nếu em không thích th́ về nhà rồi từ từ t́m công việc khác mà làm. Anh thừa biết rằng tôi lặn lội gần 800 km từ Quảng Ngăi vào đây không biết sẽ làm được tṛ trống ǵ, nhưng chắc chắn không phải là học lái máy cày...
CHƯƠNG III
Tôi bỏ nghề phụ xe máy cày, trở về ở nhờ nhà chị Phụng cùng với anh Chất . Nhà cửa chật chội, ăn ở rất bất tiện, hơn nữa biết tôi có ư định ở Cát Tiên lâu dài nên anh tính đến chuyện viết đơn xin xă cấp cho một thửa đất để làm nhà. Lấy vị thế ưu tiên của một cán bộ y tế muốn ở lại phục vụ cho địa phương lâu dài, anh nộp đơn, chỉ mấy hôm sau chủ tịch xă, một người thường chơi với anh, đă kư quyết định cấp cho anh một thửa đất hai sào nằm bên đường lớn. Đất có rồi, nhưng anh em tôi chẳng lấy đâu ra tiền để làm nhà. Tiêu chuẩn gạo và tiền lương hàng tháng của anh chỉ đủ cho hai anh em sống qua ngày, hơn nữa cũng đă gần đến ngày anh tổ chức lễ cưới tại Bảo Lộc. Việc làm nhà đành gác lại. Cuối tháng 10, tôi lên Bảo Lộc dự lễ cưới được tổ chức tại nhà vợ anh. Ba tôi từ Quảng Ngăi vào, ở nhờ nhà một người bà con xa trong họ sinh sống tại Lộc Nga. Sau hơn 3 tháng, tôi gặp lại Người. Trước khi vào đây, Người cũng đă biết tôi sống lêu bêu ở Cát Tiên, chưa có công việc ǵ làm cho ra hồn. Buổi tối ấy, Người nói với tôi: - Ba vào đây có hai việc: một là tổ chức lễ cưới cho anh con, hai là đưa con xuống Thủ Dầu Một, ba sẽ gửi con vào gara quen biết để con học nghề sửa xe ô tô. Hai việc đều quan trọng như nhau. Ba nghe nói mấy tháng qua ở Cát Tiên con chỉ biết uống rượu rồi làm thơ vớ vẩn, ba không muốn thấy con sống lang bang kiểu ấy nữa. Lo đám cưới cho anh con xong là đi ngay. Ba tôi là một người vô cùng nghiêm khắc. Một khi Người đă quyết định th́ không thể thay đổi. Sự việc xảy ra quá đột ngột, tôi mà đi học nghề sửa xe ô tô ư? Việc này tôi chưa bao giờ nghĩ đến. Tôi t́m cách tŕ hoăn: - Đồ đạc, sách vở, giấy tờ con c̣n để lại ở Cát Tiên, con chỉ mang lên đây một bộ đồ thôi. Không lẽ con mang mạng không thế này đi à? Trước lư do thoái thác hết sức trẻ con của tôi, Người ôn tồn bảo: - Việc ấy chẳng có ǵ quan trọng, thời gian sau anh Chất con sẽ t́m cách gửi xuống cho. Hôm sau, Lâm Anh cùng mấy anh em dưới Cát Tiên lên dự lễ cưới. Tôi báo việc này với Lâm Anh, anh trầm ngâm một lát rồi nói: - Chú không ở Cát Tiên nữa tôi cũng buồn, nhưng ông già quyết định như vậy là đúng đấy. Chú phải có một nghề ǵ đó trong tay, đây là cơ hội, chú đừng nên bỏ lỡ. Cát Tiên và Sông Bé cách nhau cũng không xa, chú cứ lên đấy yên tâm học nghề, khi nào có dịp đi Sài G̣n, tôi sẽ t́m cách lên Thủ Dầu Một thăm chú. Tất cả mọi người đều vui vẻ tán thành quyết định của ba tôi, chỉ riêng tôi là buồn bă chấp nhận. Sáng hôm sau lễ cưới, vợ chồng anh Chất đi Đà Lạt hưởng tuần trăng mật. Lâm Anh cùng một số anh em trở về Cát Tiên, tôi và ba tôi đón xe xuống Sài G̣n. Vậy là tôi từ giă rừng núi Cát Tiên ngay tại Bảo Lộc.
***
Nơi tôi đến học nghề là một gara chuyên đóng sửa thùng xe ô tô nằm trên đường Yersin giữa trung tâm thị xă Thủ Dầu Một. Chủ gara là một người quê ở cùng thôn với tôi ngoài Quảng Ngăi. Mấy chục năm trước ông là học tṛ của ba tôi thuở Người c̣n là một thầy giáo trường làng. Ba tôi tỏ vẻ yên tâm trước thái độ ân cần và cởi mở của ông khi đón nhận tôi vào học nghề. Người tỏ ra toại nguyện với việc lôi tôi từ hóc rừng ra và đặt một cách ngay ngắn vào giữa ḷng thành phố này. Hai hôm sau, người để lại cho tôi số tiền đủ chi tiêu, ăn uống trong khoảng một tháng rồi lên đường về Quảng Ngăi với số tiền vừa đủ cho một chiếc vé xe. Tôi tiễn Người ra bến xe, trước khi xe chạy, Người c̣n nhắc nhở: - Con ở lại chịu khó học cho mau thành nghề để làm ra tiền, gia đ́nh ḿnh như con biết đấy, c̣n khó khăn lắm, hăy nhớ con ốc nào mở ra trước th́ ráp vào sau… Tôi xúc động đến ứa nước mắt khi nghe lời nói sau cùng. Ôi, tấm ḷng của người Cha, một chút kiến thức duy nhất mà Người biết được trong nghề sửa xe, Người cũng đem ra trao nốt cho đứa con ḿnh… Tôi đập gơ được tuần lễ th́ mắc lại chứng bệnh mất ngủ. Nguyên chứng bệnh này tôi mắc phải suốt mấy năm ở Quảng Ngăi, nhưng khi vào đến Cát Tiên th́ bệnh biến mất. Nghề thợ đồng với tiếng đập gơ đinh tai nhức óc suốt ngày đă tác động lên vỏ năo tôi một cách nguy hại. Sau một ngày làm việc, vào lúc nửa đêm, trong giấc ngủ chập chờn, tôi nghe có tiếng đập gơ loảng xoảng bên tai, giật ḿnh tỉnh ra mới hay đó là ảo giác. Mới có mươi hôm mà người tôi ốm đi trông thấy. Ngày chủ nhật được nghỉ việc, buổi sáng ấy tôi lang thang trên phố, cuối cùng t́m đến một quán nước nhỏ bên bờ sông Bé. Quán vắng vẻ, tôi gọi một chai rượu ngồi uống, nh́n những đám lục b́nh nối nhau trôi trên mặt sông. Trong đầu tôi nảy ra ư định từ bỏ nghề sửa xe này để về lại Cát Tiên. Tôi không lo nghĩ ǵ về tương lai của ḿnh cả. Đời sống phố thị và nghề sửa xe làm tôi chán ngán, tôi không chịu đựng nổi cảnh sống ở đây. Tôi nghe thấy rừng núi lên tiếng gọi ḿnh. Phải về thôi… Nhưng ḷng tôi buồn bă, đau đớn khi nghĩ đến ba tôi. Người đă dành dụm tiền bạc và bỏ công đưa tôi đến đây với hy vọng tôi sẽ có một nghề làm ra tiền để sinh sống lâu dài. Công ơn lớn lao ấy giờ đây tôi trả lại bằng cách bỏ đi. Té ra việc Người làm chẳng khác ǵ “bắt cóc bỏ dĩa”. Tôi uống cạn chai rượu, đứng dậy trả tiền rồi đi t́m một hiệu sách vào chọn mua vài cuốn. Suốt ngày hôm ấy, trong đầu tôi luôn quay quắt bởi câu hỏi “Về hay ở lại?”. Đêm ấy tôi mất ngủ gần như trắng đêm. Sáng hôm sau, tôi uể oải bắt đầu một ngày làm việc mới. Trong ngày, có đôi lúc tôi làm việc một cách đăng trí khiến ông chủ gara tỏ vẻ không bằng ḷng. Tôi chỉ im lặng nhận lỗi. Chứng bệnh mất ngủ và ảo giác về những tiếng động ầm ĩ vào ban đêm tiếp tục hành hạ tôi suốt một tuần lễ nữa. Cuối cùng th́ không c̣n do dự, tôi quyết định về lại Cát Tiên. Trưa hôm ấy, đến giờ nghỉ việc, tôi đến thưa với ông chủ gara: - Chú cho cháu nghỉ học nghề, cháu bị bệnh, không thể làm việc được nữa. Ông nh́n tôi có vẻ ngạc nhiên, nhưng sau đó chấp nhận cho tôi nghỉ nghề một cách vui vẻ như hôm ông nhận tôi vào học: - Lẽ ra phải có ba cháu ở đây chú mới đồng ư - Ông nói - Nhưng kể ra cháu cũng đă lớn rồi, nếu việc làm gây cho cháu chứng bệnh như thế th́ chú cũng không muốn giữ lại. Thôi cháu cứ nghỉ, khi nào có dịp về quê, chú sẽ gặp ba cháu nói chuyện cho ông ấy thông cảm… Buổi chiều, tôi ra chợ t́m mua một chiếc giỏ lát mang về dồn hết mấy bộ quần áo và mươi cuốn sách vào, chuẩn bị sáng hôm sau lên đường. Đêm trước ngày về, tôi ngồi trên cabin một chiếc xe đang bỏ sửa trong gara viết cho ba tôi một bức thư. Trong thư, tôi nhận lỗi cùng Người và xin được tha thứ. Sáng hôm sau, tôi ra bến xe bỏ thư ở một bưu điện gần đấy, thư về Quảng Ngăi, c̣n tôi về Cát Tiên. Tính ra từ hôm tôi đến Thủ Dầu Một học nghề cho đến hôm bỏ việc cách nhau có hai mươi ngày. Tôi về đến Cát Tiên vào lúc cuối chiều với chiếc giỏ lát trên tay, một bộ mặt hốc hác và trong túi không c̣n một đồng bạc nào. Tôi xuống xe tại ngă ba, bước vào nhà Lâm Anh. Anh không có nhà, chị Bích nh́n tôi, ngạc nhiên hỏi: - Anh Lâm Anh bảo chú học nghề ở Sông Bé,giờ sao lại về đây? Trông chú ốm quá. Tôi cười buồn bă: - Em không được khỏe. Về đây rồi sẽ tính sau. Tôi ngồi nghỉ trên thềm, một lát sau Lâm Anh về. Bước vào trong, thấy tôi, anh vui vẻ nói lớn: - Tôi biết thế nào chú cũng về lại đây mà. Tôi biết chú thích rừng núi hơn phố thị - rồi anh hạ giọng - Mà kể cũng lạ, chú cũng giống nàng Kiều, cứ chọn nẻo đoạn trường mà đi…
***
Cảnh quán xá đông đúc, ồn ào nơi nhà Lâm Anh không phải là chỗ ở thích hợp với tôi vào lúc này. Tôi lên nhà anh Điềm ở, nơi đây yên tĩnh hơn. Anh đi cày ở xa, thỉnh thoảng mới về, nhà chỉ có chị Phụng và mấy đứa nhỏ. Tôi nằm lại trên bộ ván ngày nào tôi mới đến Cát Tiên, tôi trở lại với những giấc ngủ b́nh yên lúc đêm về. Chiều chiều, tôi ra sau vườn, ngồi bên bờ sông đọc sách, thỉnh thoảng viết đôi bài thơ và bâng quơ nghĩ ngợi. Vào mùa khô, mặt nước sông Đồng Nai trở nên hiền ḥa và có phần thơ mộng trong màu nắng quái xiêu xiêu đổ xuống đôi bờ. Nh́n những cành khô xuôi về đâu đó, tôi nghĩ đến nỗi vô định của đời ḿnh. Trông những rặng mây in bóng dưới sông trôi ngược về nguồn, tôi ngờ như dư ảnh của một lần lang bạt. Tôi nghe những giọng chim ḥa trong lời nước chảy, gió chiều hôm phảng phất hương rừng… Có lần bên kia sông, nơi có khoảng nước ít chảy xiết và trên bờ là những đám dâu non xanh biếc, trong ánh nắng chiều tà, tôi thấy mấy cô thiếu nữ cởi áo vừa tắm gội vừa đùa giỡn trên ḍng nước, những cặp vú lúc ẩn lúc hiện trong bóng chiều khiến tôi ngây ngất trước vẻ đẹp như pha màu sắc thần tiên… Tinh thần tôi trở lại trạng thái b́nh thường, khung cảnh vắng vẻ nơi đây như một liều thuốc ḱ diệu… Anh Chất, sau tuần trăng mật, một ḿnh trở về lại Cát Tiên. Tôi đang ngồi đọc sách bên cửa, bước vào thấy tôi, anh ngớ người ra: - Sao chú lại về đây? Lại bỏ nghề nữa à? Anh cũng như ba tôi, yên chí tôi sẽ học nghề vĩnh viễn ở Sông Bé. Tôi biết anh rất thương tôi, tôi thản nhiên trả lời : - Em bị bệnh, không học nghề được nữa, nếu anh không muốn em ở đây, em sẽ đi nơi khác… Anh không nói ǵ, chỉ nh́n tôi rồi lắc đầu ngao ngán. Điều tôi thích nhất là cây đàn ghita từ Bảo Lộc anh mang về, món quà của anh em Cát Tiên tặng cho anh trong ngày cưới và cây đàn ấy gắn bó với tôi suốt những năm tháng sống ở chốn rừng núi này. Sau khi tắm rửa, anh ngồi vào bàn nói chuyện với tôi. Tôi kể lại công việc học nghề và chứng bệnh mất ngủ cho anh nghe. Anh tỏ ra thông cảm và sau một hồi suy tính, anh bảo tôi: - Anh về đây lo một số công việc ở cơ quan khoảng mươi hôm rồi đầu tháng chạp sẽ lên lại Bảo Lộc. Tết năm nay, vợ chồng anh sẽ về quê. Thôi th́ tạm thời chú ở đây, sau Tết anh vào rồi sẽ tính chuyện làm nhà anh em ḿnh cùng ở với nhau, ở nhờ nhà chị Phụng thế này coi vậy mà bất tiện lắm. Chú nghĩ sao? Tôi mừng rỡ muốn ôm chấm lấy anh, nhưng giả vờ buồn buồn trả lời: - Anh tính sao th́ em nghe vậy. Những ngày sau đó, tôi làm một số công việc lặt vặt trong vườn giúp chị Phụng. Tối đến thỉnh thoảng ra nhà Lâm Anh chơi, ở đây chỉ có tôi là người bạn thơ của anh. Anh uống rượu với tất cả mọi người nhưng chỉ có tôi mới làm anh ít nhiều thỏa măn bởi tôi biết nghe thơ và đàn hát cho anh vui. Những lúc trống vắng, tôi đến chơi với anh và ăn ngủ ở đó, những khi cần yên tĩnh để viết lách đôi điều, tôi lại về nhà chị Phụng nằm trên bộ ván quen thuộc ấy. Đầu tháng chạp, anh Chất lên Bảo Lộc. Trước khi đi, anh giao phó cho tôi công việc dọn dẹp cỏ rác trên đám đất xă cấp cho anh và đắp một cái nền để sau Tết anh trở vào sẽ dựng nhà. Đó là một đám mía sau khi thu hoạch xong, chủ đất bỏ đi luôn và giao lại cho địa chính xă. Mầm mía ló lên trên những đống lá đă khô và cỏ tranh mọc đầy. Trong ṿng một tuần lễ, tôi đă dọn dẹp và đắp xong một nền nhà khoảng 30m2. Đám đất cách nhà Lâm Anh chưa đến 100m. Tôi làm ở đấy và về nhà Lâm Anh ăn uống, nghỉ ngơi. Sau khi anh Chất đi rồi, tôi đến ở hẳn nhà Lâm Anh. Vợ chồng anh tiếp nhận tôi vào sống trong gia đ́nh như một đứa em thân thiết. Cùng lúc tôi đến ở có một thanh niên lớn hơn tôi vài ba tuổi bị bệnh sốt rét, cơ thể suy nhược đến độ nh́n anh ta trông giống một thây ma hơn là một con người. Anh tên Long, quê ở Quảng Ngăi, vào Cát Tiên làm thuê. Sau khi bị bệnh, không c̣n đủ sức để làm ra tiền đă bị một người bà con xa trong họ xua đuổi. Thấy anh không c̣n nơi nương tựa và có nguy cơ bị chết đói, Lâm Anh mời Long về nhà anh ở. Lâm Anh là người sẵn sàng nhường cơm sẻ áo cho những ai đang gặp hoạn nạn. Lâm Anh chỉ đủ sức nuôi cơm Long, c̣n tiền bạc để lo thuốc thang th́ anh không đủ khả năng. Lâm Anh chỉ c̣n biết cách những khi trời vừa đổ tối, ra trước sân nhà đốt nhang khấn vái trời đất ban phép màu cho Long khỏi bệnh. Long vẫn c̣n khả năng đi lại làm vài việc lặt vặt trong nhà, tuy nhiên tôi thấy sức lực Long mỗi ngày mỗi cạn dần. Long rất quư mến tôi bởi tôi luôn gần gũi và tỏ ra biết chia sẻ nỗi buồn của anh trong khi nhiều người đến quán Lâm Anh trông thấy thân h́nh phù thủng, vàng vọt của anh đă vội lảng tránh, mặc dù người ta thừa biết sốt rét không phải là loại bệnh truyền nhiễm qua đường nh́n ngó. Đêm đêm, tôi và Long cùng nằm chung một giường, có khi nửa đêm thức dậy, tôi lắng tai nghe xem anh có c̣n thở hay không... Nhiều khi tôi suy nghĩ, sở dĩ anh chưa chết bởi v́ anh không biết tuyệt vọng, anh sống vui vẻ, hồn nhiên trước t́nh thương vợ chồng Lâm Anh dành cho ḿnh. H́nh như trong thân xác bệnh hoạn đến độ sắp rệu ră kia là tâm hồn của một đứa trẻ thơ, chưa có ư thức về sự bi thảm của thân phận. Có một lần, nhân lúc không có mặt Long, anh Lâm Anh nói với tôi:
- Nếu tôi là thằng Long, chắc chắn tôi tự tử từ lâu
rồi…
|