VĂN HỮU

Số 16 Mùa Xuân 2012

____________________________________________

 

Song Vũ 

Phía sau cuộc chiến


Những ngày cuối năm 1990 t́nh h́nh ra đi theo diện HO, con lai và ODP rộ lên. Cả Sài G̣n nhốn nháo kẻ đi người ở. Thậm chí nơi chỗ ông Năm nơi tôi đang ở ké cũng ồn ào đồn đăi. Một hôm ông Năm bảo tôi; “ Sao cậu không về mà lo giấy tờ ra đi? “ Tôi bảo: “ Tôi có đứa cháu gái lo dùm rồi. Giấy tờ bây giờ toàn là giấy giả mà tôi th́ chẳng quen biết ai làm mấy thứ đó. “Ông Năm cười buồn “Đất nước ḿnh chưa bao giờ sống thực với ḿnh. Muốn sống phải sống theo một đời sống khác. Chiến tranh làm cho con người bộc lộ hết tính cách động vật của ḿnh. Những thứ nhân nghĩa trở nên xa xỉ, phù phiếm hết. Bây giờ chiến tranh chấm dứt, tưởng có cơ may t́m về lại được bản chất con người của ḿnh th́ bỗng đâu cái thú tính bị dồn nén ḱm hăm bấy lâu nơi con người thắng cuộc lại hung hăng c̣n hơn trước!”. Người chiến thắng và người bại trận đều có chung một ḍng máu, một giống ṇi. Tiếc thay kẻ thắng quên bẵng điều ấy, họ ngông nghênh hợm hĩnh quá lâu và hầu như không thể tỉnh lại được nữa. Sự u mê hay sáng suốt có thể có giới hạn của nó nhưng h́nh như u mê thường kéo dài lâu hơn nhiều lần sự sáng suốt. Ông Năm đôi lúc nói với tôi dân tộc này bị trời hành. Chiến tranh giành giựt, căm thù và phân ly phản trắc là cách thế nó tồn tại. Từ ngày lập quốc nó đă thế, trong suốt chiều dài lịch sử nó vẫn thế. Lịch sử không dạy cho nó bài học nào tử tế bởi v́ kẻ cầm quyền luôn viết sử theo ư tư riêng của ḿnh. Những chiến công hiển hách luôn được thổi phồng lên tới mức hoang đường ngược lại những thất bại được che đậy tới mức kiếm không ra. Từ ngày những người lănh đạo tin vào chủ thuyết không tưởng cộng sản, lịch sử càng tệ hại hơn. Không ai c̣n muốn đọc sử và nghiên cứu sử để t́m ra một cách xử thế khôn ngoan cần thiết mà sống.

Ông Năm dặn ḍ tôi mỗi khi đi khỏi nhà, nếu không có ông th́ gởi nhà cho hàng xóm. Một căn lều cũng trống hoang tuếch toác c̣n tệ hơn nhà ông Năm. Chủ căn nhà là một thương binh chế độ cũ, cụt một chân ngang đầu gối. Anh ta lầm ĺ ít nói nên có tên là Ba ĺ. Tên thật chẳng ai biết và nói cho cùng, ở cái xứ khỉ ho c̣ gáy này có tên hay không đâu có quan hệ ǵ.Tôi để ư quan sát, có nhiều ngày chính tôi, ông Năm và Ba Ĺ chỉ toàn nói trống không mà ai cũng hiểu. Hoạ hoằn vợ của Ba Ĺ, khi nói chuyện với ông Năm hoặc tôi mới nói đến tên của chúng tôi thôi. Cả hai vợ chồng Ba Ĺ sống bằng nghề làm rẫy và đốt than qua ngày. Được cái không có con cái ǵ nên cách sống của họ cũng không cơ cực lắm. Trồng ǵ ăn nấy, có tiền bán than th́ vác về ít kư gạo, khi không có gạo, luộc bắp, khoai sắn ăn thay cơm…Thỉnh thoảng tôi về Sài g̣n trở lên có ít tiền nhờ vợ Ba Ĺ mua cá hoặc thịt ba rọi về cùng lít rượu nếp than tại chợ ngă ba quốc lộ về bù khú cũng cảm thấy quá hạnh phúc.

Tôi cứ hai ba tháng khi rảnh chuyện làm vườn cuốc đất trồng trọt lại thu xếp về Sài G̣n một lần vài ngày nghe ngóng tin tức. Cho đến sau tết 90 tôi mới nói với ông Năm tôi muốn về ít tháng để xem thu xếp vụ ra đi HO của tôi ra sao. Ông Năm bảo “Ừ, chú về mà lo cho xong đi. Tôi nghĩ tuổi của chú cho dù bầm dập cách mấy vẫn c̣n có cơ ngoi lên được mà sống với đời. Buông trôi không phải là cách hay. Quẫy đạp cũng thế. Thuận theo trời mà sống có nghĩa là tùy theo nước lớn nước ṛng mà chèo ghe. ” Tôi lặng im ngồi nghe ông nói những lời chân t́nh. Tôi nói “Đời tôi không biết như thế có kể như là xong chưa? ” Ông Năm quay lại “ Xong là xong thế nào. C̣n thở là c̣n chưa xong đâu, thậm chí nhắm mắt xuôi tay vẫn c̣n chưa thể gọi là xong!” Tôi cười buồn “Nhắm mắt xuôi tay th́ xong chứ c̣n chưa sao được?” ông Năm bảo “Nhắm mắt xuôi tay là phía phận riêng ḿnh, tôi nói chưa xong là v́ những hệ lụy sau khi cái ḿnh tưởng là xong kia nó vẫn c̣n níu kéo người liên hệ chung quanh tiếp tục không xong.” “Chú có nh́n viên sỏi ném xuống hồ không? Những ṿng nước tỏa lan từ nó vẫn có tác động ít nhiều tới những con trùng phiêu sinh đang sống trên mặt nước hồ. Chú có thấy những ông lănh tụ đang nằm phơi trong lồng kiếng tại các lăng tẩm tân thời không? Họ chết từ lâu rồi mà nào đă xong?!”  Tôi im lặng không nói nữa.

Hôm sau tôi khăn gói lên đường. Ba Ĺ từ phía bên hông nhà hỏi sang “Bao giờ ông thày lên lại? ” Tôi bảo “ Không biết, khi nào nhớ mấy người th́ lại lên! ” Ba Ĺ cười “Tôi sợ ông thày quên tụi này thôi”. Tôi bảo “quên sao được.” Rồi đi.

Sau khi tôi thu xếp xong mọi thứ tôi lên thăm ông Năm lần cuối. Số tiền anh Ba tôi gởi về cho tôi để lo thủ tục giấy tờ cũng c̣n dư hơn một triệu. Tôi ghé qua chợ mua ít đồ nhậu, hơn chục kư gạo, ít kư khô, đậu phọng và mè tất cả bỏ vào chiếc sac nhà binh khệ nệ vừa đi vừa nghỉ đến chỗ ông Năm. Ông Năm đón tôi khi thấy tôi trở về từ xa, cách nhà ông cả trăm thước. Tôi bỏ túi đồ, lau mồ hôi rồi nói với ông Năm “Chiều nay ḿnh ăn nhậu một bữa nghe ông.” Ông Năm cười “chắc có tin vui rồi phải không? ”. Tôi gật gật đầu. Nghe tiếng ồn ào bên này, vợ chồng Ba Ĺ từ bên nhà chạy sang lên tiếng “Ông thày mới lên, sao có tin ǵ vui không? Chắc là kỳ này có tin vui rồi phải không?...” Ông Năm bảo “ Vợ chồng bay chiều nay phụ một tay làm bữa nhậu coi.” Ba Ĺ sốt sắng “Để tụi con ông Năm.”

Tôi lấy bộ đồ sạch, cầm theo cục xà bông thơm Cô Ba đi ra phía suối tắm giặt thay đồ. Bữa cơm chiều thật vui và xôm tụ. Ngoài dĩa gỏi bông chuối trộn khô sặc nướng xé nhỏ c̣n dĩa thịt ba rọi luộc, cơm gạo trắng không độn nghi ngút khói nh́n là thấy phát thèm, Ông Năm, tôi và vợ chồng Ba Ĺ ngồi vừa ăn vừa nói chuyện rổn rảng đủ mọi thứ tin tức ngoài đời. Tôi thông báo cho ông Năm biết tháng Ba năm tới tôi sẽ đi gặp phái đoàn Hoa Kỳ để được phỏng vấn. Ông Năm tợp nốt phần c̣n lại của ly rượu nếp cẩm bảo “ Mừng cho chú. Tôi vẫn nói người xưa có câu bĩ cực thới lai mà, đúng không? ” Ba Ĺ chêm ngang “Ông ơi c̣n đời con đây này bĩ cả đời rồi đâu có ǵ mà thới lai hả ông?” Ông Năm bảo “ Chả biết đâu được, cứ chờ xem.” Cuộc vui nào rồi cũng tàn. Khi mâm cơm sạch sẽ món ăn, vợ Ba Ĺ dọn dẹp rồi xin phép ra về cùng chồng. Thực ra gọi là nhậu nhưng cả bốn ngựi uống có một lít nếp than nên chẳng có ai được gọi là say. Tôi tửu lượng kém nhất trong đám cũng chỉ mới cảm thấy hơi ngà ngà lâng lâng. Ông Năm có vẻ tỉnh queo, sau khi xoa chân đập đập vài cái, ông lên tấm ván gỗ nằm quạt muỗi phe phẩy. Tôi trải tấm vải mưa vào góc nhà, căng mùng nằm. Cả hai chúng tôi chẳng ai nói vói ai một lời. H́nh như trong ḷng mỗi người đều đang nghĩ tới một ngày chia tay sắp tới.

Cổ nhân bảo ở lâu mới biết đêm dài, thấm thoắt tôi lên ăn nhờ ở đậu ông Năm tính ra cũng đă gần hai năm. Chúng tôi đă có với nhau biết bao buồn vui và những kỷ niệm không quên. Ư nghĩa của từ chia xẻ là chính xác giữa chúng tôi. Niềm vui thỉnh thoảng mới có nhưng cực nhọc và nỗi buồn th́ vô vàn. Đă có lúc tôi bỏ ư định trở về thành phố và muốn sống măi ở đây với ông Năm như một ngựi thân. Rồi cũng chính ông là người đă khuyên tôi bỏ đi những ư nghĩ ấy. Ông thường tâm sự “Đời sống con người ngắn ngủi lắm, đưọc sinh ra dưới sinh mệnh con người là một ân sủng của ông trời. Hăy sống cho trọn vẹn kiếp sống ấy đừng bỏ phí nó. Thời gian là thứ duy nhất chỉ đi có một chiều. Nó không có chiều ngược lại. Đừng quan tâm đến những thành bại hay đắc thất mà nên quan tâm tới ḿnh có từng sống thực với con ngựi của ḿnh hay chưa. Mỗi con người là một riêng lẻ độc đáo phân biệt. Đừng sống hộ ai và cũng đừng nhờ ai sống thế cho ḿnh. Hạnh phúc là điều phù du ảo ảnh. Đừng mưu cầu t́m nó, bởi v́ t́m sẽ không bao giờ thấy. Nó chỉ hiện h́nh khi ta dừng lại, quên hẳn nó đi. Trong phút giây hiếm hoi của đời sống thường nhật, khi nào bất chợt nh́n thấy bóng dáng ḿnh trong tấm gương soi có người đối diện đang mỉm cười với ta, lúc đó hạnh phúc xuất hiện.”

Ông Năm đă nói tôi nghe bao nhiêu điều khiến tôi phải suy nghĩ và trằn trọc. H́nh như trong ông là cả một pho sách quư đời thường. Mọi lư thuyết đối với ông chỉ là mớ giẻ rách không hơn, ư tưởng trong sách không thông qua thực tế kiểm nghiệm là vô dụng và thừa thăi có độc. Sau khi đưa nó vào thực tế để sàng lọc và thử thách nó sẽ hiện ra là quư kim hay đất mùn. Thực t́nh tôi không biết rơ kho tàng tri thức của ông có là do từ đâu nhưng tôi biết chắc một điều ông hẳn phải là một con mọt sách khi c̣n trẻ. Trong những câu chuyện chúng tôi trao đổi ông hé lộ nhiều điều trong sách vở của nhiều vị học giả Đông Tây. Nhưng rồi cũng chính ông khi th́ phủ quyết, lúc mở rộng những tư tưởng ấy ra mạch sống đời thường. Ông không tư hữu vật ǵ. Căn cḥi ông đang có do chính tay ông tạo nên khi theo đoàn người di dời khỏi Sài g̣n lên đây lập khu Kinh tế mới hồi năm 1977. Cuộc sống của ông b́nh dị và phóng khoáng như một nhà tu hành đắc đạo. Lúc nào ông cũng như nhàn tảng thơ thới vui chơi bên cuộc đời. Những việc ông làm thường là giúp cho người chung quanh ông. Bắt mạch, cắt thuốc, bấm huyệt, những lời khuyên cho người chán đời, cơm gạo cho những ai cơ nhỡ cần giúp… ông chẳng từ chối ai điều ǵ trong tầm tay ông có thể làm được. Không ai biết rơ dĩ văng của ông, với ông chỉ có thực tại. Ông bảo “ Sống là đang sống chứ không phải đă hoặc sẽ sống”. Có lần tôi hỏi ông mai mốt ông già ai sẽ là người chăm nom cho ông? Ông cười tươi “Đến lúc đó mới biết chứ bây giờ làm sao mà biết? ”

Buổi sáng ngày cuối tuần khi tôi thức giấc, ông Năm đă lên rừng hái thuốc. Tôi ra vườn lấy cuốc vun gốc mấy cây ớt, giây bí, bầu tôi trồng trước đó. Ba Ĺ hỏi với sang “ Bao giờ ông thày về lại Sài G̣n? ” Tôi nói “ Chắc mai mốt,” Ba Ĺ bảo “ Biết ông thày bấy lâu giờ ông đi buồn qúa. ” Tôi im lặng không trả lời.

Ba Ĺ là một hạ sĩ địa phương quân tiểu khu B́nh Long. Cuối Năm 1974 khi tiểu khu bị tấn công Ba Ĺ lúc đó mới 21, bị thương vào chân nằm lạc trong rừng khi theo đoàn quân di tản ra khỏi tỉnh, bị đói mấy ngày, vết thương nhiễm độc, lên cơn sốt li b́, đang lúc thập tử nhất sinh th́ có đám xe be vào lấy gỗ phát giác mang ra. Vào quân y viện cưa mất chân trái. Nằm chưa lành vết thương th́ Sài g̣n thất thủ, bị đuổi ra đường, gia đ́nh thân nhân từ Quảng Tín cũng mất liên lạc luôn. Đang lúc ngặt nghèo đă có lúc Ba Ĺ định tự sát nhưng rồi không hiểu sao lại thôi. Có lần tâm sự hắn bảo “Chết cũng khó lắm ông thày ạ. Tôi có lần nhẩy xuống sông Đồng Nai rồi bỗng dưng nổi lên bơi ào ào vào bờ! Từ đó tôi mới nghiệm ra khi muốn thực sự dứt bỏ cuộc sống này phải t́m tới một cách nào đó mà ḿnh không có cơ hội để làm ngược lại ư định đó được. Chỉ có thế mới có thể chết được thôi.” Tôi bật cười thầm nghĩ, chẳng bù cho thời gian trước đây khi c̣n chiến tranh, cái chết dễ như giỡn đùa, không muốn chết nó cũng cứ ào tới, nó dễ tới mức không thể phân biệt được đâu là ranh giới giữa chết và sống. Cái sống lúc ấy không có ǵ để chắc.

Ba Ĺ trở về Sài G̣n sống lang thang với vết thương chưa lành hẳn. Rồi như một phép lạ, vết thương lành lại từ từ trong cái đói triền miên và cách sống dơ bẩn lang thang đầu đường xó chợ. Rồi bỗng một hôm, đang ngủ dưới chân cầu, hắn được công an cảnh sát đánh thức, lùa lên xe tải chở đổ xuống khu vực này. Hắn sống vật vờ nương dựa vào những người cùng cảnh ngộ, cất cḥi, cuốc đất trồng khoai trồng bắp. Lúc đầu c̣n nhờ vào số lương thực cung cấp trong thời gian đầu. Thời gian vừa đúng ba tháng, chính quyền thành phố cũng ngưng không lên thăm dân t́nh nữa. Mùa thu hoạch bắp và khoai ḿ đầu tiên là lư do họ cho là đă hết trách nhiệm. Rồi cặp vợ chồng hàng xóm gặp nạn. Tư Thắng vào rừng kiếm củi đốt than bị cây đè bị thương gẫy cả chục xương sườn, ói máu đầy người. Ba Ĺ và vợ Tư Thắng cùng một số người lân cận khác kéo Tư Thắng ra khỏi khu vực bị nạn, trên đường khiêng ra Ngă Ba quốc lộ chờ xe chở đi cấp cứu th́ qua đời. Thời gian cũng không lâu sau đó, một số cư dân tản lạc đi dần, Ba Ĺ và vợ Tư Thắng rổ rá cạp lại, dựa nhau mà sống. Họ là hàng xóm lân cận nhất của ông Năm. Khi tôi lên ở ké cḥi ông Năm, Ba Ĺ có qua hỏi chuyện. Đưọc biết tôi là cựu sĩ quan, Ba Ĺ từ đó kêu tôi là “Ông Thày”. Thực ra từ này khá thông dụng trong quân ngũ chúng tôi. Thay v́ gọi nhau bằng cấp bực, trong chỗ quen thuộc, tiếng sư phụ và đệ tử làm cho t́nh chiến hữu thêm thân mật và thú vị hơn.

Tôi nhớ hồi mới ra trường, khi nhận chức vụ đại đội phó chiến tranh chính trị, trung úy đại đội trưởng bảo tôi “ Anh nói trung sĩ nhất thường vụ lựa cho anh một người au-d’os. ” Tôi hơi ngạc nhiên không hiểu ư. Trung úy đại đội trưởng giải nghĩa “ Mỗi sĩ quan phải có một người giúp việc, chú lính này mang giúp ít đồ dùng quần áo và lương khô khi hành quân và giúp việc lặt vặt.” Thực ra cũng chẳng đợi tôi ra lệnh, viên trung sĩ thường vụ đại đội ngay buổi chiều hôm ấy đă dẫn đến tŕnh diện tôi một binh sĩ quân dịch có tên là Thể, và báo cho tôi biết từ lúc ấy Thể sẽ giúp tôi mang bớt những vật dụng và lo cơm nước cho tôi. Trong đơn vị lúc đó, những chú  lính giúp việc này có một danh xưng rất kỳ cục: “Tà lọt”. Tôi cũng chẳng hiểu gốc rễ của từ này có từ đâu nhưng mỗi lần nghe tôi thấy lại có cảm giác kỳ kỳ. Rồi thời gian trôi qua mau, tôi không nhớ là bao lâu sau đó, tiếng tà lọt được thay bằng tiếng “đệ tử và sư phụ” nghe có vẻ thú vị và thân mật hơn nhiều. Từ đó, những chú lính giúp việc thường gọi cấp chỉ huy của ḿnh là ‘ông thày” dễ nghe hơn. T́nh chiến hữu huynh đệ nẩy sinh dần thường khiến cho mối tương giao đệ tử/ ông thày ngày càng thân thiết hơn theo thời gian. Thường th́ chú lính này vừa kiêm vai tṛ chăm sóc vừa là người lính cận vệ bảo vệ khi giao chiến, hành quân. Trong chiến tranh tôi đă có dịp nhiều lần chứng kiến những cảnh tượng cảm động giữa t́nh cảm thày / tṛ này. Và ngay chính bản thân, tôi cũng đă bao phen cảm nhận được sự thân thương thày tṛ ấy. Thậm chí, t́nh chiến hữu đôi khi c̣n kéo dài rất lâu ngay cả sau này khi các đệ tử được giải ngũ và sau khi mất nước vào ngày 30 tháng Tư năm 75 nữa.

Tôi nấn ná ở chơi với ông Năm cho đến sau tết năm 90. Ông Năm thúc dục tôi mấy lần trở về Sài G̣n để theo dơi và chuẩn bị cho việc ra đi của tôi. Sau cùng tôi nghĩ, chắc cũng đến lúc phải trở lại Sài G̣n xem t́nh h́nh ra sao. Hôm đó là ngày mười một; ông Năm nói “Hết mồng rồi, đi thôi.” Tôi cũng không biết rơ lư do tại sao tôi có cảm nhận lần này ra về tôi có khi sẽ không gặp lại ông nữa. Tôi mơ hồ cảm nhận thế thôi. Lúc tiễn chân tôi ra khỏi xóm ông Năm dặn ḍ “ Trong Phật đạo có nói tới 4 nỗi khổ của đời người, đó là sinh lăo bịnh tử, cầu bất đắc, ái ly biệt, oán tương hội. ” Đời sống như một ḍng nước chảy miên man không ngừng nghỉ. Tương hội rồi ly biệt là chuyện thường t́nh. Đừng để ḷng xao động về những thứ t́nh thường của đời sống làm mất đi cái tâm yên tịnh của ḿnh. Có rồi mất để rồi biết đâu lại có một cái mới khác không chừng. Họa phúc, may rủi cũng tùy thuộc vào chính người cảm nhận.

Tôi chia tay ông Năm trong bịn rịn hơn bất kỳ cuộc chia tay nào đă có trước đó. Cuộc sống nơi đây phẳng lặng b́nh an mộc mạc quá khiến tôi tự vấn ḷng ḿnh không biết có nên dời bỏ nơi đây để đi t́m một cuộc sống khác hay không? Chiếc ba  lô trên vai tuy nhẹ tênh mà sao tôi vẫn cứ muốn vất bỏ nó, tôi thực sự không muốn mang theo bất kỳ một loại hành trang nào. Tôi bỗng dưng bất ngờ quay lại chỗ ông Năm đang đứng, bỏ ba lô xuống chân, tôi bảo “Tôi không muốn mang theo cái ǵ hết.” Cho dù tôi biết trong đó ngoài chiếc mùng cá nhân có vá vài chỗ, một miếng vải nhựa màu xanh để làm chiếu ngủ và một chiếc mền nylon vằn vện của quân đội đă quá cũ-- tất cả là của cải tôi c̣n sau cuộc chiến-- những thứ vật dụng này đă theo chân tôi chu du suốt thời gian tù đầy từ Miền Nam ra tới Miền Bắc. Tôi nói với ông Năm “ Tôi chẳng có ǵ quư giá cả ngoại trừ những thứ vật dụng lỉnh kỉnh này. Tôi muốn để lại cho ông dùng.” Ông Năm cười bảo “ Tùy chú thôi.” Rồi không biết ông nghĩ sao, tiếp lời “ Dĩ văng và kỷ niệm luôn buộc chân con người để ngăn không cho nó bước ra khỏi nỗi dằn vặt của ḿnh.” Tôi gật đầu quay đi rảo bước một mạch không nh́n trở lại. Khi ra tới ngă ba giữa quốc lộ và tỉnh lộ, nơi có vài chục nóc gia xiêu vẹo h́nh thành nên khu chợ, tôi ghé chân vào quán bà cụ bán nước chè xanh tôi thường ghé mỗi lần lên xuống đây. Gần như chẳng đợi tôi buông lời yêu cầu, bà cụ với chiếc gáo dừa, lật chiếc bát sành úp trên chơng tre rót một bát nước chè tươi đầy cho tôi.

Chiếc xe đ̣ xộc xệch chạy bằng than củi phun khói ph́ ph́ như xe lửa lắc lư đậu sát góc chợ. Vài người lên xe, phần lớn là những người đi thăm nuôi tù ở một trại gần đấy. Ngọn núi Chứa Chan về chiều úa vàng trong hoàng hôn. Quang cảnh nơi đây thật buồn. Tôi lên xe ngồi kế bên một chị phụ nữ có dẫn theo đứa con gái c̣m cơi và một chiếc túi giỏ tre trống rỗng. Chắc hẳn chiếc giỏ này là giỏ mang quà cho người chồng đang c̣n trong trại. Khuôn mặt chị đanh lại xơ xác và vô cảm. Cuộc sống cơ cực khó khăn khốn nạn quá, tất cả đă lấy mất đi tuổi thanh xuân và những thi vị của đời sống. Ngoại trừ mấy lời than van của vài ba người khách về cuộc sống khó khăn, phần c̣n lại im lặng. Mọi người đang lặng lẽ sống. Chừng gần một tiếng chờ đợi, cuối cùng chiếc xe cũng gần đầy khách. Những người thăm nuôi cuối cùng cũng đă ra về. Bác tài xế ra lệnh hành khách lên xe. Chiếc xe ́ ạch chạy ra khỏi con đường đất leo lên quốc lộ hướng về sài G̣n. Tôi im lặng trong suốt cuộc  hành tŕnh gần ba tiếng đồng hồ này.

Chính tôi cũng không hiểu tại sao thời gian gần đây tôi hờ hững với tất cả mọi chuyện chung quanh ḿnh. Không biết đó có phải là triệu chứng của tuồi tác hay chỉ là một hiện tượng tâm lư thuần túy. Dù lư do nào, tôi cũng vẫn thấy tôi khác hẳn tôi cách đây ít lâu. Tôi thường ngẫm nghĩ, tự chia cuộc đời ḿnh ra làm nhiều giai đoạn. Lúc tuổi trẻ, c̣n ở với mẹ cha, tôi vô tư hồn nhiên sống trong ṿng tay thân thưong của gia đ́nh. Tôi cũng từng ấp ủ bao nhiêu là ước mơ hoài băo. Mong sao sau này khi lớn lên, như bố tôi gợi ư, phải trở thành một bác sĩ. Mẹ tôi đơn giản hơn, chỉ mong sao tôi sống cho lưong thiện là được. Mẹ thường nói, thuyền to, sóng to; cứ làm người dân có công ăn việc làm, vui thú cùng vợ con là tốt nhất. Mọi đua chen vất vả chẳng ích ǵ, cơm ba chén, quần áo mặc cả ngày, giầu có hay quyền quư cao sang cũng chỉ chừng nấy. Những lúc như thế bố tôi thường chen ngang; “ Bà chỉ làm cho nó nhụt chí nam nhi! ” Khi đi học tôi thích đọc những câu thơ hào sảng khí phách của Nguyễn công Trứ nhiều hơn là những bài thơ t́nh ủy mị của các thi sĩ thời thơ mới sau này. Rồi học xong trung học, vào đại học khoa học ngồi chưa nóng chỗ th́ cuộc chiến bùng lên như củi khô gặp gió. Những cuộc xuống đường, bạo động làm tôi chán ngán. Bố tôi bảo “ Cứ đà này, đất nước sẽ mất”. Bố tôi giải ngũ v́ đáo hạn tuổi vào năm 1967. Ông trở về nhà trong tâm trạng bất an thường trực. Nghỉ hưu được hơn một năm, một người bạn thân mở cây xăng ở B́nh Dương nhờ ông lên cai quản. Từ đó mẹ tôi và tôi sống tại Sài g̣n. Chị Hai đi lấy chồng là một giáo sư trung học, bản thân chị cũng là một giáo viên dạy Việt văn. Gia đ́nh chị sinh sống tại Thủ Đức. Anh Ba tôi học xong kỹ sư Phú Thọ ra trường một thời gian bị gọi nhập ngũ rồi lập gia đ́nh, chuyển ngành sang công binh kiến tạo cũng ra ở riêng. Căn nhà trước đây chật chội v́ đông người bây giờ bỗng nhiên rộng răi hẳn lên. Mẹ bảo bao giờ tôi cưới vợ, phải đưa vợ con về sống bên cạnh bà, c̣n nếu không, đi đâu bà theo đó để chăm lo cho tôi. Tôi cười bảo con chẳng thèm lấy vợ, con ở vậy nuôi mẹ. Mẹ cười, “Để xem út của mẹ giữ được lời hứa bao lâu”. Rồi bà nói  tiếp “ Chỉ sợ mai mốt đây gặp đứa ưng mắt, ôm nhau đi bỏ mẹ một ḿnh thôi!”

Tôi vốn không bảnh trai hoặc ăn nói có duyên ǵ nên cũng ít bạn gái ngay cả khi tôi c̣n đi học. Bạn thân dăm đứa cùng lớp cũng tản đi dần v́ hoàn cảnh của đất nước. Đứa du học ngoại quốc, đứa đi lính, đứa đi làm công chức, đứa bỏ dở học vào bưng làm cách mạng… Cô bạn gái duy nhất tôi có là một cô gái trong xóm gần nhà. Cô học dưới tôi hai lớp. Ông thân sinh ra cô cũng là một đại úy già cùng trạc tuổi với bố tôi. Tuy hai ông không thân nhau v́ ở những đơn vị khác nhau nhưng t́nh hàng xóm láng giềng cũng thường chào hỏi, qua lại. Bà mẹ cô là một người ngoan đạo. Gia đ́nh gồm hai cô con gái, cô chị cả lấy một sĩ quan thiết giáp làm việc ở G̣ Vấp. Cô em học xong trung học đệ nhất cấp th́ ở nhà giúp cụ bà buôn bán. Cụ bà có một sạp vải nhỏ ở chợ Trương Minh Giảng. Lúc trước c̣n khoẻ mạnh, cụ tự lo một ḿnh. Sau này từ khi cô chị đi lấy chồng, sức khoẻ của cụ cũng yếu dần nên cô em quyết định thôi học phụ mẹ. Tôi cũng được mẹ tôi dợm ư với cô em. Lúc đầu khi chưa đi lính tôi cũng ừ à cho qua chuyện. Nói thực ḷng, ngoài quen biết và xă giao, tôi vốn chỉ coi cô như một cô em gái, hoặc cố gắng lắm th́ là một t́nh bạn nam nữ vậy thôi.

Năm 1968 khi vào trường sĩ quan, mải mê với việc học, tôi quên luôn cô bạn cùng xóm. Mẹ tôi thỉnh thoảng trong những bức thư viết cho tôi cũng đánh tiếng hỏi xem ư kiến tôi ra sao. Tôi trả lời cụ theo kiểu hoăn binh “ Th́ cứ để từ từ rồi tính, ít nhất cũng chờ con học xong ra trường.”

Tôi ra trường năm 1970. Cuộc đời run rủi khiến tôi từ một sĩ quan chiến tranh chính trị bỗng dưng trở thành một anh chàng sĩ quan bộ binh tác chiến chuyên nghiệp! Từ đó cuộc sống lang thang theo đơn vị làm tôi chẳng c̣n kịp suy nghĩ về một gia đ́nh cho bản thân. Trong cuộc chiến tranh, con người ta sống trọn vẹn với bản năng động vật của ḿnh nhất. Chém giết, chết chóc, thù hận… không thể làm tṛn đi những gai góc của cuộc sống vốn dĩ đă quá sắc cạnh. Những vết thương trên cơ thể cho dù có thể làm đau đớn thân xác nhưng rồi thời gian có thể làm nguôi ngoai đi nhưng những vết thương trong  ḷng, trong tim th́ không ngừng rỉ máu khi nó đă bị tổn thưong. Những vết sẹo tâm linh làm chết đi những giây thần kinh cảm xúc cả một đời người. Tôi chai ĺ và lạnh lùng đến mức có lúc mẹ bảo mẹ nhận không ra thằng út của mẹ ngây thơ và trong sáng ngày nào. Chiến tranh đă hủy diệt thế hệ chúng tôi. Có người bảo lịch sử của một dân tộc thường chuyển dịch theo một chu kỳ Sinh trụ hoại diệt. Từng thời kỳ ấy, các thế hệ thanh niên được sinh ra phải chấp nhận thân phận của ḿnh. Thế hệ của chúng tôi là thế hệ bị hủy diệt. Nếu không bị diệt trong chiến đấu ngoài sa trường th́ bị diệt khi thoát chết trở lại hậu phương. Kẻ thắng hay người bại cũng khốn nạn như nhau. Thậm chí những người may mắn sống bên ngoài cuộc chiến ấy tưởng đă được yên thân mà sống nhưng rồi họ cảm thấy họ cũng lầm. Cả một đất nước điêu tàn trong chiến tranh. Bom đạn và ḿn bẫy không chỉ hủy đi sinh mạng con người. Nó hủy luôn cả tài nguyên thiên nhiên và tâm hồn những người từng sống trong xă hội, đất nước ấy nữa. Dân tộc tôi mất đi những cảm nhận b́nh thường. Tất cả mọi người sống trong nghịch thường đă quen thành nếp. Con người trở nên tàn bạo dữ tợn hẳn lên. Những cuộc chiến tranh liên tục trong hơn nửa thế kỷ đă làm méo mó con người. Tôi đă thoát ra khỏi cuộc chiến trong tâm thái và h́nh dạng như thế.

Tôi về tới Sài G̣n lúc buổi chiều chập choạng. Từ ngă tư Hàng Xanh tôi đón xe ôm về nhà. Từng đoàn người di chuyển lặng lẽ trên đủ mọi loại phương tiện chạy lao xao trên đường. Cả thành phố vàng vọt xanh xao như người nằm chờ định bịnh. Rồi mai mốt đây tôi sẽ bỏ xứ này mà đi. Nghĩ đến điều ấy tôi chợt thấy nhói đau trong ḷng. Nhưng làm sao hơn được. Tôi sinh ra, lớn lên trong đất nước này, như ông Năm thường nói với tôi “Đất nước trời hành ”.


Song Vũ
22/03/12


 

Trang Văn Hữu

 

art2all.net