|
VĂN HỮU số
39
Mùa Đông 2017 và Tết Mậu Tuất

ĐỌC THƠ HOÀNG
SONG LIÊM

Tôi rất thích thơ, nhưng
chẳng làm thơ. Thật ra cũng có khi làm một vài bài thơ, nhưng chẳng thấy
có hồn nên không nhắc tới. Tôi yêu thơ từ hồi c̣n học Trung học
(1941-1945), khi ấy đă quen biết Xuân Diệu, làm Tham Tá Sở Thương Chánh
tại Mỹ Tho, tác giả tập Xuân Diệu Thơ Thơ.
Tôi thường la cà ở hai hiệu sách Nam Cường và Tân
Việt ở đầu cầu quay, bắc qua Chợ cũ, mua những tập thơ của các thi sĩ
nổi tiếng thời bấy giờ như Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư, Thế Lữ, Nguyễn
Bính, Huy Cận (Lửa Thiêng)...
Khi tôi rời Mỹ Tho lên Sài G̣n, chính Xuân Diệu đă
đưa tiễn bằng một bữa ăn ở tiệm tàu Kỳ Hương. Rồi sau 1975, Xuân Diệu có
t́m đến nhà tôi ở Sài G̣n để thăm, nhưng lúc ấy tôi đi học tập cải tạo
nên không gặp. Mới đây, Ls. Ngô Tằng Giao chuyển cho tôi bài thơ của
Xuân Diệu : “Gửi vợ chồng thằng Thu.” Đọc thơ, tôi thấy Xuân
Diệu, cũng như Trường Chinh, lôi chính bố mẹ ra đấu tố:
Ai về làng Bố Hạ
Nhắn vợ chồng thằng Thu
Rằng chúng bây là lũ quốc thù...
Lôi cổ bọn nó ra đây
Bắt quỳ gục xuống, đọa đày chết thôi.
Thằng Thu trong bài thơ là ông giáo Ngô Xuân Thu, bố của Ngô Xuân Diệu,
ngỡ ngàng thay! Hai thời, hai thái cực. Thơ t́nh (thờ đảng) của nhà thơ
thời cộng sản khác với thơ t́nh (mùa thu) của nhà thơ thời 40.
Thu
Nơn nà sương ngọc quanh thềm đậu
Nắng nhỏ bâng khuâng chiều lỡ th́.
Hư vô bóng khói trên đầu hạnh;
Cành biếc run run chân ư nhi.
Gió thầm, mây lặng, dáng thu xa
Mới tạnh mưa trưa, chiều đă tà.
Buồn ở sông xanh nghe đă lại,
Mơ hồ trong một tiếng chim qua.
Bên cửa ngừng kim thêu bức gấm,
Hây hây thục nữ mắt như thuyền.
Gió thu hoa cúc vàng lưng giậu,
Sắc mạnh huy hoàng áo trạng nguyên.
Khi nói đến thơ t́nh, tôi lại nhớ đến quyển Thơ T́nh mà nhà thơ
Hoàng Song Liêm đă tặng cho tôi năm 2006. Đă có một thời Hoàng Song Liêm
cùng tôi làm việc chung một ngành “tâm lư chiến,” nhưng chưa gặp nhau.
Ông ở Tâm lư chiến Không quân, tôi ở Nha Chiến Tranh Tâm Lư.
Duyên gặp gỡ là khi chúng tôi cùng tham gia biên tập
cho nguyệt san Kỷ Nguyên Mới tại Virginia.
Được tặng thơ lâu như vậy mà tôi chưa lên tiếng một
lời nói về tập thơ. Thật là thậm xưng thất lễ. Lư do là v́ tập thơ đă
được nhà văn kiêm nhà thơ Hà Thượng Nhân (1920-2011) giới thiệu.
Ai cũng biết Hà Thượng Nhân là cổ thụ trong nền văn
học Việt Nam. Nói đến ông, tôi lại nhớ đến bài thơ “Trăng Thu” mà
ông làm khi dự hội thơ ở Vỹ Dạ (Huế) năm 1935.
Sương mỏng manh canh vắng lặng tờ
Buồn xưa náo động mấy vần thơ
Rưng rưng mắt lệ chàng mong nhớ
Phơi phới mây xa thiếp hững hờ
Bến quạnh lau già người chểnh mảng
Rượu tàn canh vắng khách bơ vơ
Lầu cao ai đó mây rèm tím
Hồn lẻ đêm nay có thẫn thờ.
Về Hoàng Song Liêm, chủ đề trong cuốn thơ của ông là Quê Hương, như nhà
văn Hà Thượng Nhân đă ghi nhận: “Quê hương không phải chỉ là sông, là
núi, là mồ mả ông cha, là họ hàng, làng mạc. Quê hương lại c̣n là những
làn gió, những ánh trăng, những cơn mưa gió thất thường, những con đường
lầy lội, những mái rơm, mái rạ, những con người nhỏ bé, nghèo khổ. Nó là
cuộc đời, là tuổi trẻ của chúng ta, là tiếng mẹ ru, là mùi hoa cau, hoa
bưởi, là đêm khuya tiếng chiếc mo cau rụng ở vườn sau.”
Theo từ nguyên trong tiếng Anh có ba chữ nói về quê
hương:
1.- Homeland là khái niệm về nguyên quán, là nơi mà
một nhóm dân tộc nắm giữ một truyền thống lịch sử lâu dài và là một liên
hiệp văn hóa sâu rộng – một quốc gia có sự đồng nhất đặc thù.
2.- Motherland là nơi người ta được sinh ra, là nguồn
gốc của một nhóm dân tộc hay di dân.
3.- Fatherland là quốc gia của người cha.
Nói thế có nghĩa rộng ra quê hương là Tổ quốc, mảnh
đất thiêng liêng mà người ta không thể quên, canh cánh bên ḷng, dù đang
ở một phương trời xa cách.
Đất khách vời trông Tổ quốc xa Bên trời tóc trắng
tuyết sương pha
Hoàng Song Liêm đă bỏ miền Bắc vào Nam khi đất nước
chia đôi, nhưng vẫn “Tiếc ngẩn tiếc ngơ Hà Nội.” Giữa Hà Nội, nước hồ
phản chiếu trời xanh biêng biếc, cầu Thê Húc dẫn vào đền Ngọc Sơn. Nơi
đây, theo truyền thuyết, Lê Lợi hoàn trả lại gươm cho Rùa thần, làm cho
thi sĩ của chúng ta gợi lên trong kư ức:
Sóng nước hồ Gươm c̣n gọi
Đêm vàng Thủy tạ năm xưa.
Sự liên tưởng khiến nhà thơ chợt nhớ:
Một chùm hoa gạo đỏ
Bát ngát một trời xanh
.....
Sen hồ biêng biếc lá
Cỏ dại đóa trinh ngần.
Và chàng thanh niên rời đất Bắc, bây giờ:
Bao năm nương đất khách
Bạc đầu tư cố hương…
Nữ văn sĩ Hoa Kỳ Diane Ackerman và cũng là một nhà khoa bảng, viện dẫn
Plato, nói mỗi người có một t́nh yêu lư tưởng đang chờ đợi để được khám
phá. Không phải là “Nồi nào úp vung nấy,” mà mỗi người trong chúng ta có
một-người-duy-nhất và khi t́m được người đó là chúng ta có một toàn thể.
Đó là cái lư tưởng nên thơ của một đối tượng hoàn hảo.
Cũng vậy, tôi đọc trong bài “tạ t́nh em” gửi Mai của
Hoàng Song Liêm:
Cám ơn em đă đến trong đời
Chia sẻ cùng tôi nỗi ngọt bùi
Từ thuở hàn vi sờn áo vải
Đến bây giờ tóc điểm sương phơi.
.....
Biển dâu vẫn một niềm son sắt
Chung một t́nh sâu, một nghĩa sâu.
Cái lư tưởng đó là lời kêu gọi mạnh mẽ trong tim và trong óc mà người ta
tin tưởng trong suốt bao nhiêu thế kỷ, và nhiều người vẫn c̣n tin tưởng
ngày hôm nay. Tại sao cái ư tưởng về sự duy nhất đó vẫn c̣n sức thuyết
phục? T́nh yêu thay đổi tất cả khoa học vật lư trong cái vũ trụ cảm xúc
và vẽ lại ranh giới giữa cái thực và cái khả thể. Trẻ con thường tin vào
những điều kỳ diệu và phép mầu. Khi chúng lớn lên, tự nhiên chúng tin
tưởng vào mănh lực huyền diệu của t́nh yêu.
Nhà thơ Hoàng Song Liêm canh cánh trong tâm hồn nỗi
niềm ở xứ lạ quê người, nhất là trong dịp mùa Xuân đến. Người lữ khách
đó không thấy cây nêu, tràng pháo nổ ḍn trong dịp Tết của ngày xưa.
Những kỷ niệm nhỏ nhặt đó đem đến nỗi bâng khuâng hoài cảm và những giọt
mưa đêm làm nao nao đầy hồn. Người thường không cần để ư, mưa có lạnh
th́ rúc vào chăn, ươm giấc mộng dài, khác với nhà thơ “nghe nao nao
trong hồn” để cảm thấy “mênh mang t́nh u hoài.”
Cái tâm trạng đó, tôi thấy trong bài thơ “Giao cảm” của thi sĩ người
Pháp Paul Verlaine (1844-1896), với những câu như:
Bạn có nhớ trạng thái xuất thần năm xưa cũ? Bạn c̣n thấy tâm hồn tôi
trong giấc mơ không? Trời xanh ra sao và chúng ta có hy vọng ǵ!
Hy vọng chịu thua, biến mất trong bầu trời u ám.
Các thi sĩ vẫn nhớ không quên chuyện ngày qua, có khi đau buồn v́ đă
đánh mất niềm hy vọng. Cũng như thế, Hoàng Song Liêm nơi “xứ lạ quê
người” khắc khoải kêu lên:
Giang hồ quen bước chân phiêu bạt Lạc cánh chim trời bóng núi xa.
Đường nhỏ bâng khuâng hồn lữ khách, Nụ tầm xuân khuất tuổi xuân qua.
......
Đă mấy năm rồi Xuân xứ lạ Bồi hồi tưởng Tết cố hương xa
Chén cơm manh áo sao mà nặng Thao thức năm canh mấy tiếng gà.
Những kỷ niệm xa vời đó, chúng ta nhắc lại để nhớ, để thương. T́m lại
cảnh cũ người xưa không phải dễ. Tôi đọc trong thơ Đường bài thơ “Vô Đề”
của Lư Thương Ẩn (Li Shang Yin - 813-858):
Tương kiến thời nan biệt diệc nan Đông phong vô lực bách hoa tàn Xuân
tàm đáo tử ty phương tận Lạp chúc thành hôi lệ thủy can Hiểu kính đản
sầu vân mấn cải
Dạ ngâm ưng giác nguyệt quang hàn Bồng lai thử khứ vô đa lộ
Thanh điểu ân cần vị thám khan
Xa nhau khó tựa gặp nhau Gió đông yếu ớt, hoa rầu xác xơ
Thác rồi tằm mới hết tơ
Tàn rồi ngọn nến mới khô lệ sầu Soi gương buồn tóc phai màu
Ngâm đêm, hẳn thấy trăng thâu lạnh lùng Có xa xôi mấy Non Bồng
Ḍ đường hỏi lối, cậy cùng chim xanh (Trần Trọng San dịch)
Tương tự, Hoàng Song Liêm, trong bài “Đôi mắt,” thao thức nh́n cảnh vật
để dỗ cơn sầu mộng:
Trong mắt nh́n biển lặng Thầm nghe sóng xôn xao. Trong mắt sầu đêm trắng
Thức giấc một v́ sao.
Trong mắt bờ nước cạn Hiu hắt rừng hoa lau Trong mắt nh́n vực thẳm Ta dỗ
mộng ta sầu.
Tập thơ của Hoàng Song Liêm rất phong phú đề tài, làm sao nói hết. Chi
bằng trích đoạn vài bài để nêu lên cái băn khoăn, cái thao thức, nỗi
bâng khuâng của một hồn thơ đa cảm.
Tập thơ c̣n có những phụ bản nhạc của các nhạc sĩ Phạm Tuân, Quư Denver,
Ngọc Dũng, Nguyễn Thiện Lư và bức họa của cố họa sĩ Đinh Cường.
Lời tựa của nhà văn quá cố Hà Thượng Nhân đă nói đủ
những ǵ muốn nói.
Thô thiển vài hàng giới thiệu thêm để các bạn yêu thơ t́m đọc.
Bích Hoài
vanhuu08@yahoo.com
Trang Văn Hữu |