VĂN HỮU

Số 22 Mùa Thu 2013

______________________________________________________

 

Nguyễn Hoàng Dương

 

Mây trắng B'Lao

 

       Không ai mời gọi, chỉ là một sự t́nh cờ trên đường đời rong ruổi, tôi đến với miền rừng đồi c̣n hoang hóa trên cao nguyên B’Lao nầy. Coi nỗi cơm áo nhọc nhằn như thể tṛ chơi, xem cảnh thế sự đ́u hiu như những lần chiêm bao lạc lối, tôi dừng lại nơi đây, ngậm ngùi ở trọ dưới bầu trời lặng lờ mây trắng…

 

 

 

6

  

 

Vào những năm đầu của thập niên 90, những văn pḥng dâu tằm tơ mọc lên tại Bảo Lộc với sự đầu tư của những công ty nước ngoài. Phong trào trồng dâu nuôi tằm phát triển mạnh mẽ ở những vùng sâu vùng xa của Bảo Lộc. Vùng cao nguyên đất đỏ ba-zan nầy ngoài việc ưu đăi cho cây cà phê và chè c̣n là nơi thích hợp cho việc trồng dâu. Dân chúng Lộc Đức tạm gác cây cà phê lại đổ xô nhau đi phát rẫy hoặc mua lại đất của người dân tộc để trồng dâu. Anh Chất dù đă có nghề trong tay sống cũng tương đối ổn định nhưng cũng mua lại một héc ta đất đồi trong khu Xuân Thủy cách nơi định cư của anh em người Quảng Ngăi khoảng 4km để trồng dâu nuôi tằm.

Tôi đang ở Quảng Ngăi cùng gia đ́nh sống trong t́nh cảnh kinh tế bế tắc trên mấy sào đất băi đă bị vắt kiệt hết nguồn dinh dưỡng bởi lối trồng trọt hoa màu theo phương pháp xen canh. Anh Chất gửi thư về bảo tôi vào cùng anh chung sức trồng dâu nuôi tằm. Anh hứa sẽ tạo điều kiện cho tôi có năm bảy sào đất tại Lộc Đức để canh tác và tương lai sẽ dựng nhà lập nghiệp ở đây. Tôi quẳng cuốc lại quê nhà, lên đường ngay với quyết tâm phen nầy làm nên sự nghiệp.

Tôi trở lại Lộc Đức vào những ngày đầu mùa mưa năm 1991, được mấy hôm th́ gặp phải một câu chuyện buồn, đây là nỗi buồn không của riêng ai.... Một bi kịch xảy ra ở nơi chỉ có vẻ đẹp của thiên nhiên là thừa thăi, mọi thứ c̣n lại của nhu cầu con người đều thiếu thốn.

Đối vối những người nông dân ở miền Bắc, với diện tích canh tác 250 mét vuông trên đầu người th́ việc được đặt chân đến vùng cao nguyên rẫy đồi trùng điệp nầy chẳng khác nào đến được thiên đường. Hy vọng về một đời sống no đủ hiển hiện trước mắt khi nh́n thấy hàng trăm hec-ta được tự do phát hoang với niềm tin ḿnh sẽ trở thành chủ sở hữu của những vườn cà phê và những nương dâu xanh tốt. Tuy nhiên trong cảnh quan thiên nhiên và viễn cảnh đẹp đẽ nhường kia lại ẩn chứa mầm mống tai họa, nhất là vào mùa mưa lại là thời điểm kư sinh trùng sốt rét ác tính hoành hành dữ dội. Những thân thể suy kiệt trầm trọng v́ thiếu dinh dưỡng là nơi mà tử thần mang tên sốt rét t́m đến.

 Nhà anh Chất được xem như là tiền trạm đón bệnh nhân sốt rét (thay v́ mang đến trạm xá xă Lộc Đức th́ cũng thế thôi) trước khi chuyển ra bệnh viện Bảo Lộc. Anh đă từng cứu chữa rất nhiều người trong t́nh trạng cấp cứu rồi kịp thời chuyển đi, tuy nhiên bi kịch rồi cũng đến. Lần nầy bệnh nhân đến trong t́nh trạng hấp hối và đường sá lầy lội v́ mưa dầm.

Sau trận mưa kéo dài khoảng 2 tiếng đồng hồ, tôi ngồi bên cửa sổ nh́n xuống dưới xóm chợt thấy có hai người khiêng một chiếc vơng từ dưới dốc đi lên nhà. Tôi nghĩ thầm: lại thêm một bệnh nhân sốt rét nữa rồi... Anh Chất ra ngoài hiên đón người bệnh. Hai người khiêng vơng, một đàn ông, một đàn bà áo quần ướt sũng, vừa đặt vơng xuống người đàn bà nói trong hơi thở hổn hển:

-Anh Chất ơi! anh làm ơn cứu giùm ông ấy, tội nghiệp ông quá, bị sốt mấy ngày liền không ai hay biết mà ra nông nỗi nầy...

Người bệnh được bế lên giường, khi tấm chăn phủ trên người mở ra tôi thấy một người đàn ông trạc 60 tuổi thân h́nh đen đủi gầy g̣ đang trong t́nh trạng hôn mê. Sau khi khám xong anh Chất nói với hai người kia:

-Tôi không đủ khả năng cứu ông ta được, ông đă kiệt quệ, trong t́nh trạng hấp hối như thế nầy bây giờ chỉ c̣n cách đưa ông ta ra bệnh viện Bảo Lộc may ra có vài phần hy vọng.

Anh nói thế mặc dù biết rằng không một phép màu nào có thể cứu được ông ta. Anh hỏi hai người nọ:

- Anh chị là ǵ của ông ấy? Người đàn ông đáp:

- Chúng tôi chỉ là hàng xóm của ông thôi. Ông không có một ai thân thích ở đây. Đường sá lầy lội thế nầy không có một phương tiện xe cộ nào có thể đi lại được, từ đây ra Bảo Lộc gần 30 km làm sao mà khiêng ông ấy đi. Thôi anh làm ơn cho ông nằm lại đây, c̣n nước c̣n tát...

Tôi đă từng nhiều lần dùng xe hon đa giúp người nhà chở người bệnh ra Bảo Lộc cấp cứu nhưng lúc nầy th́ không cách ǵ xoay xở được. Anh Chất lắc đầu và khó khăn lắm mới đưa được mũi kim vào tĩnh mạch để chuyền nước cho ông. Trong t́nh cảnh nầy không ai có thể làm cách nào khác hơn.

Hai người nọ ngồi sang bàn uống nước và sau những lời kể lể của họ tôi được biết sơ lược về người bệnh đang nằm hấp hối trên giường kia.

Ông ta quê ở Hà Nam Ninh, một ḿnh từ ngoài Bắc vào Lộc Đức đă gần 5 năm rồi. Đây là một người tha phương cầu thực kỳ lạ v́ ông không hề mang theo vợ con ǵ cả, nghe đâu thời chiến tranh ông có đi bộ đội rồi trở về quê khi cuộc chiến chấm dứt. Ông vào Lộc Đức t́m đất khai hoang và dựng nhà trên một lưng đồi cách biệt với những người hàng xóm chung quanh. Nơi ông ở cách xa chỗ anh Chất khoảng 10km, quanh đấy chỉ có vài gia đ́nh hàng xóm là bà con xa trong họ vào đây trước ông. Nói là hàng xóm nhưng những gia đ́nh nầy ở trên những ngọn đồi khác nhau, nhà cách nhà phải đến vài trăm mét. Ông một ḿnh cặm cụi làm việc, năm bảy hôm mới ra quán cách chỗ ở vài cây số để mua lương thực. Ông rất ít tiếp xúc với những người chung quanh. Mỗi ngày hai lần sớm chiều những người hàng xóm dưới chân đồi nh́n thấy từ nhà ông khói bếp bay lên và biết rằng ông vẫn sống và làm việc b́nh thường. Bao nhiêu mùa nắng mưa vẫn thế... măi đến gần đây những người hàng xóm hai ba ngày liền không thấy khói bếp của ngôi nhà trên đồi bay lên nữa... Sự bất thường kia khiến họ có linh cảm ông gặp chuyện chẳng lành, người đàn bà có họ hàng xa với ông t́m sang nhà và trước mặt người đàn bà nọ là một cảnh tượng thương tâm: ông nằm cô độc trên chiếc giường tre tồi tàn trong t́nh trạng hôn mê v́ sốt cao.. .

Người đàn bà nh́n chúng tôi với vẻ mặt biểu lộ một niềm xót xa vô hạn, bà nói như phân bua: Các anh thấy đấy, chúng tôi lo việc nhà của ḿnh quần quật từ sớm đến tối nên đâu có thời gian rảnh rỗi để thăm viếng ông, đến khi biết th́ đă muộn rồi. Giời ơi... sao mà thảm thương thế nầy !...- Bà thốt lên mếu máo.

Bà ngồi một lát nữa rồi đứng dậy cùng người đàn ông kia, bà nói với anh Chất :

- Giờ chúng tôi phải về lo việc nhà, lúc chiều khiêng ông ấy đi mưa lớn đă cuốn trôi cây cầu bắc qua suối rồi, chúng tôi phải tranh thủ về nếu không nước dâng lên không làm sao qua suối được. Thôi ông ấy đă thế trăm sự nhờ anh vậy...

 Khi hai người kia ra về tôi nh́n sang con người khốn khổ đang nằm trên giường bệnh, thấy thần sắc của ông có phần tươi hơn lúc mới đem đến, có lẽ do tác dụng của b́nh nước đang truyền vào. Trong tôi lóe lên vài tia hy vọng dù rất mong manh. Tôi thấy anh Chất áp ống nghe vào ngực ông, vẻ mặt đăm chiêu rồi anh lấy ống nghe ra im lặng không nói ǵ...

Tối hôm ấy, một anh bạn người Bắc phía trên nhà anh Chất nghe tin tôi mới vào có bày một cuộc rượu mời tôi và dăm ba anh em nữa đến để mừng sự trở lại của tôi. Trước sự việc nầy tôi thực ḷng không c̣n một chút ham muốn nào đến cuộc hội ngộ kia, nhưng ngồi nhà cũng chẳng giúp ǵ cho người bệnh, sau một hồi lưỡng lự, tôi cũng đến nơi gặp mặt. Ngồi chơi với anh em nhưng tâm trí tôi cứ bị ám ảnh bởi khuôn mặt của người xấu số kia. Rốt cuộc việc ǵ đến phải đến. Khoảng một giờ sau, chị Hoa ngoài cửa bước vào đến bên bàn báo tin :

- Ông ấy đi rồi !...

Cuộc rượu ngay lập tức được giải tán.

Tất cả chúng tôi đều kéo về nhà anh Chất. Chúng tôi đứng xung quanh thi thể ông, anh Chất nhẹ nhàng rút kim truyền dịch ra khỏi cổ tay ông, một người trong số anh em đưa bàn tay từ từ vuốt mắt cho ông, phải vuốt mấy lần đôi mắt mới khép lại, sau đó anh lấy tấm chăn phủ lên người ông.

Phía trước nhà anh Chất, dưới dốc là một ngôi nhà được dùng làm trường học cho bọn trẻ trong xă, bên hiên lớp học người dân che một mái hiên và nơi ấy dùng làm nơi đặt nhà đ̣n để khiêng người chết đi chôn cất. Chúng tôi đưa thi thể ông cùng chiếc giường ra khỏi nhà mang đến đặt trước sân trường học. Mấy ngọn đèn dầu được thắp lên, một lát sau dưới xóm có một số người kéo đến. Lúc ấy đă 9 giờ tối, tôi cùng anh Quang – chủ tịch xă Lộc Đức – người có mặt trong cuộc rượu lúc chiều nhận nhiệm vụ báo tin cho người bà con xa trong họ của người mất và hàng xóm của ông được biết. Anh Quang biết nhà c̣n tôi đi cùng anh cho đỡ buồn, bớt sợ... Dưới ánh sáng chập chờn của hai ngọn đuốc khi bùng lên lúc tàn xuống, hai chúng tôi đi bộ gần 10 km đường đồi dốc mới đến được nơi để báo tin. Những ngọn đồi từng tạo nên vẻ đẹp cho thiên nhiên nơi nầy giờ đây với tôi bỗng u ám hoang vu như những nấm mộ khổng lồ, chúng tôi leo qua những nấm mộ ấy để báo tin sẽ có một nấm mồ mới mọc lên...

Trên đường về có thêm mấy người hàng xóm của người mất đi cùng. Chúng tôi về đến nơi th́ đă quá một giờ sáng, từ xa tôi đă thấy trước sân trường học rất đông bóng người. Chỉ trừ năm bảy người gốc Quảng Ngăi hầu hết số c̣n lại là người đồng hương Hà Nam Ninh của người chết. Trong thời gian chúng tôi vắng mặt những người xóm giềng ở đây đă nhanh chóng lắp ráp những tấm gỗ thông cũ kỹ thành một chiếc quan tài.

Lần đầu tiên tôi chứng kiến nghi lễ tẩm liệm và gọi hồn theo tục lệ của người dân ở một vùng nông thôn miền Bắc. Một bàn thờ được bày biện đơn sơ trên đầu giường người mất với chiếc ly dùng làm nơi cắm nhang, một dĩa bánh khô, một chén nước trong.... Ông thôn trưởng đứng ra làm chủ lễ gọi hồn. Với vẻ mặt trang nghiêm, ông đốt một nén hương, tất cả mọi người im lặng nh́n ông, ông ngửa mặt lên trời cất một tiếng hú dài rồi gọi lớn :

- Bớ ông Trần T... hồn ông ở đâu xin hăy về đây nhập xác !!!

Ông gọi ba lần như thế. Tiếng hú gọi của ông xé màn đêm bay khắp bốn phương đồi rẫy. Tôi cảm thấy rùng ḿnh, trong đám đông có vài người bật khóc. Sau đó thi thể người xấu số được đặt vào quan tài. Cuộc tẩm liệm đă xong, mọi người về nhà. Chỉ c̣n vài ba người hàng xóm của ông ở lại.

Trưa hôm sau khoảng vài ba chục người tập trung lại đưa linh cữu ông về nơi an nghỉ cuối cùng. Không có một vành khăn tang nào, chỉ có vài ba tiếng khóc thương cảm của người dưng, c̣n lại là nỗi u ám nặng nề bám trên khuôn mặt những người đưa tang.

Chiều hôm ấy trời đổ mưa, một màu mưa tang tóc mờ phủ núi đồi. Tôi đứng bên cửa sổ nh́n về phía lưng đồi, nơi vừa mọc lên nấm mồ viễn xứ, ḷng trĩu nặng nỗi u buồn. Tôi nghĩ đến thân phận của những kẻ tha phương cầu thực, ĺa bỏ nơi chôn nhau cắt rốn t́m về đây như một miền đất hứa với giấc mơ no cơm ấm áo. C̣n có quá nhiều những người nghèo khốn và bệnh tật, trên vùng cao nguyên bao la nầy c̣n có bao nhiêu nơi như Lộc Đức? Hơn 10 năm giang sơn đă thu về một mối. Có những con người sống sót trong lửa đạn chiến tranh có ngờ đâu bây giờ gục chết thảm thương v́ đói khát bệnh hoạn.

Rồi sẽ c̣n bao nhiêu nấm mồ mọc lên trong mưa?

Khác với lần lên non đầy thơ mộng và thiêng liêng từ cuộc chia ly trong huyền sử của Lạc Long Quân và mẹ Âu Cơ, không giống với những trận di cư về phương Nam trong trang sử oai hùng mở mang bờ cơi, giờ đây ḍng lịch sử cuốn những phận người trôi dạt đến miền rừng đồi hoang dại nầy, họ tồn tại như những sinh linh bị bỏ rơi và quên lăng.

 

( c̣n nữa…)

 

Nguyễn Hoàng Dương

 

Trang Văn Hữu

 

art2all.net