VĂN HỮU

Số 20 Mùa Xuân 2013

____________________________________________

 

Bích Hoài 

 

Mùa xuân và T́nh Yêu

 

         

          Thật là gượng ép khi phải viết theo mùa. Nhưng khi Xuân đến không thể không nói đến T́nh yêu. Tuổi nào cũng có thể nói đến T́nh yêu. T́nh yêu ở đây phải hiểu theo nghĩa rộng. Có thương, có hận, có nhớ, có quên, có vui, có buồn. T́nh yêu Thiên nhiên, T́nh yêu Gia đ́nh, T́nh yêu Tổ quốc. Và T́nh yêu trải rộng qua thi ca, âm nhạc và nghệ thuật tạo h́nh.

Từ ngàn xưa, mùa Xuân là chất xúc tác cho mọi cảm xúc. Lượm lặt trong tập thơ Đường, chúng ta đọc được những vần thơ tuyệt tác. Thơ Đường có nội dung sâu sắc và h́nh thức đẹp đẽ, ảnh hưởng lớn đến nền văn hóa ở Trung Hoa và các nước láng giềng, kể cả Việt Nam.

 

Sầm Tham, ẩn cư trong núi, khi Xuân về, cảm tác bốn câu thơ chứa đựng cả một trời triết lư nhân sinh trong bài thơ Sơn Pḥng Xuân Sự (Nét Xuân ở nhà trên núi):

 

Lương viên nhật mộ loạn phi nha

Cực mục tiêu điều tạm lưỡng gia

Đ́nh thụ bất tri nhân khứ tận

Xuân lai hoàn phát cựu thời hoa

 

Trời tối vườn Lương quạ dập d́u

Nhà xa mấy nóc cảnh đ́u hiu

Cây sầu chẳng biết người đi hết

Xuân tới hoa xưa vẫn nở đều

 

(Ngô Tất Tố dịch)

 

Hai câu thơ cuối vẫn được truyền tụng nói về kiếp người qua mau, cứ mỗi độ Xuân về lại thấy thiếu bóng của nhiều người, trong khi trong vườn của Lương Hiếu Vương hoa xưa vẫn nở đều.

 

Lư Bạch, trong bài Xuân Tứ, nói lên ư nghĩ về mùa Xuân:

 

Yên thảo như bích ty

Tần tang đê lục chi

Đương quân hoài qui nhật

Thị thiếp đoạn trường th́

Xuân phong bất tương thức

Hà sự nhập la vi

 

Cỏ yên như tơ biếc

Dâu Tần lả lướt xanh

Lúc chàng mong trở lại

Thiếp đang thắt ruột gan

Gió Xuân nào có biết

Cớ chi vào trong màn?

 

(Ngô Văn Phú dịch)

 

Cũng Lư Bạch, trong bài Xuân Nhật Túy Khởi Ngôn Chí (Ngày Xuân say rượu, tỉnh dậy nói đến chí của ḿnh), than văn:

 

Xử thế nhược đại mộng

Hồ vi lao kỳ sinh

Sở dĩ chung nhật túy

Đồi nhiên ngọa tiền doanh

Giác lai miên đ́nh tiền

Nhất điểu hoa gian minh

Tá vấn thử hà nhật

Xuân phong ngữ lưu oanh

Cảm chi dục thán tức

Đối tửu hoàn tự khuynh

Hạo ca đăi minh nguyệt

Khúc tận dĩ vong t́nh

 

Ở đời như giấc chiêm bao,

Làm chi mà phải lao đao cho đời?

Vậy nên say suốt hôm mai,

Bên cây cột trước, nằm dài khểnh chân.

Tỉnh rồi, chợt ngó trước sân,

Tiếng chim đâu đă nghe gần trong hoa.

Ngày chi? Thử hỏi cho ra,

Gió Xuân đương giục oanh già véo von.

Cảm thương ḷng những bồn chồn.

Đoái trông cảnh vật, giốc luôn chén quỳnh.

Hát ngao chờ bóng trăng thanh,

Lời ca vừa hết, mối t́nh đă quên.

 

(Ngô Tất Tố dịch)

 

Lư Bạch, con người của thơ và rượu, giễu cợt đạo Nho, thích triết học đạo Lăo nói về vũ trụ nhân sinh, nên trong thơ có tính chất tràn đầy lăng mạn. Ông và Đỗ Phủ mến tài nhau, thân thiết đến măn đời, làm chúng ta nhớ đến hai thi sĩ Rim-baud và Verlaine của Pháp ở thế kỷ 19, mà Xuân Diệu đă nhắc lại trong hai câu thơ:

 

Tôi nhớ Rimbaud với Verlaine

Hai chàng thi sĩ chuếnh hơi men.

 

Cũng nên nói thêm, Xuân Diệu và Huy Cận là hai người bạn thơ chí thiết. Có lẽ hai câu thơ trên là để nói về chính hai người. Trong thời kỳ Đệ nhị Thế chiến, Ngô Xuân Diệu làm Tham Tá sở Quan Thuế tại Mỹ Tho. Cù Huy Cận lúc đó đang học Đại học Canh Nông ở Hà Nội. Nghỉ hè, họ Cù vào Nam thăm bạn. Tôi đă từng thấy hai người đứng rù ŕ nói chuyện tâm sự với nhau hàng giờ, người bên trong, người bên ngoài, bên cạnh cửa sổ văn pḥng của Xuân Diệu. Đây là một giai thoại có lẽ ít có người biết.

 

Về phần Rimbaud và Verlaine, họ làm quen với nhau và gặp nhau ở Paris. Verlaine lúc đó đă nổi tiếng là thi sĩ thuộc trường phái tượng trưng, gợi lên những cảm xúc thông qua ngôn từ ma ảo, những âm thanh lập đi lập lại và giai điệu nhịp nhàng như trong âm nhạc. T́nh bạn giữa hai người gặp nhiều sóng gió và có nhiều biến cố điên loạn, bi thảm, không như của Xuân Diệu và Huy Cận, hài ḥa và b́nh lặng. Thơ của Rimbaud sau này có ảnh hưởng đến các trường phái tượng trưng, đađa và siêu hiện thực. Verlaine vào cuối đời đâm nghiện rượu, ma túy và sống trong nghèo khó.

 

Bài thơ Printemps (Mùa Xuân) của Verlaine là tựa đề tượng trưng nói về một thiếu nữ có tóc vàng hoe, với những câu:

 

“Nhựa dâng tràn và hoa chớm nở,

Tuổi thơ của em là hàng giậu cây duyên,

Để cho các ngón tay của tôi lạc lơng giữa rong rêu,

Nơi những nụ hồng khoe sắc rạng ngời.

 

“Hăy để cho tôi, giữa vùng cỏ mướt,

Uống những giọt sương lóng lánh,

Đọng trên cánh hoa mềm.

 

“Để cho niềm vui thú, em yêu,

Làm rạng rỡ vầng trán ngây thơ

Như ánh b́nh minh bẽn lẽn trên nền trời xanh biếc.

 

Trở lại với ḍng thơ Đường, chúng ta hăy đọc bài Xuân Đề Hồ Thượng (Mùa Xuân, đề thơ trên hồ) của Bạch Cư Dị:

 

Hồ thượng xuân lai tự họa đồ

Loạn phong vi nhiễu thủy b́nh phô

Tùng bài sơn diện thiên trùng thúy

Nguyệt điểm ba tâm nhất khỏa châu

Bích thảm tuyến đầu trừu tảo đạo

Thanh la quần đái triển tân bồ

Vị năng phao đắc Hàng Châu khứ

Nhất bán câu lưu thị thử hồ

 

Xuân đến trên hồ tựa bức tranh,

Nước êm phăng phẳng núi ṿng quanh.

Sườn non bích trải: tùng muôn cụm,

Đáy nước châu gieo: nguyệt một vành.

Lúa mới dập dờn vuông đệm biếc,

Bồ non phơ phất dải là xanh.

Hàng Châu chưa bỏ đi cho dứt,

Một nửa v́ đây vướng vít t́nh.

 

(Khương hữu Dụng dịch)

 

Mạnh Hạo Nhiên có bài ngũ ngôn tứ tuyệt Xuân Hiểu (Sớm Xuân):

 

Xuân miên bất giác hiểu

Xứ xứ văn đề điểu

Dạ lai phong vũ thanh

Hoa lạc tri đa thiểu

 

Giấc xuân, sáng chẳng biết,

Khắp nơi chim ríu rít

Đêm nghe tiếng gió mưa

Hoa rụng nhiều hay ít.

 

(Tương Như dịch)

 

Thơ Xuân đời Đường c̣n nhiều, như những bài Xuân cung khúc của Vương Xương Linh, Xuân Oán của Kim Xương Tự, Xuân Oán của Lưu Phương B́nh, Tống xuân từ của Vương Duy, Xuân T́nh của Vương Giá…, không thể trích hết trong một bài báo ngắn.

 

Bước qua thể thơ ngắn Haiku của Nhật bản, một loại nghệ thuật khổ chế hay một thứ khổ hạnh nghệ thuật. Nghệ thuật là một thứ ǵ bẩm sinh của phụ nữ và mỗi người đàn ông bắt đầu là một thứ nghệ sĩ khi đắm ḿnh trong yêu đương. Khổ hạnh là khi người đàn ông từ bỏ lạc thú để chịu đựng thương đau, từ bỏ hạnh phúc để t́m nguồn phúc lành của Thượng Đế. Điều này không thể giải thích hoặc xác minh. Các nhà thơ Haiku Nhật Bản dường như là những nhà tu khổ hạnh. Nhưng thơ haiku lại gần với đời sống và thiên nhiên. Chúng ta hăy đọc thơ Xuân của Matsuo Basho, nhà thơ trầm lặng, nh́n cảnh vật với tâm hồn thư thái:

 

Haru nare ya

na monaki yama no

asagasumi

Phải, mùa Xuân đă đến

Sáng nay ngọn núi không tên

lẫn khuất trong sương mù

 

Nhà thơ Issa, hậu bối của Basho, nguyên là một trẻ mồ côi, nên trong ông có một chút ǵ đó hận đời. Nhưng, khi lâm chung, ông cũng giống như Hazlitt nói: "Tôi đă có cuộc sống hạnh phúc." Tuy nhiên, ở Issa, thái độ thù địch không mang tính cách ác cảm. Cũng trước cảnh mùa Xuân đó, Issa viết:

 

Kasumu hi ya

sazo tennin no

go-taikutsu

 

Một ngày mờ sương

Những kẻ ở trên Thiên đàng

có lẽ bực bội bơ phờ

 

Buson, một nhà thơ khác, cũng mạnh mẽ yêu thiên nhiên như Basho, thấy mùa Xuân dịu dàng như tiếng nước reo:

 

Haru no mizu

sumire tsubana wo

nurashi yuku

 

Những giọt nước mùa Xuân

buông ḿnh đẫm ướt

hoa tím và lau sậy

 

Rời bỏ Đông phương, chúng ta hăy t́m những ḍng thơ Xuân ở trời Tây. Mùa Xuân là một kinh nghiệm lạ lùng. Cả thế giới như sống dậy sau mùa đông khắc nghiệt, khi mà mọi thứ đều như ch́m đắm trong cơi chết. Mùa Xuân, màu sắc tràn đầy, hương thơm tỏa ngát. Mọi thứ trở nên sống động. Mùa Xuân cho chúng ta hy vọng về sự hồi sinh ngay cả trong cuộc đời của chúng ta. Điều đó cũng có thật trong T́nh yêu.

 

Robert Browning ngợi ca mùa Xuân:

 

Năm tháng vào Xuân

Ngày đang hừng sáng;

Sáng lúc bảy giờ;

Sườn núi lóng lánh hạt sương;

Chim sơn ca cất cánh;

Ốc bám trên bụi gai;

Chúa ở trên thiên đàng –

Mọi thứ an bài trên thế giới!

 

Và Percy Bysshe Shelley, trong bài thơ The Sensitive Plant (Cây Trinh nữ), ca tụng mùa Xuân như là sự phấn khởi của T́nh yêu:

 

Mùa Xuân bừng dậy giữa vườn,

Như Linh hồn của T́nh yêu cùng khắp;

Và mỗi đóa hoa, cọng cỏ trên vùng ảm đạm của Trái Đất

Vươn lên từ những giấc mơ lạnh giá.

 

Thi sĩ Julian Grenfell ví von:

 

Quả Địa Cầu trần trụi ấm lên với mùa Xuân,

Và cỏ xanh cùng cây cối đâm chồi nở lộc

Nghiêng ḿnh hôn mặt trời rạng rỡ

Run run trong gió mát đượm ánh dương.

 

Charles Baudelaire, thi sĩ người Pháp ở thế kỷ 19, người đă đổi mới thi ca, góp phần tạo dựng ra lư thuyết của trường phái tượng trưng, mà sau này được Verlaine và Mallarmé khai triển, người tích cực biện luận cho âm nhạc và hội họa hiện đại (của Wagner, Delacroix), trong bài thơ Paysage (Thắng cảnh), đă viết:

 

Tôi sẽ mơ tới những chân trời xanh ngắt,

Những ngôi vườn, những ṿi nước phát ra từ tượng thạch cao,

Những nụ hôn, những con chim líu lo sáng tối,

Và tất cả những ǵ mà mối diễm t́nh đượm nét thơ ngây.

Sự biến loạn, khuấy động bên cửa kính

Không làm tôi ngẩng đầu lên khỏi bàn việc;

V́ tôi sẽ đắm ch́m trong trạng thái ngất ngây.

Để tự nguyện gợi lên mùa Xuân

Rút ra từ trái tim tôi một mặt trời nóng bỏng,

Và tạo ra một không gian ấm áp cho những suy tư cuồng nhiệt của tôi.

 

Đi Đông, đi Tây, cuối cùng rồi cũng phải trở lại căn nhà của chúng ta v́ "dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn."

 

Tôi đă đọc "H́nh ảnh một mùa Xuân" của Dư Thị Diễm Buồn:

 

Xuân về mai đua nở

Vàng ối cả khu vườn

Nắng hồng lên rực rỡ

Én liệng trời ngát hương

Sao đêm ngời ánh ngọc

Mẹ đảnh lễ cầu an

Sân chùa em hái lộc

Chánh điện mờ khói nhang

. . . . . .

Có một cái ǵ phảng phất như bài Em Đi Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp, khi nữ thi sĩ tiếp:

 

Em nh́n qua song cửa

Trời tối, đêm ba mươi

Ôi thẹn thùng mắc cỡ!

Ánh mắt ai sáng ngời!

. . . . . .

Rồi cũng như bao cô gái khác, “từ giă mộng mơ, em lấy chồng.” Chỉ khác, thời chinh chiến:

 

Người ấy đưa em đi khắp nơi

Từ Cà Mau, Chương Thiện, Tháp Mười

Tịnh Biên, Bảy Núi, vùng Châu Đốc…

Người hứa cùng em sống trọn đời

Rồi An Lộc, Quảng Trị, Kon-Tum

Huế, Khe Sanh… chiến thắng vang lừng

Người về hoa cắm trên đầu súng

Mang đến cho em cả trời Xuân

 

Nhưng rồi sau Ba Mươi Tháng Tư, một Tháng Tư đen:

 

Bây giờ em đă hai màu tóc

Người ấy ơn đền nợ núi sông!

Cứ mỗi lần mùa Xuân lại đến

H́nh ảnh Xuân xưa ngập cơi ḷng!

 

Năm hết Tết đến, kẻ ly hương không khỏi chạnh ḷng nhớ nước, nhớ mẹ, nhớ cha. Chúng ta hăy nghe Ư Nga gửi gắm t́nh quê trong bài thơ Xuân Nhớ Nhà:

. . . . . . .

Nhớ lắm Me ơi! T́nh mẫu tử!

Nhớ Nhà, con vốc tuyết làm hoa

Thêm Xuân này nữa Xuân hăm mấy

Mơ măi chưa quay lại với Nhà.

 

Trong khi đó, Bùi Ngọc Tuấn trở về chốn cũ để bàng hoàng ngơ ngẩn sầu thương, cảnh cũ đó mà người xưa đâu vắng, với bài thơ Ta Về Đà Lạt:

 

Ta về Đà Lạt chiều sương trắng

Hoa mận trổ bông – chiều vào Xuân

Đứng lặng một ḿnh trên phố vắng

Vời vợi sầu đưa thương cố nhân.

. . . . .

 

Phạm Văn B́nh, người Thủy Quân Lục Chiến, về Cà Mâu để nhớ lại:

. . . . .

Hoa mai nở đầy – Em đang chờ đợi

Mười hai tháng dài – Dài ước mơ say

Nhớ má cho hồng – Nhớ môi cho ngọt

Anh về cùng em – Vui đón giao thừa.

 

Một nhân sĩ, Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, cuối đường tranh đấu, nhắn nhủ trong bài Xuân Cảm:

. . . . .

Nặng nợ dâu, tằm phải nhả tơ,

Vấn vương trong kén tự bao giờ.

Tâm hồn cằn cỗi trong cô độc,

Đă hết lâu rồi mộng với thơ.

Giờ chỉ c̣n mong bạn thiếu niên,

Nhiều trang anh tuấn tiến mau lên,

Thay ḿnh tranh đấu cho dân tộc,

Và giữ lâu bền ngọn lửa thiêng.

 

Kho tàng thi ca làm sao mở hết, xin mượn lời của cố thi sĩ Vũ Hoàng Chương, cũng là một nhà giáo dục, để làm lời kết:

 

“Thơ vốn là mộng, là tưởng tượng, là tách rời thực tế, nhưng mộng trên những t́nh tự thực. Không chấp nhận loại t́nh tự hư hoang. Có khoa học giả tưởng, không có thơ giả tưởng. Nói thơ là nói đến thế giới huyễn tưởng, huyễn tưởng trên sự thực để thăng hoa sự thực, chứ không bất chấp, không chối bỏ sự thực. Nhà thơ không được láo, nhà thơ phải thực, nhưng thoát sáo sự thực thành mộng để đưa hồn tính người yêu thơ vươn lên sự thực muôn đời, đến chân lư cuộc sống. Thiên chức thi ca là ở chỗ đấy.”

 

Bích Hoài

 

Trang Văn Hữu

 

art2all.net