|
VĂN HỮU số
37
Mùa Hạ 2017

NHỚ PHẠM NGỌC LƯ
Nguyễn Lệ Uyên
“Trong cuộc chiến tàn khốc này, đứa nào
sống sót là kẻ chiến thắng”
(Phạm Ngọc Lư)
Trong nửa thập niên 60, 70
(TK XX), bên cạnh những nhà văn nhà thơ mà tên tuổi của họ đă được khẳng
định, c̣n có đông đảo những người viết trẻ: Họ, đa phần là những người
không có tuổi thanh xuân yên ấm, lần lượt bị văi ném vào chiến trường;
số ít c̣n lại là công chức, sinh viên… đă có những đóng góp không nhỏ
cho ḍng văn học miền Nam – ḍng văn học được xem là tự do sáng tạo có
giá trị về mặt thẩm mỹ và nhân văn trong mỗi tác phẩm – với nhiều khuynh
hướng dị biệt (viễn mơ, dấn thân, hiện sinh, hiện thực đối kháng…)
Và, mặc dù ḍng văn học này đă bị bức tử sau ngày
30.4.1975 bằng mọi cố gắng “tẩy xóa” của bên “thắng cuộc” dưới nhiều
dạng thức khác nhau, nhưng nó, sau hơn 40 năm vẫn âm thầm và lặng lẽ
chảy; vẫn đọng lại trong tâm thức độc giả những giá trị không thể đảo
ngược. Nó luôn là cái mới của hôm nay, bởi đă tiếp cận với ḍng văn học
phương Tây qua các trào lưu nhưng vẫn giữ được hồn cốt văn hóa Việt qua
biết bao biến động lịch sử.
Những người viết thuộc thế-hệ-chiến-tranh này, có những người bỏ cuộc,
nhưng không ít người đă thành danh, đă được công chúng đón nhận như một
hiện tượng mới, chững chạc tiếp bước các bậc đàn anh, làm rạng rỡ cho
một miền văn chương luôn bị phía bên kia dán cho nhiều nhăn mác thô
thiển: Đó là Trần Thị Ngh. Nguyễn Tất Nhiên, Nguyễn Bắc Sơn, Trần Hoài
Thư, Vũ Hữu Định… Mỗi nhà văn trẻ đều mang một phong cách riêng, không
lẫn lộn, không là cái bóng của các nhà văn đi trước, ít nhiều làm đa
dạng, sáng đẹp cho thời kỳ này. Phạm Ngọc Lư trong số đó.

(từ trái: Phạm Ngọc Lư-Trần Hoài
Thư-NgLu-Phạm Văn Nhàn
ảnh chụp năm 1969)
Anh xuất hiện lần đầu với những bài viết ngắn trong
mục đoản văn trên tuần báo Nghệ Thuật (Mai Thảo chủ bút, Viên
Linh thư kư toà soạn) vào cuối những năm 1966, kư tên Phạm Triều Nghi.
Đến năm 1969, có thơ và truyện ngắn đăng tải đều đặn trên các tạp chí
văn chương miền Nam: Văn, Vấn Đề, Bách Khoa, Tŕnh Bày, Ư Thức… và kư
tên thật.
Trong lời bạt tôi viết cho tập thơ Đan Tâm của Lư, có một đoạn trích từ
tập tiểu luận Vũ Trụ Thơ (1) của nhà phê b́nh văn học Đặng Tiến: “Yêu
một tác phẩm nghệ thuật giống như yêu một người đàn bà ở điểm là mỗi lần
yêu, chúng ta khám phá ở người t́nh một trinh tiết mới. Yêu một tác phẩm
là sáng tạo một trinh tiết mới cho tác phẩm”.
Tôi “yêu” những tác phẩm của Lư bởi sức sáng tạo không ngừng trong những
câu chữ lấp lánh của anh! Riêng nhà văn Cung Tích Biền th́ có cái nh́n
sâu hơn, phân tích kỹ hơn: “Phạm Ngọc Lư khá điềm tĩnh trong hành
tŕnh sáng tác của ḿnh, tuy sâu trong tâm khảm, từ biển rộng tâm linh,
Lư vẫn cháy bỏng với những khắc khoải, tư duy. Trong bao năm Lư không
chạy theo những trào lưu, trường phái, những hào nhoáng ồn ào của thị
hiếu. Không làm con thiêu thân để chết non, tàn mùa theo những cám dỗ
tức thời. Thơ Lư h́nh thức là mẫu mực, cổ điển. V́ ta cứ đủng đỉnh cái
Riêng ḿnh. Cái b́nh cổ sống rất lâu. Chính ở điểm này Lư thành công.
Nói được rất nhiều trong biểu hiện điều Muốn Nói. Không cầu kỳ. Không
đánh bóng ồn ào mặt ngoài bởi ngôn ngữ rỗng…” (2)
Điều đáng nói, mặc dù rất thành công với những bài hành, thất ngôn, lục
bát cùng những truyện ngắn phản ảnh những góc khuất của bộ mặt xă hội
đương thời, một xă hội đảo điên, chiến tranh bùng vỡ ở mức độ ác liệt,
để đưa vào tác phẩm với những cảm thức được chắc lọc đến từng chi tiết
nhỏ, hoặc dùng điển tích để chuyển tải - và đă thành công, được độc giả
thời bấy giờ (cả sau này) đánh giá cao – nhưng không bao giờ tự măn,
khoa trương mà luôn t́m đến cái mới hơn, đẹp hơn.
* Thơ như một vết cứa vào tim người
Với thơ, anh có một phong cách rất riêng, không lẫn
với những người cầm bút cùng thời. Cũng viết về chiến tranh, về thân
phận con người, về t́nh yêu, nỗi cô đơn, khao khát, về mặc cảm đọa đày,
khốn cùng…nhưng không sử dụng loại ngôn ngữ sáo rỗng, thời thượng, mà
vận dụng các điển tích, tiếng Việt-Hán để chuyển tải nội dung. V́ vậy,
sau khi khép lại một bài thơ, người đọc có cảm giác đang ch́m đắm trong
những câu từ cổ kính, lấp lánh như những chiếc b́nh cổ. Nói khác, với
một thủ thuật tài hoa, anh đă làm mới ḍng thơ cổ điển mà không dẫm chân
lên khuôn thước thơ cổ điển. Điều này cũng dễ hiểu, bởi từ nhỏ, anh đă
học chữ Hán với ông nội và cha; lớn lên theo học ban Hán-Nôm Đại học Văn
Khoa Huế, nên câu từ luôn được nâng niu, trau chuốt cẩn trọng.
Nhà văn Đỗ Trường đă đưa ra nhận xét: “Thơ Phạm Ngọc Lư mang đậm chất
cổ thi và sử dụng nhiều điển tích cũng như từ ngữ Hán Việt. Do vậy, thơ
ông cổ kính sang trọng, nhưng khi đọc lên tưởng chừng rất dễ vỡ”
(3).
"
Em từ t́nh sử bước ra
Y trang yểu điệu đôi tà mộng bay…
Chờ nhau gác gió lầu mây
Ngh́n đêm giọt nến rơi đầy trang thơ
Ngh́n đêm sông lạnh trăng mờ
Trương Chi bạc tóc bên bờ Tương Giang
Chiều nao nhất kiến hồng nhan
Chiều nay xác bướm rơi vàng mộ hoa
Áo xưa mộng mị đôi tà
Đành thôi xếp lại Nam Kha gối đầu” (Thuyền Quyên).
Cách đây 15 năm, từ Đà Nẵng Lư gửi thư cho tôi, có
đoạn: “Theo tôi, nhà thơ=lăng mạn+cô đơn+bi thương+kiêu hănh, trong
đó “cô đơn” là thuộc tính bi thảm nhất. Chính trong cái cô đơn cùng cực,
tôi thấy ḿnh chết, ra đi và đă viết:
Tâm hồn bật một tiếng kêu
Vỡ ra lênh láng giữa chiều tang thương
Âm ba đồng vọng mười phương
Có ai thiên cổ đoạn trường hồi âm?
Tay ai nâng nhẹ phù thân?
D́u tôi đi giữa phù trầm khổ đau
Tôi và nước mắt d́u nhau
Bơi qua bể khổ muôn màu nhấp nhô
Tôi và cát bụi ngu ngơ
Bay quanh trời đất đợi giờ tương sinh”
(thư riêng đề ngày 27.10.2002).
(Nếu nói rằng: Mỗi tác phẩm của nhà văn là những dự báo cho tương lai
th́ những câu thơ trên như một ám thị cho cái ngày định mệnh cuộc đời
anh: Tôi và cát bụi ngu ngơ/Bay quanh trời đất đợi giờ tương sinh.
Đó là ngày 26.5.2017 lúc 18h45 tại Đà Nẵng, gây bao thương tiếc cho bạn
bè và độc giả hằng mến mộ anh, như lời anh Cung Tích Biền ghi trong thư:
“Vắng bóng đời này, lại vĩnh cửu Chốn Kia. Mong Lư đời đời an nghỉ. CTB”
(thư ngày 4/6).
Cả cuộc tồn sinh của Lư, lúc nào anh cũng cảm thấy bất toàn, cô đơn, đau
khổ… Chúng luôn đeo ám vào những trang thơ văn của anh. Anh loay hoay
với bốn bức tường lạnh trong nhà trọ khi dạy học tại Tuy Ḥa, loay hoay
với đời sống vợ con sau 75. Lư than thở với tôi: “Ḿnh bất tài, bất
lực, hèn… sao?” . Đó là khoảng năm 1983 (hay 1984?), anh không chịu
nổi ngày ngày phải đi bộ non 2 cây số, gánh từng gánh nước tưới những
vồng khoai lang giữa băi cát cao ngất nghểu ở HTX NN quê anh với chỉ
200grs nửa lúa nửa khoai sắn cho một ngày công (?!) sao đủ nuôi 4 miệng
ăn, đành phải gạt nước mắt gửi vợ con về quê ngoại (Qui Nhơn) vào Long
Khánh (Đồng Nai) đào đăi vàng, đốt than; xuống tận Hồng Ngự (Đồng Tháp)
nấu rượu lậu, bán trái cây độ nhật… và “nghề” nào cũng thất bại, khiến
anh đau đớn, quặn thắt hơn trong cuộc mưu sinh ở thời buổi ngăn sông cấm
chợ! Thất chí chồng lên thất chí.
Tuổi tác chừng này vẫn ngây thơ
Ma xui quỷ khiến ra ngồi chợ
Bán gió rao trăng… một núi dừa
…
Lúc chán, rửa môi dăm chén rượu
Lau chân mắc vơng nằm lơ mơ
Mây cuốn nắng thiu ḷng u uẩn
Tuồng đời như cảnh chợ ngày mưa
…
Thôi để ta yên bên chén rượu
Uống say… thành bại cũng bằng thừa
Uống say… ném áo lên nóc quán
Hết nợ hết duyên… vĩnh biệt dừa! (Ngồi Chợ)
Cuộc mưu sinh đối với Lư trong giai đoạn này không dễ dàng chút nào. Từ
biệt những ê chề miền Đông, Lư xuôi về vùng đất phương Nam. Nhưng đất
phương Nam mênh mông sông nước, bạt ngàn màu xanh vờn phủ tính phóng
khoáng ấy cũng chẳng dung nạp được anh trong đời thường, nói chi đến
t́nh đồng điệu? Trong cảnh mênh mông, bạt ngàn kia, dường như khiến Lư
cô đơn hơn, quặn thắt tâm can hơn khi đưa mắt trông vời phương Bắc, chốn
quê nhà xa xôi:
Chân trời giang rộng mênh mông
Cố hương thăm thẳm tịnh không lối về
Giang hà im bặt thuyền ghe
Tha phương nhật mộ… năo nề bèo mây (Chiều Qua Châu Thổ)
Đó là bài thơ anh viết khoảng giữa năm 1986 lúc xuôi xuống Hồng Ngự. Ở
đó cũng có vài người bạn, nhưng không phải bạn thơ mà là những bạn rượu
tầm cỡ Tây Môn Khánh – theo lời anh kể lại! Những bữa rượu ấy không giúp
anh nguôi ngoai nỗi cô đơn như một ám ảnh phải đeo mang. H́nh ảnh những
nơi anh ngụ cư ám vào tâm trí như những ám thị “bệnh hoạn” liên tưởng
qua hàng cây, con sông, bến nước, đất đỏ ngấm vào tâm trí rồi đặt bút
“tổng kết” trên mười năm lang bạt mưu sinh trong bài Bụi Đỏ viết năm
1994 và chú thích “sau chín năm ly tán”:
Quê người nương náu kiếp lưu dân
Bụi ba dan có phải hồng trần?
Đỏ quạch mồ hôi chua cơm áo
Cơm áo bạc t́nh… bán hết thanh xuân
…
Đi giữa rừng cao su trùng điệp
Ḷng đau như vết cạo c̣n tươi
Mủ cứ chảy bám dày tâm sự
Tâm sự đùn cao như g̣ mối chôn người.
…Đi lơ ngơ vừa tṛn một giáp
Mười hai năm lệ tủi đời câm
Rượu Nam phương uống cùng tứ xứ
Tứ xứ ly gia dễ mủi ḷng
Cũng dễ quên nhau khi hết rượu
Cái ân t́nh có có không không
Chốn đất khách lắm hào sảng nhưng không thiếu những “phàm phu”. Bên cạnh
những “hào sĩ” những kẻ “nhân từ” là những tay “ích kỷ, lếu láo, say sưa…”
khiến anh cảm thấy mệt nhoài với bến nước mười hai đục ngầu bụi đỏ;
để sau đó tự hỏi và tự trả lời:
Sao không quay về bến thứ mười ba:
Bến nước trong xanh… soi bóng quê nhà!
Mười hai năm lao thân lao trí đă đủ để anh vật vă những đau đớn, buồn
tủi trong “hành tŕnh” xuôi Nam, lang thang nơi đất khách kiếm t́m sự
sống kể từ lúc xă hội bị đảo lộn, đạo đức, phẩm hạnh con người bị văi
tung ra lề đường; miếng cơm manh áo ẩn nấp trong những tráo trở. Cái bầy
người được mệnh danh là quần chúng nhân dân, là nền móng cho một đất
nước được chăn dắt bằng những tấm tem phiếu. Cái ăn cái mặc trở thành
thước đo giá trị làm người. Cuộc t́m kiếm áo cơm cũng b́nh thường như
bao con người khác cùng thời, nhưng đến phút cuối th́: Đỏ quạch mồ
hôi chua cơm áo/ Cơm áo bạc t́nh bán hết thanh xuân. Hai câu thơ như
hai vết cứa sâu hoắm lên thịt da, phơi lộ hết những bần hàn cơ cực trong
một giai đoạn đau khổ tột cùng của bản thân anh trong giai đoạn cùng khổ
của đất nước này. Ngoảnh lại, cả một đời làm người của Lư là h́nh ảnh
con ngựa già đă chấm hết những hào quang một thuở!
Ngồi thất thế như con ngựa ốm
Nhớ đường trường thè lưỡi liếm chân (Tuy Ḥa Năm Năm)
Lời thơ ẩn lời than đến nao ḷng, con ngựa ốm kia cũng là thân phận của
người trí thức đă cùng đường, tuyệt lộ trong một xă hội bị đảo lộn mọi
trật tự sau biến cố 30.4. Nhiều bài thơ trong hai tập Đan Tâm và Mây Nổi
(đều do Thư Ấn Quán, HK ấn hành) của Lư, luôn thấp thoáng bóng dáng của
kẻ sĩ thất thế nhưng vẫn giữ ḷng tự trọng, liêm sỉ chối từ mọi danh
vọng, tiền tài… lui về quê chịu cảnh sống thanh bần chứ không chịu khuất
phục, quỳ gối khom lưng.
Trong đời, khi tiếp cận với văn chương, tôi rất ngưỡng mộ và kính phục
nhà thơ Hữu Loan sau Nhân văn giai phẩm, một nhân cách lớn trong hành xử
với đời; đến cả cái giải thưởng “danh giá” của nhà cầm quyền, ông cũng
phẩy tay, bịt mũi, nhắm mắt.
Với Phạm Ngọc Lư th́ khác, anh thuộc thế hệ con cháu của Phùng Cung, Hữu
Loan, Lê Đạt… sống trong hoàn cảnh xă hội khác xa với “Nhóm Nhân Văn”,
được thụ hưởng một nền giáo dục tử tế “nhân bản, dân tộc, khai phóng”
nên khó dung hợp với xă hội mới, trong đó có thừa những lọc lừa, dối trá…
phi đạo đức, phi nhân bản. Một xă hội như vậy hoàn toàn xa lạ với những
con người cũ (SG)! Nhưng xem chừng xă hội thời cải cách ruộng đất và xă
hội đánh vào tư sản mại bản, cải tạo công thương nghiệp… không khác xa
nhau trong cách “xử sự” với người dân!
Cuối năm 2005 là thời gian anh quay về cố hương không lâu, nh́n cảnh đời
nhí-nhố-xum-xoe-lừa-lọc (chữ của Lư), anh thấy thất vọng, cay đắng hơn
và đặt bút viết liền một mạch bài thơ Đề Thơ Trước Mộ Thanh Xuân (khi mà
mọi bưng bít thông tin về nhà thơ Hữu Loan được công khai trên mạng).
Bài thơ khá dài, bộc lộ khí chất và bóng dáng của một kẻ sĩ thời hiện
đại “không thèm ăn thóc nhà Chu”:
“…Trèo lên xe trâu/ Lui về quê kiểng/ Mài răng gặm nhắm cái thanh bần!/
Lượm lặt nứa tre che căn lều nhỏ/ Phên cửa phong phanh suốt ngày no gió/
Người quen tâng bốc gọi mao lư/ Kẻ nôm na kêu đích danh nhà cỏ/ Chẳng
hay ho ǵ cỏ với mao/ Thời bất lợi voi đành làm chó/ Phong tống thời lại
giun dế hóa rồng/ … T́m trong gia phong mấy lời răn dạy/ Hiểu đâu nhất
thời/ Đâu là vạn đại/ Than ôi!/ Cái khôn mới hôm qua/ Hôm nay bỗng trở
thành cái dại/ Quay lưng với đời ư?/ Ḍng đời cuồn cuộn/ Biển đời lợn
cợn/ Bảy đục ba trong/ Quay mặt với người ư?/ Mặt người sắc nhọn/ Biển
người sao mà ghê rợn/ Đua chen hôi lợi ḅn danh/ Đâu dám ví ḿnh với Đào
Uyên Minh/ Tụng Quy khứ lai từ…” (4).
Có thể xem Đề Thơ Trước Mộ Thanh Xuân là những lời tự sự, bày tỏ thái độ
của nhà thơ trước xă hội hiện tại, sau khi phải nếm trải mọi cay đắng mà
anh đă dầm cả thân ḿnh, lặn hụp vào lớp nát nhăo sự đời đen trắng, vàng
thau lẫn lộn.
…Phải ngươi ba ch́m bảy nổi/ Bắt ta mười kiếp long đong/ Mây có – gió
không/ t́nh câm – thơ điếc/ Giai nhân c̣n mà anh hùng hết/ Chưa mùa đông
sao tóc xanh bạch tuyết/ Ngũ thập rồi, tay trắng xóa bạch vân/ Ô hô! /
Thiên địa vô cùng/ Uống say mà khóc Đặng Dung – Thuật hoài/ Khóc rồi đập
nát cơn say… (Túy Hoài)
Trong gần 100 bài thơ ở hai tập Đan Tâm và Mây Nổi, th́ Biên Cương Hành
là bài thơ gây ấn tượng mạnh cho độc giả từ ngày trước tới tận bây giờ.
Biên Cương Hành được Lư thai nghén từ khi anh đổi về
dạy học tại Củng Sơn, một quận lỵ nhỏ xíu (của Phú Yên) giáp ranh Cheo
Reo, bị rừng núi bao phủ bốn bề, trước mặt là sông Ba sâu hoắm; mọi liên
lạc với bên ngoài đều bị đóng kín bởi những họng súng của hai bên. Anh
thường gọi nơi đây là “biên khu”, v́ mỗi khi muốn về thành phố phải đi
nhờ trực thăng quân đội, hoặc theo đoàn xe mở đường. Với một khoảng
không gian chật hẹp heo hút, chập chùng đồi núi nhấp nhô, lính đông hơn
dân và ngày đêm phải nghe tiếng bom đạn gầm réo khiến anh tưởng như rằng
chính ḿnh đang có mặt ngoài trận mạc!
Tưởng cũng cần nhắc lại, một số bài viết về thơ Phạm Ngọc Lư, khi đề cập
tới Biên Cương Hành, cho rằng Lư viết bài này khi anh tham gia hành quân
trong chiến dịch Lam Sơn 719 vào mùa xuân 1971 của quân đội VNCH trên
đất Hạ Lào và bị thất bại nặng nề. Hay như nhà thơ Viên Linh, trong bài
viết “Thể hành trong thơ Việt Nam từ bài Tống biệt hành của Thâm Tâm”,
đăng trên www.nguoiviet.com số August 21, 2013 cho rằng: “Nơi Phạm Ngọc
Lư một nhà thơ trẻ thuộc lớp sau cùng của Miền Nam trước 1975, anh chiến
đấu trên mặt trận Cao Nguyên miền Trung, nơi gió Lào tanh tưởi, mùa khô
xào xạc, giặc nước ŕnh ṃ, rừng xanh thắm máu. Người đi ở đây là lính
ra trận, người theo dơi nơi quê nhà là thiếu phụ chờ mong:
“Em đâu, quê nhà chong mắt đợi /Hồn theo mây trắng ra biên cương /
Thôi em, yêu chi ta thêm tội / Vô duyên xui rơi lược vỡ gương / Ngày về
không hẹn ngày hôn lễ / Hoặc ngày ta nhắm mắt tay buông.”
(
http://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/The-hanh-trong-tho-Viet-Nam-tu-bai-Tong-Biet-Hanh-cua-Tham-Tam-2849/
)
Điều này không đúng. Lư chỉ học quân sự 9 tuần ở quân
trường Quang Trung và sau đó được biệt phái về trường cũ, chưa từng cầm
súng ngoài chiến trường bao giờ.
Lư khởi viết bài thơ này từ cuối năm 1971, sau đổi sang thể “hành” và
hoàn thành vào tháng 5.1972. Sau vài lần nhuận sắc, Lư gửi bản thảo cho
tạp chí Văn. Ông thư kư ṭa soạn Trần Phong Giao đọc bài lai cảo và
không tiếc lời khen, cho đăng ngay vào Văn số (?) tháng 10.1972. Có thể
nói đây là bài thơ hay nhất trong cuộc đời làm thơ của Lư, đến độ khi
đọc xong bài thơ này, nhà thơ Du Tử Lê phải thốt lên: “Biên Cương
Hành của ông, đă như một trận động đất lớn: Bất ngờ. Sửng sốt. Thốn buốt
tâm can thế hệ”. (5)
Thế hệ đi trong chiến tranh “giải phóng và bảo vệ tự do” là bi kịch của
dân tộc. Cuộc chiến tương tàn ấy đă gieo biết bao tang tóc cho triệu
người dân hai miền. Lư đă sống trong những thời khắc kinh hoàng đó, nên
anh không thể dửng dưng đứng bên lề. Không cầm súng bắn nhau, cũng không
có mặt trên bất kỳ chiến trường ác liệt nào, nhưng hàng ngày, anh có thể
“nh́n thấy” cảnh đầu rơi, máu đổ, thịt xương nát tan, lương dân gồng
gánh chạy giặc, bỏ lại làng quê mịt mù khói lửa ngút cao và; hàng ngày
anh c̣n chứng kiến những chiếc quan tài kẽm, những người vợ trẻ bồng con
trong màu trắng khăn tang… Tất cả những h́nh ảnh có thật đó đă xoáy động
tâm can anh để, cuối cùng phải bật ra những đớn đau trên trang giấy:
Biên cương biên cương chào biên cương
Chào núi cao rừng thẳm nhiễu nhương
Máu đă nuôi rừng xanh xanh ngắt
Núi chập chùng như dăy mồ chôn
Gớm, gió Lào tanh mùi đất chết
Thổi lấp rừng già bạt núi non
Mùa khô tới theo chân thù địch
Ta về theo cho rậm chiến trường
Chiến trường ném binh như văi đậu
Đoàn quân ma bay khắp bốn phương
Lớp lớp chồm lên đè bẹp núi
Núi mang cao điểm ngút oan hờn
Đá mang dáng dấp h́nh chinh phụ
Trơ vơ chóp núi đứng bồng con
Khu chiến ngày tràn lan lửa dậy
Đá Vọng Phu mọc khắp biên cương
Biên cương biên cương đi biền biệt
Chưa hết thanh xuân đă cùng đường
(Vào đường dẫn này để đọc trọn bài thơ Biên cương hành:
http://vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=8689
)
Biên cương hành mang tính khái quát cao cho cả một
giai đoạn oan khốc của dân tộc. Những h́nh ảnh Lư mang vào thơ, từ núi,
rừng, gió Lào, đá, người chinh phụ, núi vọng phu… đă khắc họa “một thời
địa ngục của đất nước” (chữ của Du Tử Lê), không riêng cho bên này hay
bên kia. Đó là xương cốt, là máu thịt của những người lính Quốc gia và
Cộng sản bị hoài phí một cách oan uổng, dửng dưng máu lạnh.
Đầu năm 1972, khi viết xong Biên cương Hành, Lư đă đọc cho chúng tôi
nghe bên chiếu rượu trong đêm gió Lào cuồng dại trên mái nhà, nghe đến
sởn gai ốc, rờn rợn da gà, khắp người tựa hồ có hàng ngàn mũi kim nhức
buốt thịt xương. Gần nửa thế kỷ, mỗi khi nhớ bài hành này lập tức nhớ
nguyên giọng đọc uất nghẹn của Lư, người đă hóa thân chữ nghĩa cho định
mệnh của dân tộc trong chất giọng hiu hắt nghẹn ngào, như thể đó là lời
than oán của những chinh phụ, những tiếng kêu la đau đớn của những người
dân vô tội, của các chiến binh hấp hối ngoài trận mạc!
Về mặt nào đó, Du Tử Lê đă chính xác khi đưa ra nhận định về bài thơ
Biên cương hành của Lư: “Tôi gọi đó là “đoạn trường” bất thường của
một bài thơ được sinh nở với định mệnh của một thứ cột tháp thảm họa
khốc liệt. Mỗi con chữ không chỉ dính gân cốt, thịt, xương trăm ngàn đọa
kiếp mà, c̣n cơng trên lưng cả những hồn ma oan khuất một thời địa ngục
đất nước, quê hương nữa! Cho tới khi bài thơ, hội đủ những yếu tố để “đá
vỡ, ngọc lộ,” ngời ngợi khí chất tư riêng, khắc họa Những hoắm, sâu
thương tích phận người…” (link đă dẫn 5).
Sau Biên cương hành, Lư viết bài Trên Đèo B́nh Đê vào năm 1973, lúc hiệp
định Paris vừa kư kết, nhưng ḥa b́nh đă không đến, hai bên lại tiếp tục
gây ra thảm cảnh “chiến trường ném binh như văi đậu” để giành
nhau từng thước đất cắm cờ (sic). Trên đường về Huế, qua đèo B́nh Đê, Lư
nh́n thấy cảnh xóm làng, ruộng vườn, với Tam Quan, Bồng Sơn (B́nh Định)
phía nam và Sa Huỳnh (Quảng Ngăi) phía bắc đă tan nát v́ binh lửa trong
các trận đánh mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972!
…Tháng tư/ Lửa bùng lên đâu chợ/ Lửa cháy quanh sông/ Lửa vây Hoài
Đức/ Lửa đốt Bồng Sơn/ Người người tan xác giữa đồng/ Người người ngă
gục bên ḍng Lại giang/ Người người bỏ thân trên đường chạy loạn/ Đôi
mắt trừng lên nỗi kinh hoàng/ Đôi mắt ngó về đâu cḥng chọc/ Bốn bề khói
lửa mù giăng/ Bốn bề binh đao cuồng nộ/ Bốn bề đổ nát tan hoang/ Chạy
mau chạy mau người mẹ Hoài Ân/ Quang gánh trên vai chất đầy thống hận/
Máu bầm vướng víu bàn chân/ Chạy đi chạy đi người chị Hoài Nhơn/ Sao cứ
nằm ôm con thơ đùm trong tay nải/ Máu khô đen khuôn mặt lạc thần/ Pháo
tràn lan xối xả/ Lửa rần rật trên lưng/ Chạy về đâu?
Lư đă đồng ư với nhận xét của tôi cách đây hơn 40 năm,
trong một buổi trà dư tửu hậu rằng: Trên đèo B́nh Đê, là những cảm xúc
thật, về những cảnh tượng có thật đang xảy ra trước mắt. Những nát tan
khói lửa ấy đă khơi dậy những cảm xúc chân thật để bật ra thơ, nhưng dẫu
sao, khi đọc xong, tôi vẫn thấy nó (TĐBĐ) là cái bóng của Biên Cương
Hành.
Để khép lại phần viết về thơ Phạm Ngọc Lư, xin mượn nhận định sau đây
của nhà văn Đỗ Trường: “Có thể nói, Biên Cương Hành là một trong
những bài thơ hay nhất viết về chiến tranh, không chỉ của thi ca miền
Nam, mà cho cả nền thi ca đất Việt. Đa số những bài viết về đề tài chiến
tranh, hay cổ động chiến tranh thường có giá trị nhất thời. Nhưng Biên
Cương Hành lại có sức sống dẻo dai và sự lan tỏa mạnh mẽ, bởi ngoài sự
thật tàn khốc của chiến tranh, nó c̣n chứa đựng giá trị nghệ thuật cao”
(link đă dẫn 3).
Truyện là nỗi niềm thế hệ chiến tranh.
Phạm Ngọc Lư viết truyện không nhiều, khoảng gần 20 truyện, đăng trên
Văn, Bách Khoa, Vấn Đề, Ư Thức, Tuổi Ngọc… Sau năm 75, anh không c̣n giữ
được truyện nào trong tay (do sách báo bị tịch thu). Giữa năm 2016, khi
Lư lâm trọng bệnh, anh em nhóm Thư Ấn Quán đă dày công sao lục trong các
thư viện HK, hoặc c̣n lưu giữ được những số báo có đăng truyện Lư, chia
nhau đánh máy và cuối cùng nhà văn Trần Hoài Thư đă ngồi “vá” lại những
truyện thất lạc này thành tập truyện Sợi Khói Bay Ṿng gửi về VN như một
tấm ḷng của anh em đối với Lư. Trong lời mở cho tập truyện, Trần Hoài
Thư viết: “Lấy tựa đề truyện ngắn Sợi Khói Bay Ṿng không phải nó là
truyện ngắn đặc sắc hay tiêu biểu. Những truyện của Phạm Ngọc Lư đều
hay, đều đẹp, đều buồn. Có truyện t́nh. Có truyện chiến tranh. Có truyện
nói về thân phận lưu đày nơi đất trích. Nhưng Sợi Khói Bay Ṿng là
truyện có thể chuyên chở hết tất cả cái định mệnh của tuổi trẻ, dù nam
hay dù nữ…”.
15 truyện trong Sợi Khói Bay Ṿng, viết về nhiều đề
tài khác nhau: t́nh yêu, thân phận làm người, nỗi cô đơn khắc khoải…
nhưng tất cả đều lồng ghép trên tấm phông chiến tranh với nhiều gam màu
ưu uất, có lúc như không t́m thấy lối thoát cho một tương lai tươi sáng
với những chàng trai, cô gái thuộc thế-hệ-chiến-tranh này. Những thanh
niên trên dưới 20 tưởng chừng như đang được thụ hưởng những chuỗi ngày
tươi đẹp; nhưng thật ra đó chỉ là lớp vỏ che chắn bên ngoài khi những
lời sấm truyền ngày càng lan rộng khắp làng quê, thành thị…: “Cả xóm
người ta đồn rân: tháng Năm đổ máu, tháng Sáu ḥa b́nh. Tháng Sáu âm
lịch rồi đó cậu”. Ḥa b́nh đâu không thấy, chỉ thấy máu tiếp tục đổ,
nhà cửa ruộng vườn vẫn liên tục bị xới nát bởi bom đạn, lớp lớp thanh
niên vẫn phải lao ra chiến trường: “Có thằng con chớ. Hắn bị bắt quân
dịch hồi tết, nghe nói đang đánh giặc tận Cao Miên” (Cái Đuôi Sao
Chổi, tạp chí Ư Thức, số 7). Và, hậu quả của nó là: “Cô gái bước lại
mở hé cửa và bối rối xô Chấn lui. Nhưng anh cũng vừa kịp thấy cảnh tượng
trước mắt: người đàn ông đang gục đầu trên cái rương gỗ khóc tức tưởi,
bên cạnh bó nhang đang tỏa khói và mấy ngọn đèn cầy cháy leo lét, buồn
thảm. Cô gái chảy dài nước mắt, nói mếu máo: Tội nghiệp anh tui phải nằm
lại dọc đường đêm nay… Cái rương gỗ ấy đựng hài cốt anh tui!” (Cuối
Ngày Cuối Đường, Văn số 223, 1973).
Lư là nhà giáo, hàng ngày anh phải chứng kiến hoặc nghe kể lại lắm
chuyện thương tâm, tang tóc. Trong truyện Một Ḍng Sông Trong Miệng Ngậm,
đăng trên Văn số 148, ngày 15.2.1970, mô tả những thanh niên tuổi từ 16
đến 19 ở một làng quê tranh tối tranh sáng, có người cày ruộng, có người
tham gia du kích địa phương. Họ từng chăn ḅ tắm sông thuở nhỏ, nhưng kể
từ khi trái tim biết rung động, chủ nghĩa vu vơ chen vào, ḷng thù hận
được trao tay th́ t́nh làng nghĩa xóm vụt tắt nhanh chóng. Đó là nhân
vật Mộc, một du kích địa phương đă hành xử với Tương, bạn ḿnh như một
kẻ thù đúng nghĩa: “Tương bị đánh thức dậy theo hai người lạ ra khỏi
nhà, “cấp trên cần gặp mặt”… Bụng Tương đụng phải vật ǵ cứng nhọn,
chừng đưa tay nắm lấy chàng mới biết mũi súng/ -Trói nó lại! Cùng lúc
Tương dợm người thối lui, kịp nhận ra giọng thằng Mộc…/ Mày bắt tao hả
Mộc?/ … Mày có tội trạng rơ ràng, tự hiểu lấy…/ Tao tội ǵ? Có phải mầy
tư thù việc con Vui không bằng ḷng mầy?/ … Sự thật mầy đă phản bội. Mấy
hôm nay mầy trốn lên tỉnh tiết lộ bí mật của ủy ban, tội Việt gian, rơ
chưa?”.
Cuối cùng Tương bị đưa qua sông, bị bắn chết. Nhưng số phận Mộc sau đó
cũng không hơn ǵ những người khác trong làng: “Sau này tôi mới nghe,
thằng Mộc, thằng Giảng, thằng Chiêm đều bị bọn cán bộ cao cấp kết tội
rồi hạ sát ngay phút đầu lính ḿnh đổ bộ… Anh hỏi v́ sao hả? Dă man thật,
làm vậy cốt pḥng ngừa việc mấy thằng ấy hồi chánh khai toạt những bí
mật cơ sở… Những người trong làng bị chôn sống đều do tay thằng Mộc cả,
bây giờ hắn chết rồi c̣n ai biết chỗ lấp xác mà t́m. Ghê quá anh à, hồi
kháng chiến cũng có chôn tươi tụi Tây bắt được (chính mắt tui chứng kiến)
nhưng đâu có tàn nhẫn ba bốn chục người một hầm bằng thời nầy…”.
H́nh như không gian và thời gian mà Lư mô tả trong truyện là một làng
quê nào đó ở Thừa Thiên-Huế hồi tết Mậu Thân khiến chúng ta nhớ lại thời
kỳ kinh hoàng: Cách mạng văn hóa ở Trung Hoa, Cải cách ruộng đất ở VN.
Cũng vẫn những đứa con nít ấy, từ ngây thơ trong trắng bị chuyển qua
ḷng thù hận bởi những lời ru ngọt-ngào-man-trá, giống như các nhân vật
thiếu niên của Khuất Đẩu trong Người Giữ Nhà Thờ Họ, làm rung chuyển cả
xóm làng, làm ông cha chồng và nàng dâu hết phen hoảng sợ này tiếp đến
những thoi thóp dập dờn khác, bao trùm căn nhà lá mái luôn kín cửa như
hầm mộ chôn lấp cả hai cha con trong đó. Truyện Khuất Đẩu viết sau
(2004), c̣n MDSTMN của Lư trước đó 34 năm, nhưng hành động, thái độ th́
không khác ǵ nhau trong cách trui luyện của Cách mạng: “Già như tôi
sống trải qua biết bao năm giặc giă nhưng chưa có lúc nào loạn lạc bằng
thời nầy. Cái bọn con nít nổi lên làm cha chú ḿnh không” (ám chỉ
những Giảng, Mộc, Chiêm… - chú thích của người viết).
Lớp thanh thiếu niên ấy, có người bên này, người bên kia do hoàn cảnh.
Nhưng chắc chắn có điều rằng, không ai muốn lao vào chém giết nhau, trừ
phi bị thúc ép, bị nhồi nhét. Rồi th́ cũng có người tỉnh trí, nhận ra sự
việc, có người măi lú lấp vào những hào quang không thật. Và cũng có
người vùng vẫy cố thoát ra khỏi ṿng ám chướng vô định như lời kể nhân
vật Cưu cho bạn ḿnh nghe chuyện thật bi hài: “Tao đang bị quân cảnh
truy tầm… Thằng con bác lớn tồng ngồng mà sửa khai sanh c̣n mười bốn
tuổi. Tụi lính tóm được, lột quần nó lắc đầu chửi thề, đ.m 14 tuổi ǵ mà…
khó coi quá. Nhưng tụi chúng không bắt nó đi quân dịch, lại nghịch ngợm
bảo nó phải nhổ sạch lông mới được tha về. Thằng nhỏ cắn răng khóc ngất…”
(Sợi Khói Bay Ṿng (Văn, số 153 tháng 5.1970).
Truyện này Lư viết trong thời gian dạy học tại quận lỵ heo hút miền núi
Củng Sơn và hoàn thành cuối năm 1969 (Sau đó Lư viết tiếp bài thơ nổi
tiếng Biên Cương Hành). Có thể coi đây là truyện ngắn chắc tay nhất của
Lư, phản ảnh đúng cách nh́n, suy nghĩ và cách sống của tuổi trẻ thời
chiến; trong đó là những ṿng tṛn không lối thoát, là t́nh yêu bị mất
mát cùng những cay đắng về cuộc đời đối với thời cuộc đảo lộn, chiến
tranh lan rộng khủng khiếp. Thái độ chán chường mệt mỏi ấy của những
nhân vật trong SKBV đă nói lên đúng thực trạng xă hội miền Nam thời bấy
giờ. Họ t́m thấy nhan nhản những nhậu nhẹt, đĩ điếm, gái bán bar, lính
Mỹ… như những vệt xám ngoét trong tâm trí trên một nửa đất nước này.
Nhân vật Bồng tự dưng chán nản, chạy trốn Cưu, chạy trốn khói thuốc từ
người Cưu, nhưng lại mơ hồ nhớ đến những sợi khói ấy, sâu tận đáy ḷng:
“Bồng hy vọng khi lên tới bến xe sẽ thấy Cưu đứng sẵn ở đó dù nàng sợ
vô cùng mùi khói thuốc ngây ngất cuốn lấy ḿnh từng sợi dày hơn cả mảng
lưới”. Và rồi một “hắn” nào đó xuất hiện cạnh Bồng trên băng ghế xe
đ̣ chạy về T. với gói thuốc đúng với loại thuốc Cưu hút khiến Bồng trở
nên hoang mang. “Hắn” xuống xe ở đoạn nào đó cô gái không hay, chỉ c̣n
trơ lại gói thuốc chỉ c̣n vài điếu lẻ. Cô giữ lấy như nh́n thấy bóng
dáng Cưu quanh quất đâu đây. Truyện được đẩy lên thành cao trào ở đoạn
cuối, khi “hắn” bất ngờ xuất hiện trong tấm áo choàng, nón nỉ, bị vải
đến từ giă Bồng. C̣n Bồng th́ luôn có sẵn gói thuốc trong người pḥng hờ
khi gặp “hắn” sẽ trả lại. Hai người gặp nhau và Bồng nói: “Trả lại
anh. Ngồi nói chuyện hút cho hết cả bao rồi hăy đi. Tôi thèm ngửi mùi
khói này lắm”. Níu kéo chút thực tế để liên tưởng, để nhớ nhung chút
khói sương ngày cũ. Nó có thật và cũng là ảo ảnh, không thể nắm bắt
trong tay, như “hắn” mệt mói thốt ra với cô gái: “Phải rồi, đời tôi
chỉ là một cụm khói, một sợi khói bay ṿng. Chẳng tới đâu, chẳng được ǵ”.
Chưa hết, bất ngờ trong một buổi sáng nào đó, Cưu chuẩn bị tŕnh diện
nhập ngũ th́ gặp Bồng “mặc áo dưỡng thai” đang đi trên đường, coi
như mối t́nh chấm dứt bằng những níu kéo mơ hồ: “Tôi tin rằng tôi
chưa mất em dù em đă có chồng…”. Họ xa nhau có vẻ không ray rức, đau
khổ mà tỉnh táo, lạnh tanh: “Cưu c̣n đứng lại rút tấm lệnh gọi cuốn
tṛn giả làm điếu thuốc giắt lên môi”.
Truyện rất kiệm lời thoại, chỉ là những suy nghĩ,
những dằn vặt nội tâm đan xen vào nhau để xô đẩy tâm lư mỗi nhân vật ́
ào như những lớp sóng vỗ măi vào bờ đá… (Lối kết cấu truyện như vậy,
bàng bạc đây đó trong các tác phẩm của những nhà văn trẻ trước 75. Đó là
sự tỉnh táo ở Y Uyên, nức nở, bi phẫn ở Trần Hoài Thư, nhẩn nha mà dữ
dội ở Hồ Minh Dũng, Phan Tấn Uẩn hay b́nh thản mà sâu lắng như Kinh
Dương Vương.v.v. với những bối cảnh là làng quê nghèo khổ, là những
người nông dân chất phác, ngơ ngác, là những thanh niên đang là lính
trận, mất dần phương hướng, buông xuôi trong t́nh yêu và cuộc sống, cứ
để cho ḍng đời xô đi mà không cách ǵ chống chọi nổi với những cơn lốc
tàn bạo của chiến tranh).
Thân phận làm người đă khó, lại làm người trong thời buổi lửa đạn ngút
trời càng thê thảm hơn. Đó là truyện Tàn Đông (Bách Khoa số 344) như
cuộc đời biếm trích của thầy giáo Kiền và cô bạn y tá trọ chung nhà bị
giam hăm ở một quận lỵ miền núi (Củng Sơn) âm u đến ngột ngạt, chỉ có
niềm mơ ước nhỏ nhoi là có ngày được về thành phố để thấy ánh đèn, những
con đường nhựa, những chùm bông màu vàng… Cả hai đều có một tâm trạng
như nhau. “ Chờ một ngày về lại thành phố, trốn thoát khỏi nơi rừng
sâu nước độc nầy… phải có cánh mới bay vượt qua khỏi trùng lũy đồi núi
chồng chất vây bủa chung quanh. Núi Cấm hiểm trở, núi Một ṿi vơi, núi
Lá rậm ŕ… và rừng Ḥa Thán thâm u, rừng Hàm Long điệp điệp”. Sự
mong ngóng có ngày được về thành phố như một ám ảnh nặng trĩu, như một
ḥn đá tảng đè trên vai hai người. Cô y tá: “Th́ đành cười nói ra bộ
thân mật với ổng một chút để tránh cảnh chầu chực đợi trực thăng cả tuần
lễ không được sao?”. C̣n thầy giáo Kiền, trong bức thư cho người bạn
gái: “Em thử tưởng tượng da dẻ anh đang mốc meo, đóng vảy cá từng bợn
dày, có thể lột ra được từng phiến mong mỏng như lớp lụa bọc ngoài củ
hành củ tỏi… Em hăy gửi cho anh vài ánh mặt trời, một gói nắng, càng
nhiều càng quư. Anh thèm lắm, thèm đến nỗi nhuốm bệnh…”.
Cả hai mang nỗi đều hoài nhớ, mơ ước từ ngày này sang ngày khác trong
khung cảnh chật chội cùng những bất trắc có thể đổ ập đến không biết lúc
nào, bởi chiến trường không xa mà sát ngay trong thị trấn: “Mé sông
ngoài ṿng đai chi khu, đạn nổ rát hơn. Súng cối bắn đùng đùng tới tấp,
bay vèo vèo trên đầu. Vách nhà rung chuyển liên hồi…Anh lôi bạn xuống
khỏi giường, nàng thất thần ngă vào người anh mềm nhũn như kẻ vừa trúng
đạn chết không kịp ngáp”.
Sau trận tấn công vào quận lỵ, là quang cảnh đổ nát của ngôi trường Kiền
dạy, những khuôn mặt “ngơ ngác” của đám học tṛ, và những xác chết “nhỏ
thó, trẻ măng” ngoài bờ ruộng và kết thúc truyện: “Thằng này là học
sinh mới trốn theo nẫu (6) dại dột chết uổng. Thầy nhớ nó chứ?/ Kiền
nh́n khuôn mặt thâm tái dính đầy máu cục bùn đất, lắc đầu bỏ đi”.
Có người, khi đọc đến câu cuối ở truyện này đă phê phán tác giả tạo ra
nhân vật thầy giáo Kiền đă đánh mất lương tâm khi nh́n thấy đứa học tṛ
cũ bị bắn chết khi tấn công vào quận lỵ, với cái “lắc đầu bỏ đi”
là thái độ dửng dưng đứng trên lương thức con người b́nh thường. Tôi
nghĩ “Kiền nh́n khuôn mặt thâm tái dính đầy máu cục bùn đất, lắc đầu
bỏ đi” không hẳn là thái độ có ư thức chính trị rạch ṛi như Đỗ
Trường nhận định: “…sự chối bỏ không nhận (ra) người học tṛ của thày
giáo Kiền, là thái độ chính trị cũng như tư tưởng yêu ghét rơ ràng của
tác giả. Và thông qua h́nh ảnh cái chết của người học sinh ấy, tác giả
c̣n muốn gửi thông điệp đến người đọc, sự tàn nhẫn của những kẻ dụ dỗ,
mua chuộc trẻ em, phụ nữ làm bia đỡ đạn, trong cuộc nội chiến thảm khốc
này” (7). Hành vi “lắc đầu bỏ đi” theo tôi, không phải là
chối bỏ mà, trước hết là nỗi chán ngán đến cùng cực cuộc chiến tàn khốc
này. Hậu quả để lại chỉ là những cái chết oan uổng, những cái chết không
đáng chết như đứa học tṛ kia. Anh không bày tỏ một thái độ chính trị ở
đoạn này, và cũng chẳng cần đưa ra một thông điệp nào để lên án chiến
tranh. Anh viết và bỏ lửng ở đó để người đọc tự t́m kiếm câu trả lời. Và
điều này Lư đă thành công, bởi có nhiều ư kiến trái chiều nhau.
Chiến tranh thoáng hiện thoáng biến vô chừng trong các truyện ngắn của
Phạm Ngọc Lư, nhưng bộ mặt th́ không rơ rệt như một Phan Nhật Nam, Thảo
Trường …hay một vài tác phẩm của Dương Nghiễm Mậu, Nhă Ca, những nhà văn
đi trước Lư khá xa. Nó (CT) như một cái cớ để nói về thân phận làm người
đang bị lọt thỏm vào ṿng xoáy thời cuộc. Thân phận ấy là thanh niên,
thầy giáo, công chức, học sinh và nhiều nhất là những người dân nông
thôn, đang trong vùng tranh chấp: “Tới cầu sắt Đoan bữa kia.. Tui mới
lùa ḅ qua giữa cầu, chút nữa chết tan xác rồi. Ḅ kêu rống chen nhau
nhảy xuống sông…” (Xóm Ven Rừng, Văn số 170, ngày 15.1.1971).
Trong truyện ngắn Phạm Ngọc Lư, người đọc c̣n dễ dàng bắt gặp đây đó
những lợn cợn tính dục được giấu kín đằng sau cảm giác bất chợt ập tới,
nhưng nhẹ nhàng không ̣a vỡ, ngấu nghiến như các nhà văn trẻ cùng thời:
“Cô vợ có chút ít nhan sắc, trung b́nh thôi, nhưng người tinh mắt ai
cũng công nhận với tấm thân no tṛn sinh lực ấy, với đôi vú chữ tâm(*),
cặp mông no lẳng như thớt ngựa ấy cũng hứa hẹn sẽ đem lại cho ông vài
đứa con…” (Xóm Ven Rừng, sđd). Có khi những dục tính được khơi gợi
từ những tác động bên ngoài, như cái đêm hai bên đánh nhau trong phố: “…không
chừng Cúc lường được mức độ tham lam quá đáng nơi bàn tay Huỳnh, nàng
khẽ đẩy chàng ra giành lại tấm chăn cuốn quanh ḿnh… Cúc ôm chầm lấy
Huỳnh gh́ đầu chàng vào ngực. Huỳnh thử lắng nghe nhịp tim Cúc đập hối
hả, ngoạm lấy áo Cúc nhai kín miệng” (Nhà Hầm, Văn số 140. 1969). Và:
“Bất ngờ nàng ôm chầm lấy anh lôi ngă sấp lên ngực, hơi thở nóng ran,
hổn hển, dồn dập. Kiền nhúc nhích cựa nhẹ ḿnh nhưng không dám gỡ ṿng
tay bạn đang quấn quưt siết chặt trên lưng” (Tàn Đông, Bách Khoa số
344). Những hành vi trên, phải chăng là tâm thức của những kẻ cô đơn,
của những con người bị “lưu đày” nơi đất trích, của những số phận không
có ngày mai, đang ở giữa lằn ranh sự sống và cái chết trong gang tấc?
Đôi lúc tác giả đặt lư trí lên trên để kịp d́m nhục cảm xuống và dựng
nên một sự tỉnh táo thái quá trong thời khắc mà hai kẻ yêu nhau đang ở
một nơi vắng vẻ, gợi t́nh: “Gió vẫn phơn phớt phe phẩy lá dương chạm
vào mặt nhồn nhột, ve vuốt một khoái cảm không rơ tên. Tôi ḅ tới chỗ
Nhan ngồi.
Thật t́nh em quá ngây thơ khi có ư ra đây Nhan à!
-Anh sắp làm ǵ tôi?” (Cái Đuôi Sao Chổi, sđd).
“Tôi” chẳng làm ǵ cả, mà “cầm lấy lon coca… uống từng hơi dài”
như dằn cơn khoái cảm xuống. V́ vậy, dục tính trong truyện của Lư thường
xảy ra do sự t́nh cờ ngẫu nhĩ, do ngoại cảnh đưa đẩy, tức quán tính
trong t́nh thế “cuối đường”.
Trong số gần 20 truyện Lư để lại, với tôi, có lẽ Mộng Thấy Ḿnh Đă Chết
(Ư Thức số 7 ngày15.1.1971) là truyện hay nhất. Anh đan xen giữa hiện
sinh và siêu h́nh cùng chút xa gần trong Nam Hoa Kinh của Trang Tử khiến
câu chuyện hư hư thực thực. Mộng và thực ẩn hiện qua từng suy tưởng của
nhân vật. Mộng Thấy Ḿnh Đă Chết phần nào phản ảnh tâm trạng lớp thanh
niên thời chiến ở miền Nam. Họ hoang mang và tuyệt vọng. Họ luôn luôn
đeo mang sự chết trong từng hơi thở, giấc ngủ. Đó là những cái chết t́nh
cờ, có thể đến bất kỳ lúc nào với bất kỳ ai, bất cứ đâu. Nó là nỗi ám
ảnh thường xuyên đối với nhân vật xưng tôi. “Tôi” và Muội yêu nhau,
nhưng lúc nào “tôi” cũng thấy Muội đă chết. Nàng đến với “tôi” trong
cuộc sống thực mà như từ cơi mộng. Mộng và thực luôn trộn lẫn vào nhau ở
hai nhân vật này: “Tôi đă chết? Con đ̣ đưa linh hồn thả về bên kia bờ
quá khứ cháy bùng lên, ch́m xuống mặt biển sóng gió trùng trùng nô giỡn
nhẫn tâm giữa nỗi quên lăng mông mênh ngút ngàn thiên địa tận… Anh đă
chết vào sáng sớm ngày mồng 7 Tết dưới gốc cây nêu trước ngơ”.
Có lẽ, thảm cảnh Mậu Thân ở Huế, với những ǵ đă chứng kiến khiến tinh
thần Lư bị tổn thương, tạo nên những vết nứt toang hoác trong tâm tưởng
anh, kéo dài khá lâu, hằn sâu vào tâm trí để bật ra câu chữ: “Em
tưởng anh đă chết trong biến cố Mậu Thân ở Huế. Anh chết vỡ ngực, máu
nhuộm đỏ cả chiếc sơ mi trắng nằm trước cổng nhà với cái tay nải c̣n rơi
vướng cạnh đó”. Một đoạn khác: “Quả thật, tôi đă cầu mong cho cả
thành phố ấy nổ tung lên. Ghê thay, tôi đă chết theo. Mẹ tôi, sau những
ngày chạy loạn, đói, bệnh, thiếu cơm thiếu thuốc đă đau đớn ĺa đời tại
nhà một người bà con ở vùng quê. Bà chưa kịp về nằm giữa căn nhà đổ nát
thở hơi thở cuối cùng như lời mong mỏi trăn trối lúc lâm chung, chưa kịp
biết xác tôi có được chôn lấp đàng hoàng chưa hay đă bị heo chó rỉa rói
mất rồi…”.
Những ǵ đă xảy ra ở Huế là những vết thương đen đúa, tím bầm, cứa măi
vào con tim lịch sử dân tộc. Khép lại những ḍng cuối cùng, truyện toát
ra chút khắc khoải, nghèn nghẹn, như thể chính người đọc bị hóa thân
cùng các nhân vật của anh.
Với truyện ngắn, sau năm 1975 Lư buông bút, không viết một ḍng nào (ngoại
trừ thơ). Lư do cũng đơn giản, như trong thư viết giữa năm 2002 từ Đà
Nẵng gửi cho tôi: “Con đường văn chương của tôi quá ngắn ngủi, sau
75, coi như tuyệt lộ. Đáng buồn. Tiếc thay giấc mộng của một thời thanh
xuân! Bất phùng thời, đành vậy…không chơi, không tham dự ǵ với nền văn
học nghệ thuật đương đại từ đó đến nay và măi măi… Muốn viết văn xuôi
lắm nhưng chắc phải “học” lại đă, lâu năm quá, chữ nghĩa sét gỉ hết rồi…”.
Để khép lại bài viết, chúng tôi xin dẫn nhận định sau của nhà biên khảo
văn học Nguyễn Vy Khanh về những tác phẩm của Lư: “chúng tôi có cảm
tưởng tác phẩm của ông có điểm khác các nhà văn trẻ cùng thời đó. Có
chiến-tranh nhưng không nhất thiết là đề tài chính, có t́nh-yêu nhưng
không xuôi chảy, trơn tru, dễ dàng, có hiện thực đời-sống đang xảy ra
nhưng rốt cùng chỉ là cái cớ, có triết lư nhưng cũng không phải để
thuyết phục người đọc,... v́ thiển nghĩ truyện và thơ ở Phạm Ngọc Lư đă
đụng đến cái lơi nhân bản qua các phác thảo, nhận định, đă là những diễn
biến tâm sinh lư ông tŕnh bày để nhân-vật tự xuất hiện. Riêng lời văn
con chữ mang thi tính đặc sắc, chọn lọc…” (Nguyễn Vy Khanh, Vài Cảm
Nghĩ Về Thơ và Truyện Phạm Ngọc Lư, trg 104-105, TQBT số 70, tháng
6.2016).
(Viết những ḍng này, như những lời vĩnh biệt, nhớ đến Phạm Ngọc Lư,
người bạn thân của tôi, cả đời khốn khó).
Tuy Ḥa, tháng 6.2017
Nguyễn Lệ Uyên
_________ (*)
|
 |
 |
|
Chữ Tâm viết thường |
chữ Tâm cổ |
Theo Phạm Ngọc Lư, vú chữ tâm (cổ) là loại vú đẹp của người con gái,
giải thích của nhà văn Tô Thẩm Huy và TÂQ.
(1) Đặng Tiến, Vũ trụ thơ, NXB Giao Điểm, SG 1972
(2)
https://vietbao.com/p112a268374/nghi-ve-nha-tho-pham-ngoc-lu
(3)
http://webcache.googleusercontent.com/search?q=cache
http://danlambaovn.blogspot.com/2015/06/pham-ngoc-lu-nguoi-van-giu-lua-cho-nen.html
(4) Đào Tiềm (365-427) tự là Uyên Minh, người đời Đông Tấn, Trung Hoa.
Ông làm huyện lệnh ở Bành Trạch, chán cảnh phải luồn cúi quan trên, than
thở “ta đâu phải chỉ v́ 3 đấu gạo ( tức lương bổng) mà phải khom lưng ư?” bèn cởi trả áo măo cho triều đ́nh, lui về quê ẩn cư, viết bài
Quy khứ
lai từ để bày tỏ chí hướng.
(5)
http://dutule.com/a7597/bien-cuong-hanh-dia-chan-thi-ca-pham-ngoc-lu-ky-02-
(6) Nẫu: phương ngữ B́nh Định, Phú Yên, đại từ ngôi thứ 3 chỉ số nhiều.
Ở đây Nẫu chỉ những người lên núi theo VC.
(7)
https://sangtao.org/2016/10/06/vai-suy-nghi%CC%83-ve-ta%CC%A3p-truye%CC%A3n-so%CC%A3i-khoi-bay-vong-cu%CC%89a-pha%CC%A3m-ngo%CC%A3c-lu/
vanhuu08@yahoo.com
Trang Văn Hữu |