VĂN HỮU số 40

 

  Mùa Xuân 2018

 

 

Nguyễn Ngọc Danh

LỜI CHÚC: MẸ TRÒN CON VUÔNG

 


 

Phép vua thua lệ làng, câu nói dân gian này cho chúng ta biết một điều: luật lệ của làng xóm đất nước chúng ta, nhiều khi phép tắc của Vua, một con người trên hàng vạn người cũng đành phải đứng ngoài cổng làng, không được phép ngó ngoáy bước qua cái cổng tre sơ sài kia.

Việt Nam chúng ta có hàng ngàn những câu nói, câu chúc truyền khẩu từ thời xa xưa tới ngày nay, từ đời này qua đời khác nhưng cứ vẫn đẹp vẫn hay. Không lỗi thời mặc dù thế thái nhân t́nh, lịch sử xoay vần như thế nào, chúng vẫn giữ nguyên giá trị vô cùng độc đáo của chúng. Những câu “Ví” lời “Chúc” ấy mỗi khi nói ra ai cũng hiểu cái nghĩa ngữ ẩn tàng trong đó, thường gọi là nghĩa “Bóng”. Nhưng nếu đem mổ xẻ theo cái thực hay c̣n gọi là “nghĩa đen” th́ khó mà chấp nhận được. Nhiều khi c̣n thấy vô lư nữa. Một trong hàng ngàn câu chúc ấy, lời chúc: “Chúc cho Mẹ Tṛn Con Vuông” được mọi người ba miền, từ thượng lưu trí thức tới dân dă quê mùa, từ trẻ tuổi tới người lớn tuổi đều hiểu và dùng để chúc cho một cuộc sinh nở, bao gồm mọi sự đều xuôi chảy tốt đẹp. Người trong làng, trong xóm, chiều chiều đi chợ, đi chơi, hoặc tới nhà ai vừa mới có người con dâu, con ruột, người em, người chị vừa sinh nở xong đều nói câu: Chúc cho cháu, cho chị, cho em được "mẹ tṛn con vuông".

Tại sao lại có câu chúc nghe nó ngộ nghĩnh, nghịch lư, khó hiểu như thế? Nhưng lại thấy hay, lạ và bóng bẩy lạ lùng! Nhân gian khi nói và nghe đều biết rằng đó là một lời chúc tốt đẹp. Nhưng hầu như ít ai nghĩ và phân tích cho tường tận câu chúc ấy. Tại sao cha ông chúng ta lại lấy hai h́nh tượng: Vuông Tṛn đặt ra câu chúc kỳ quặc cho việc sinh nở như vậy? Thông thường, một người phụ nữ dù trẻ hay đă luống tuổi vẫn mong được một lời khen: Đẹp, Xinh, Trẻ trung. Thanh tao, Cao nhă. Nhưng nếu chẳng may gặp ai đó nói chúc Bà, Cô, Chị tṛn như trái mít, cái lu th́ coi chừng mà ăn đ̣n, hay nhận một cái nguưt, cái lườm sắc như dao cạo. Hoặc bị rủa thầm người ǵ mà vô duyên, bất lịch sự. Và rất có thể từ buổi gặp gỡ ấy sẽ giận măi, không thèm nh́n mặt, nói chuyện hay chào hỏi nữa. Nếu trong cuộc sống hằng ngày có ông bà nào, hay người quen thân nào đó vừa gặp nhau đă phang một câu: chúc cho con gái rượu, cô Út của ông bà mập mạnh vuông như tấm phản, hay cái tủ đứng, th́ coi chừng bị xỉ vả cho một trận nên thân, hoặc sẽ thề không khi nào gặp mặt lại. Nhưng ngược lại, nếu trong gia đ́nh vừa mới có cô con gái, con dâu, cháu gái mới sanh. Người chồng có người vợ sanh nở xong. Đi đâu cũng được nghe mọi người trong làng, bạn hữu, người thân có lời: Chúc cho Mẹ Tṛn Con Vuông th́ hoan hỉ vui mừng, sung sướng lắm. Sao vậy nhỉ?...

Chúng ta phải lội ngược ḍng đi về cội nguồn tâm tưởng suy nghĩ của tổ tiên chúng ta. Từ thời xa xưa, tới trung cổ khi đất nước chúng ta bị người Tầu đô hộ .Họ luôn muốn nhồi nhét vào tâm trí người Việt cái ǵ hay, đẹp, sang, quư phái thuộc về kẻ thống trị. Nhưng thực ra biết bao nhiều điều hay, cái đẹp của Việt tộc (kẻ bị trị) họ đă học được, rồi cố t́nh đánh lận con đen cho là của ḿnh, rồi đem truyền bá lại để khuất phục người dân nước bị trị. Một trong những điều đó là thuyết Âm Dương trong Kinh Dịch. Tư tưởng âm dương của người Việt, người Tàu cũng ăn cắp và cho đó là của họ. Theo Lm triết gia Kim Định và các nhà học giả ngày nay khẳng định Kinh Dịch là của Việt tộc không phải của Tàu. Điều chứng minh một cách hùng hồn cho việc này là: Lối sống, văn hóa, tư tưởng, ngôn ngữ của người Việt mang đậm tính lưỡng hợp hơn người Tàu. Có dịp tôi sẽ bàn tới tính lưỡng hợp trong bộ quốc phục Việt Nam.

Trong nền tư tưởng đất trời giao ḥa đem lại sự thái ḥa ấm no và hạnh phúc cho con người và vạn vật. Việt tộc chúng ta từ hơn 4.000 năm về trước đă thể hiện lối suy nghĩ ấy một cách rơ ràng trên thạp đồng Đào Thịnh.

 

Những đề tài trang trí trên nắp thạp là 4 cặp tượng trai gái đang giao hợp (hiện c̣n 2 cặp). Trai th́ xơa tóc, ngang hông đeo dao găm, đóng khố. Gái th́ bận váy ngắn. Bộ phận sinh dục của nam giới được thể hiện rất rơ, chứng tỏ người xưa cố ư khi đặt khối tượng này trên nắp thạp, nhằm phản ánh khát vọng sinh sôi nảy nở, sự phồn thịnh của con người và vạn vật.(wiki)

 

  Trong sự truyền đạt tư tưởng con người phải dùng nhiều phương cách., trong đó ba phương cách thường dùng nhất: h́nh vẽ (h́nh tượng) - ngôn ngữ - chữ viết. Trong câu chúc: “Mẹ tṛn con vuông” Ông bà chúng ta vừa dùng ngôn ngữ vừa dùng h́nh tượng: Vuông, Tṛn để diễn đạt tư tưởng.

 

Trong Dịch học hai h́nh biểu tưởng quan trọng nhất là Tṛn và Vuông.

Tṛn =Trời =Càn = Dương và Vuông= Đất = Khôn =Âm.

Tṛn biểu tượng cho Trời, hay Dương tính nói theo dân gian là Đực là trai, đàn ông, Sáng, Lớn, Nóng, Cứng, Ban Ngày, Thẳng đứng (nọc).

Vuông biểu tượng cho Đất hay Âm tính, theo cách nói dân gian là Cái, là Gái. Đàn bà, Tối, Nhỏ, Lạnh, Mềm, Đêm. Ngang.

Vậy lời chúc “Mẹ Tṛn Con Vuông” mang ư nghĩa: Cầu chúc cho Âm Dương thuận ḥa, Đực Cái tṛn vẹn. Cũng là cầu chúc cho Mẹ Con được an b́nh hạnh phúc và cốt lơi là Sự Sống. Tác tạo nên sự sống là một trong những công việc, quan pḥng và sáng tạo Thượng đế trong việc duy tŕ ḍng giống, vạn vật:

Âm (vuông-cái,) + Dương ( tṛn, trai) = Hoà Hợp, Mầm Sống, Sự sống.

 

Cảnh đẹp B́nh Minh chính là lúc Tối ḥa trộn với Sáng.

Cảnh đẹp hoàng Hôn chính là lúc ánh Sáng ḥa trộn với bóng Tối.

Bức tranh thuỷ mạc chỉ giản dị bởi chất màu mực Đen trong đường nét Thẳng, Ngang trên giấy hay lụa Trắng đă tạo thành bức tranh tuyệt mỹ.

Một cặp Trai Gái trẻ nắm tay nhau đi trong cảnh Hoàng Hôn th́ không c̣n ngôn từ nào có thể nói lên được cái đẹp kỳ diệu của không gian, thời gian và t́nh người..

 

Trong sự quan pḥng và xếp đặt của thượng đế, muà Xuân sẽ cho cây nẩy lộc sinh hoa. Từ hoa có hương và sắc để quyến rũ ong bướm. Hai loài ong bướm trên chân và thân của chúng có những lớp lông mỏng, nhỏ li ti. Chính ong bướm sẽ đem những phấn hoa Đực dính từ chân và thân cho các nhuỵ Cái. Sự thụ phấn này chính là sự giao hợp (giao phối) giữa Vuông và Tṛn. Để mùa Hè và mùa Thu chúng cho chúng ta trái ngọt cây lành.

 

  Nếu chúng ta có dịp thăm thắng cảnh thánh địa Mỹ Sơn cuả người Chămp tại Quảng Nam, chúng ta sẽ gặp thấy những h́nh khối đá hoa cương (ganic) Tṛn, chồng lên khối đá Vuông: Đó chính là h́nh ảnh Âm Dương giao hợp: Yoni (âm vật -Vuông nằm dưới), Linga (Dương Vật - Tṛn, Thẳng đứng trên). Chúng thể hiện cảnh giới tín ngưỡng Phồn Thực (Phồn: nhiều, Thực = nẩy nở). Chính đó là sự kết hợp Đực Cái (vuông-tṛn) xảy ra từ thủa muôn đời trong từng giờ từng phút trên cơi đời này. Nó có sức quyến rũ lạ lùng. Nó hàm chứa một mật ngữ cao quư nên có nhiều nền văn hóa tạo thành những biểu tượng linh thiêng đáng tôn thờ. Chúng ta gọi đó là tín ngưỡng Phồn Thực dân gian (Phồn: nhiều, Thực = Nẩy nở).

Với tôi lời cầu chúc: Mẹ Tṛn Con Vuông, là lời chúc đẹp và hay nhất trên cơi đời này dành cho việc sinh nở của con người, cũng là biểu tượng cho cuộc sinh hóa của vũ trụ đất trời.

 

Mật Ngữ Qua Đồng Tiền Cổ Việt Nam.

 

Để minh chứng một cách hùng hồn cho tư tưởng âm dương của tiền nhân, chúng ta truyền đạt qua nhiều thế hệ, nhưng chúng ta không nh́n thấy, hoặc quá ít người để ư Tư tưởng ấy được truyền đạt qua mọi sinh hoạt hay những vật thể thường ngày như bộ quốc phục Nam - Nữ. Tôi sẽ đề cập tới một cách kỹ lưỡng và trang trọng trong một bài viết riêng cho Quốc Phục Việt nam. Ở đây tôi chỉ minh chứng tinh thần âm dương dịch lư qua đồng tiền (kim loại - đồng, kẽm, sắt). Trong thời xưa mỗi triều đại đều đúc cho triều đại ḿnh một loại tiền riêng. Hầu hết theo một quy tắc Bên ngoài Tṛn. Trong (giữa) là một phần rỗng h́nh vuông. Lỗ hỗng h́nh vuông với mục đích để xỏ giây giữ tiền thành từng chuỗi tiền mang theo người, thường thắt quanh lưng quần (eo).

Mới đây theo tờ báo Pháp Luật ngày 18-2-2015 cho biết ông Nguyễn Văn Son tại Tràng An, Trường Yên Ninh B́nh đă nhặt được hai đồng tiền cổ thời Đinh Tiên Hoàng.

 

Tiền thời nhà Đinh

Trong một lần hút bùn, nạo vét con sông Sào Khê lịch sử ở cố đô Hoa Lư (Ninh B́nh), ông Nguyễn Văn Son (thôn Tràng An, xă Trường Yên) đă nhặt được một đồng tiền cổ. Có lẽ ông không ngờ rằng, đó là một đồng tiền cổ nhất, quư giá lần đầu tiên được t́m thấy trong vùng lơi cố đô Hoa Lư, nơi xưa kia Vua Đinh Tiên Hoàng đă rèn binh, luyện kiếm. (báo Pháp Luật)

 

Quan sát hai đồng tiền nhà nhà Đinh (968 - 979) chúng ta thấy ngay từ thời nhà Đinh, đồng tiền tiêu dùng hàng ngày đă mang tư tưởng Mẹ Tṛn Con Vuông.

Qua các triều đại sau như thời Quang Trung và Nhà Nguyễn, cũng với h́nh thức ấy những đồng tiền cũng mang thông điệp Mẹ Tṛn Con Vuông ấy. (Xem h́nh)

 

 

 Mỗi triều đại nước ta thường cho đúc một loại tiền riêng, bao gồm tiền đồng, tiền kẽm, tiền sắt, như Thái b́nh thông bảo thời nhà Đinh, Thiên phúc trấn bảo thời Tiền Lê.

Cuối năm 1820 (cuối triều Gia Long), song song với tiền đồng, các thoi vàng, thoi bạc, đồng vàng, bạc cũng được sử dụng. (trích báo Pháp luật)

 

Trong khi đó tại các quốc gia Tây phương như Pháp, Roman, Đức, đồng tiền (kim loại) luôn mang h́nh tṛn không có lỗ chính giữa. Nhưng nếu có là lỗ h́nh tṛn. (Xem h́nh trên). Điều này chứng tỏ người Tây Phương thời xưa chưa hoặc không có ư niệm về Mẹ Tṛn Con Vuông như tiền nhân của chúng ta.

 

Xin gởi về tiền nhân ḷng ngưỡng mộ, kính phục đă để lại cho con cháu tinh thần An Ḥa trong cuộc sinh sinh hóa hóa giữa thế gian này.

 

Nguyễn Ngọc Danh


 

 

 

vanhuu08@yahoo.com

 

Trang Văn Hữu

 

 

 

art2all.net