VĂN HỮU

Số 16 Mùa Xuân 2012

____________________________________________

 

Nguyễn Đặng Bắc Ninh 

Saigon, Một Thời Velosolex



Thư về cho bà con, bạn học cũ ở miền Nam Việt Nam, khi viết b́ thư, lần nào Hà cũng thấy ḷng xao lên một nỗi bất an: Chị muốn viết thật to cái tên thành phố SAIGON, nhưng sợ thư ḿnh sẽ đi mà không đến. Do đó càng ngày thư càng ít về với thành phố cũ, nhất là khi đă có điện thư.

Saigon, nơi đă dung dưỡng Hà suốt một thời hoa niên. Hồi di cư vào Nam chị chỉ là một cô bé học lớp Đệ Lục trường Trưng Vương. Cô bé này vào loại nhỏ nhất trong lớp v́ sau chiến tranh Việt Pháp, gia đ́nh cô hồi cư về Hà Nội rất sớm và cô trở lại trường ngay nên bạn cùng lớp có người lớn hơn cô đến năm, ba tuổi. Niên học nào cô cũng phải ngồi bàn trên. Mấy năm đầu, trường cô c̣n phải học nhờ trường Gia Long, mỗi sáng đứng chờ ở cổng trường nh́n các chị học tṛ Gia Long phóng xe mô-bi-lét, ống quần rộng bay phần phật, mấy cô nhỏ Bắc kỳ nh́n nhau cười ngặt nghẽo.

Nhưng chỉ ít lâu t́nh nghĩa Bắc Nam lại trở nên đậm đà thân ái. Lư do là Trưng Vương học từ sáng tới buổi trưa. Trước khi về, các cô để lại t́nh thư trong hộc bàn cho bạn Gia Long học lớp chiều và sáng sau vào lớp lại t́m trong hộc bàn hi vọng có thư hồi âm của người bạn mới. Có khi t́nh thư lại kèm theo vài cái kẹo hay quả ô mai mà cô bạn Nam Kỳ gọi là xí muội. T́nh bạn như thế cũng kéo dài cho đến hết niên học, mà có khi chẳng thấy mặt nhau lần nào.

Sau một niên học ngày ngày phải cuốc bộ từ nhà tới trường, một buổi tối mẹ bảo hai anh cô dẫn em đi mua chiếc xe đạp mới. Hôm đó ḷng cô vui như mở hội nhưng sao hai anh lại có vẻ nôn nóng hơn cô? Ngoài ba anh em, lại c̣n có cả mấy anh bạn xung phong đi theo tháp tùng. Các anh đưa cô đến một cửa hàng bán xe đạp gần đầu đường Gia Long. Tới nơi, cô thấy cửa hàng sầm uất, đèn néon sáng trưng. Một thiếu nữ xinh đẹp đứng ở cửa hàng tiếp khách, với mái tóc đen mượt óng ả chảy dài xuống tận thắt lưng. Cô nhỏ ṭ ṃ nh́n mái tóc cánh phượng nghiêng nghiêng một bên mái đầu mà cô đoán có lẽ nó phải được giữ bằng hàng chục cái kẹp tóc. Cô gái yểu điệu, tươi cười với các anh và âu yếm hỏi cô: Em muốn chiếc xe nào? Cô không biết các anh cô có dám đề cập ǵ đến giá cả nhưng cuối cùng cô cũng đem về một chiếc xe đạp mới, khung màu xanh lá mạ, ghi-đông và chuông mạ kền sáng bóng. Măi sau cô mới biết tên thiếu nữ con chủ tiệm là Phước Liên, rất nổi tiếng và học trên cô mấy lớp. Hèn chi sứ mạng dẫn em đi mua xe đạp được các anh cô và cả mấy người bạn hăng hái tham gia.

Cô là em út trong gia đ́nh. Cha mất sớm, được các anh chị thương nhưng ai cũng có cái quyền huynh thế phụ dạy dỗ đe nẹt cô, nhiều khi cô cũng thấy khổ sở. Bù lại, hai anh cô lại có nhiều bạn, mẹ cô cũng hiếu khách coi bạn con như con cháu nên họ rất thoải mái, chiều chuộng cô như em. Các anh đều sắp lên đại học nên coi con bé gày g̣, mặt mũi tinh nghịch như em út của ḿnh. Các anh cũng giúp cô trong việc học như anh Tín hàng xóm giải dùm những bài toán khó, anh Bích giảng cho cô những ư hay nét đẹp của những bài thơ cổ, các anh Hiệp, anh Bảo đạp xe đưa cô đi xem lớp xem trường trước ngày thi Trung Học Phổ Thông.

Có những buổi chiều hè, gió mát thổi qua giàn hoa ti-gôn trước mái hiên căn nhà nhỏ, các anh thổi sáo, ḥa đàn. Anh cô có ngón đàn Hạ Uy Di lâm ly thánh thót, anh thường hát bài Tà Áo Văn Quân thật lăng mạn mà đến bây giờ mỗi lần nghe lại cô vẫn thấy ḷng rung động “Tư Mă người ơi, dừng đàn bên Văn Quân, nâng phím hào hoa kề làn môi giai nhân”. Có khi anh hứng chí hát bài Cô Hàng Nước: Mẹ tôi nói rằng: Quyết chí hỏi vợ cho con a, quyết chí t́m nàng dâu ngoan a…” thật tức cười. Lại c̣n có anh Dư rất đẹp trai, khi anh kéo vĩ cầm bản Em Tôi, Chiều Tà, mái tóc dợn sóng của anh xơa xuống một bên trán trông thật nghệ sĩ. Nghe đâu sau này anh lấy vợ là con một nhà văn của nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Mỗi lần các anh họp bạn, cô Út bị sai bưng nước cam, xá xị, kem sô đa … túi bụi mà cũng không thấy phiền hà. Cô cũng nghe các anh thường suưt soa nhắc đến những người đẹp của Saigon thời đó, nào là Bảo, Chất, Châu Phố, Châu Qui…Nhưng h́nh ảnh các anh cho là đẹp nhất là “Cô Thiều áo trắng đi Vélosolex”. Với cái nh́n của cô bé 13 tuổi, h́nh ảnh áo trắng và vélosolex là biểu tượng cho nét đẹp trong sáng tuyệt vời.

Vài năm sau, các anh lớn lên, đi học xa hay ra trường đi làm nên nhà cô cũng bớt khách, và có lẽ cô cũng đă lớn hơn nên các bạn anh cô cũng sinh ra dè dặt. Chỉ c̣n ít người thỉnh thoảng tới nhà. Cô c̣n nhớ có một anh, h́nh như lúc đó mới vào đại học. Anh có cái Vespa Italy hay đến chở anh cô đi chơi. Mẹ cô hay nói “thằng ấy nó hiền”, nhưng cô không chắc anh ta có hiền thật không v́ thỉnh thoảng cô bắt gặp anh chở mấy cô gái đàng sau xe Vespa, hôm th́ tà áo xanh, hôm th́ tà áo hồng tung bay trong gió. Cô cũng không kể lại với mẹ v́ thấy chẳng liên hệ ǵ tới ḿnh.

Ngày ngày cô và đám bạn nhỏ trong trường vẫn đạp xe nói cười nhăng nhít. Thấm thoắt đă đến kỳ thi Trung Học Phổ Thông. Không đủ tuổi, anh cô phải làm dùm đơn xin miễn tuổi. Môn toán đại số vốn là khắc tinh của cô th́ may sao, anh Hai của cô được nghỉ phép về nhà cả tháng để sửa soạn sang Mỹ học. Anh la mắng dạy dỗ ra sao mà đến kỳ thi ấy cô đậu b́nh thứ.

Để làm quà thưởng, mẹ cô mua cho một chiếc xe Solex kiểu mới. Mẹ nói, ra ư không phải nuông chiều cô út, nhưng v́ “trường nó sắp dọn về gần Sở Thú, đi xe đạp th́ hết ngày giờ”. Chiếc xe trong mộng của cô không biết được mua lại của ai nhưng hăy c̣n rất mới, nước sơn đen vẫn c̣n bóng loáng, máy nổ dễ dàng, xe chạy êm ru. Thế là bắt đầu từ nay cô đă ung dung lướt xe VéloSolex dưới những trận mưa lá me dọc con đường Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Xe Vélosolex, cũng gọi là Solex, không giống như những chiếc xe gắn máy của Nhật tràn ngập Việt Nam sau này, cũng khác với những chiếc mobylette nặng nề cục mịch, máy mạnh hơn, tiếng kêu rất to. Xe Solex của cô gần giống như khung xe đạp, có gắn một bộ máy h́nh trụ nhỏ đằng trước dưới ghi đông. Xe thường sơn mầu đen, trông thanh nhă, tiếng máy kêu cũng nhẹ nhàng, êm dịu. Cô nghĩ xe Solex rất hợp với thiếu nữ Việt Nam, nhất là khi mặc áo dài. Các cô học tṛ thường thả tà áo trắng ra sau cho gió thổi bay bay như phượng múa trên đường phố.

Từ năm này cô đă thuộc vào lớp lớn, lên học đệ nhị cấp là trên cả bốn lớp đàn em. Đă có một số bạn lớp cô bỏ trường bỏ lớp theo chồng, mà nh́n lại cô vẫn là một con bé 15 tuổi không đáng để ư.

Ở nhà th́ vẫn có “anh Vespa” hay đến chơi với anh cô. H́nh như anh ta cũng chẳng để ư đến cô, và cô cũng bận với đám bạn học, cũng chẳng để ư đến anh. Chỉ nhớ một lần, mới gội đầu, cô ra ngồi ở bàn học với hộp đựng gương lược và kẹp tóc. Anh đi qua, ṭ ṃ đứng nh́n cô nhỏ 15 tuổi nghiêng đầu chải tóc. Cái nh́n của anh có ǵ là lạ, làm cô mắc cở, vội ôm cả gương lược chạy vào pḥng trong, vẫn thấy tiếng anh cười nói, không biết với ai “cái con nhỏ, có thế mà cũng…”

Thời đó nhiều cậu thanh niên Saigon có cái mốt mỗi ngày vào giờ tan học là đến “trồng cây si” ở các cổng trường con gái. C̣n các cô học tṛ th́ sợ nhất là các anh lẽo đẽo theo sau rồi hỏi han này nọ, ai mà nh́n thấy về mách là chết đ̣n hay ít ra cũng bị mắng trơ mặt mũi. Nguyệt, cô bạn ăn diện rất thời trang kể lại với đám bạn là vừa bị mẹ mắng “Tại mày cứ ăn mặc vào chúng nó mới hay theo”. Bà muốn nói con gái cứ diện bộ trang điểm nên đám con trai mới để ư mà cḥng ghẹo. Mấy cô ghé tai nhau thầm th́ “không ăn mặc ǵ nó càng theo nữa” rồi cười khúc khích với nhau.
Hồi này cô cũng mắc cở v́ có một cây si rất trung thành. Ra khỏi cổng trường, quay đi quay lại đă thấy anh ta đứng đâu đó lặng lẽ nh́n theo cô ríu rít với đám bạn. Có lần muốn đánh lạc hướng cô chạy xe lên nhà bạn hay ghé các cửa tiệm, tưởng thoát nhưng lúc đi ra đă thấy anh ta với chiếc mobylette màu xám đứng chờ đâu đó. Cô sợ không bao giờ dám nh́n thẳng vào mặt anh ta nhưng h́nh như anh ta hay mặc quần áo màu xám, mái tóc hơi quăn cũng xám và có lẽ mặt mũi anh cũng xám như chiếc mobylette của anh ta. Cô tức tối nghĩ thầm người đâu mà ĺ quá. Nhưng anh ta không bao giờ đến gần hay nói năng ǵ nên cô không biết làm sao, chỉ coi anh ta như “một nỗi ám ảnh không rời”.

Nhiều năm sau, khi đă có gia đ́nh, cô t́nh cờ gặp lại anh Mobylette ở nhà một chị bạn cũ. Té ra anh cũng là một Dược Sĩ đồng nghiệp với chị bạn. Anh già hơn ngày xưa một chút, mập hơn một chút, anh không c̣n cái xe molylette màu xám và anh vẫn chưa lấy vợ. Anh nói chuyện nhưng h́nh như đầu óc để đâu đâu. Anh nh́n cô, hai mắt hơi buồn “Có lẽ không bao giờ tôi lấy vợ”.


*
 

Những năm sau, Saigon mất đi vẻ thanh b́nh, lúc nào cũng thấy sôi sục không khí chiến tranh với những cách mạng và chỉnh lư. Đă thành sinh viên của Đại học Saigon và xin được ít giờ dạy ở vài trường Trung Học tư, cô có phương tiện rủ các bạn chạy Solex lên Tân Định ăn ḿ ḅ viên Cây Nhăn, mua sách của Tự Lực Văn Đoàn…Cô cũng đă tham dự những Đêm Không Ngủ của sinh viên thảo luận về t́nh h́nh đất nước, khi th́ cùng theo các anh chị lớn theo chiến dịch Xuống Đường để phản đối chế độ mà các người trẻ thời đó cho là lỗi thời, cần đổi mới.

Một buổi chiều, đang chạy xe trên đường Lê Văn Duyệt, cô chợt thấy một chiếc Vespa phóng nhanh đến cạnh. Quay sang, cô nhận ra “anh Vespa”, người bạn thân của anh cô trước đây hay đến nhà chở anh đi chơi, đi pḥng trà, khiêu vũ. Những lúc sau này không thấy anh đến nhà thường như trước và không hiểu sao ḷng cô lại hay nghĩ đến anh, người thanh niên gầy gầy cao cao, ít nói, nhưng có ánh mắt làm cô bối rối. Anh nói: “Ngày mai anh phải đi Nha Trang rồi!”. Cô không nhớ lúc đó anh c̣n nói những ǵ, nhưng trước khi bỏ đi, anh nói vội “Anh sẽ viết thư cho em”.

Cô biết anh vừa tốt nghiệp trường Hành Chánh th́ được đưa ra quân trường Đồng Đế để huấn luyện quân sự trước khi bổ nhiệm đi xa. Vài tuần sau cô nhận được thư anh nhưng cô không trả lời. Sau gần một năm, cô nghe nói anh đă măn khóa và trở lại Saigon. Cô cũng không thấy anh đến thăm. Chắc anh sợ cô thấy cái đầu tóc ngắn, da đen khét nắng, không c̣n nét thư sinh của anh? Rồi anh được đổi ra làm việc ở đảo Phú Quốc, một đảo xa tít tắp phía Nam Việt Nam. Anh lại viết thư về. Trong thư anh không than thở về cảnh sống cô đơn nơi cuối băi đầu ghềnh mà anh lại nói về sự quyến rũ của mùi nồng thơm biển cả, màu trắng xóa của những ngọn sóng bạc đầu và màu xanh của núi rừng. Anh gọi ḥn đảo là “Lost Paradise” của anh. Anh cũng mong thư của cô và dần dần anh phác họa đời sống tương lai có cô dự phần trong đó. Rồi bỗng nhiên cô thấy ḿnh chiều nào cũng mở radio nghe tin thời tiết, dù chỉ đuợc nghe báo tin “Hôm nay Phú Quốc trời nhiều mây…”

Ít lâu sau anh về thăm Saigon vẫn với h́nh dáng cũ, nhưng trông đă đượm nét phong sương. Bây giờ cô nói chuyện với anh lâu hơn và rồi sau đó anh đến thăm cô luôn, ngay cả khi anh cô không có nhà. Lúc này anh không c̣n xe Vespa, lần nào đi chơi với nhau cũng bằng taxi. Chiếc xe Solex của cô cũng được nghỉ hưu. Hai năm sau anh rời đảo, về Saigon làm việc trong một cơ quan chính phủ và cô cũng lên thuyền hoa theo anh, bỏ lại quăng đời thơ mộng mà cô gọi là quăng đời VéloSolex đă qua.

Saigon vẫn tiếp tục cảnh sống phồn vinh trong nỗi ưu tư thường trực của chiến tranh cận kề. Phố xá nhộn nhịp, pḥng trà quán ăn đông đúc rộn ră tiếng nói cười, nhưng đêm đêm những đốm hỏa châu vẫn vụt lên chiếu sáng vùng ven đô, như báo trước những hiểm nguy sắp tới. Rồi đến một ngày hốt hoảng dồn hết tất cả những ǵ có thể mang theo được vào mấy cái va-li chạy ra bến tàu, mặc cho định mệnh đẩy đưa cả gia đ́nh vào một tương lai vô định. Nước mắt nhạt nḥa, quay đầu nh́n lại thành phố cũ, biết rằng lần này ra đi là vĩnh biệt.

 

Không biết bao nhiêu năm tháng đă qua đi nơi xứ người. Gặp lại những nam thanh nữ tú của Saigon năm nào, giật ḿnh v́ không thể nhận ra nhau. Mới hôm xưa c̣n trẻ trung nhanh nhẹn, nay nh́n lại đă thấy mái tóc muối nhiều hơn tiêu. Đúng như ngày xưa Lư Bạch đă ngậm ngùi: Buổi sáng tóc c̣n xanh như tơ, chiều đến đă trắng như tuyết. 

H́nh dáng đă đổi thay, mà định mệnh cũng vần xoay bao cuộc đời vào các ngả rẽ không ngờ. Nh́n tấm h́nh kỷ niệm các bạn cùng lớp ngày xưa, thấy cô bạn Vũ Hoàng Oanh thủa nào với gương mặt tươi cười như hứa hẹn một tương lai sáng lạn, th́ sau 1975 đă phải vừa dạy học vừa tảo tần xuôi ngược buôn bán thêm để nuôi con khi chồng là nhà văn quân đội Dương Hùng Cường bị bắt vào trại học tập cải tạo rồi qua đời, sau đó Oanh cũng bị tai nạn trong khi tất bật chạy hàng, và mất theo chồng để lại mấy đứa con c̣n thơ dại. Cùng đứng trong tấm ảnh ngày xưa có Thu Nhạn dung dị đoan trang mà những năm gần đây thường được thông tin trong nước nhắc đến là người bạn đường tận tụy sống một đời khép kín theo chồng là cố Thiếu Tướng VC Phạm Xuân Ẩn, một gián điệp nhị trùng nổi tiếng. Ngồi gần đó trong h́nh là Bích Vân, người vợ hiền hậu của Đề Đốc Hải Quân VNCH Hoàng Cơ Minh, ông đă thành lập tổ chức Kháng Chiến, trở lại Việt Nam lập chiến khu và nghe đâu đă hi sinh trong khu rừng Hạ Lào. Hai thiếu nữ mặt mũi ngây thơ trong sáng thuở nào v́ nghịch cảnh lịch sử đă sống hai cảnh đời khác biệt, nay đứng trên hai chiến tuyến, biết có khi nào gặp lại nhau?

Nguyễn-Đặng Bắc Ninh

 

Trang Văn Hữu

 

art2all.net