VĂN HỮU số 41

 

  Mùa Hạ 2018

 

 

Nguyễn Công Khanh

NHỮNG NGƯỜI NHÂN VĂN CUỐI CÙNG

 

            Báo An Ninh Thủ Đô số ngày 28 tháng 2 năm 2007 đăng bài phỏng vấn thi sĩ Hoàng Cầm với lời tựa của ṭa soạn nguyên văn như sau:“Giải thưởng về văn học nghệ thuật năm 2007 vừa được công bố, trong đó có bốn nhà thơ: Lê Đạt, Hoàng Cầm, Trần Dần, Phùng Quán. Dư luận đánh giá cao việc trao giải thưởng cho nhóm tác giả trên bởi đó được coi như một thái độ ứng xử, một cách nh́n mới, một tư duy mới, một lời xin lỗi cùng các tác giả…”

Lời công bố này xẩy ra cùng lúc với sự qua đời của cụ Nguyễn Hữu Đang. Họ là những nhà thơ, nhà văn, nhà báo trong phong trào Nhân Văn đă nói lên tiếng nói đ̣i hỏi chế độ thay đổi trong thập niên 50 tại miền Bắc, mà cụ Đang được coi như người đứng đầu của nhóm này. Họ là những người cùng gian khổ trong mười năm trường kỳ kháng chiến chống Pháp cho đến khi thành công. Có người đă dấn thân tham gia vào phong trào Việt Minh khi c̣n trong bóng tối. Theo Phùng Quán, lúc đầu phong trào Nhân Văn có cả đến trăm người tham dự, bị đàn áp hầu hết bỏ cuộc, c̣n lại vài người trước khi tan ră.

Cho đến nay, Trần Dần, Phùng Quán, Phùng Cung, Nguyễn Hữu Đang, Hoàng Cầm, Lê Đạt đều đă mất cả. Chúng tôi đă có dịp gặp và trở nên thân t́nh với ba trong sáu người nói trên là Phùng Quán, Hoàng Cầm và Nguyễn Hữu Đang. Có một điều mà tôi nhận thấy là mỗi khi về thăm lại Hà nội, nơi tôi sinh trưởng, gặp lại họ hàng, người quen, không ai hỏi chúng tôi làm ǵ ở miền Nam cũng như sống ra làm sao ở Mỹ. Chúng tôi cũng không bao giờ có ư nghĩ hỏi họ đă làm ǵ và sống như thế nào trong bốn, năm chục năm qua. Về điều này nhiều người cũng có cùng nhận xét như chúng tôi.

Gặp họ, hàn huyên với họ trong cái t́nh nhân bản, cái t́nh tự của quê hương sẵn có trong mỗi người. Họ không những đọc thơ cho chúng tôi nghe, mà c̣n muốn được ghi âm mang ra hải ngoại. Họ sốt sắng tặng chúng những tác phẩm của họ, tặng cả những bản sao đăng trên báo với những lời kư tặng thật chân t́nh. Sau này họ c̣n nhiều lần trao đổi thư từ với chúng tôi. Họ nhiệt thành nói đến hoài băo của những ngày cuối đời được cầm bút viết lại để bù vào mấy chục năm không được viết. Nguyễn Hữu Đang, Hoàng Cầm đều đang viết hồi kư, không hiểu lúc nào họ viết xong và lúc nào có thể in thành sách được. Riêng Phùng Quán đă khởi viết từ lâu, dưới dạng là một tiểu thuyết trường thiên. Tập truyện đầu “Tuổi Thơ Dữ Dội”, dầy 800 trang, kể lại đoạn đời của một chú bé 13 tuổi làm lính trinh sát cho trung đoàn Trần Cao Vân tại Thừa Thiên trong thời kỳ chống Pháp. Cuốn sách này đă được quay thành phim, dài 155 phút. Chúng tôi tin rằng ba phần kia là những phần quan trọng mà nhiều người muốn biết. Nhưng đă muộn, Phùng Quán đă mất v́ bệnh gan, chỉ cách hai tháng sau đó.

Lịch sử hiện đại của Việt nam là một thiên bi hùng ca, đầy những sự kiện khúc mắc, có thể nói phong phú hơn cả “Cuốn Theo Chiều Gió”, hơn cả “Chiến Tranh và Hoà B́nh”, hơn cả “Bác Sĩ Zhivago”. Nhiều người đă tự hỏi tại sao văn học Việt Nam chưa có được một tác phẩm lớn như thế. Tôi không tin các nhà văn Việt Nam không có khả năng viết về những loại trường thiên. Ngoài mười năm kháng chiến, cuộc di cư vĩ đại 1954 của cả triệu người di cư về miền Nam, cuộc nội chiến hai mươi năm, những địa danh chiến trận không thể quên được như Khe Sanh, Đồng Xoài, B́nh Giả, Cổ Thành Quảng Trị, Hạ Lào, Snoul…

Cuộc triệt thoái từ Cao Nguyên, cuộc vượt biển của gần triệu người mà biết bao nhiêu người đă nằm dưới biển sâu, để bắt đầu cho Việt Nam một kỷ nguyên mới:“Kỷ Nguyên Của Biên Cương Mở Rộng”. Lại c̣n cả những cảnh vượt Trường Sơn, sinh Bắc tử Nam, cảnh Tây tiến, cố chế ngự một khoảng cách an toàn như nhiều triều đại trước đă làm.

Trong những hoàn cảnh đó, đă có biết bao nhiêu mối t́nh dang dở, biết bao nhiêu nỗi buồn đau của người lính sau khi chiến tranh bại trận lâm vào cảnh tù ngục, ngay cả những người thắng trận, thương binh mang nỗi mừng chiến thắng trở về làng quê vẫn sống cuộc đời hẩm hiu, những ngày dài chờ quê hương hưng thịnh. Hăy kể những mối t́nh của vài người trong nhóm Nhân Văn như Phùng Quán đang khi gặp nạn vẫn có một cô giáo dạy Văn tại trường Chu Văn An, Hà Nội, cảm phục nhất định kết hôn, dù cho gia đ́nh cô hết sức ngăn cản. Hoàng Cầm th́ hào hoa, có những người yêu chung thuỷ, có những người t́nh đă mất hay vẫn c̣n ở một phương trời nào đó. Phùng Cung sau 12 năm hoạn nạn Nhân Văn trở về, làm nghề đập đinh kiếm sống với vợ hàng ngày làm bánh rán nuôi con. Trần Dần năm 54, khi hoà b́nh trở lại, t́nh cờ gặp và yêu say đắm một thiếu nữ tiểu tư sản; cô này lại theo đạo Thiên Chúa, nhà ở phố Sinh Từ, đang bơ vơ một ḿnh, v́ bố mẹ di cư vào Nam không kịp đi theo. Dù bị đảng không chấp nhận, Trần Dần vẫn nhất định sống với người yêu, không cần cưới xin, sau đó đă bị vùi dập triền miên. Ngay cả như Nguyễn Hữu Đang, sau 15 năm tù đầy, tưởng không bao giờ trở về được, và sau 20 năm quản thúc ở một miền quê hẻo lánh, vẫn mang theo mối t́nh đầu chung thủy với một tiểu thư Hà thành. Lúc trở về th́ người xưa không c̣n nữa, mà chiếc ṿng ḿnh tặng 40 năm trước đă theo người ấy mang xuống tuyền đài. Có phải chăng đó là những mối t́nh thiên thu? Nếu bộ trường thiên của Phùng Quán c̣n lại biết đâu không phải là một trong những cuốn trường thiên mà mọi người mong muốn.

Dù đă chịu oan nghiệt trong mấy chục năm trời, khi nhắc đến những chuyện đă qua, bây giờ họ cũng đă nhiều phần nguôi đi. Ngay như Phùng Quán, một người cương trực, ḷng ngay thẳng, giọng thơ như vũ băo, một lần đọc xong bài thơ “Đêm Nghi Tàm, Đọc Đỗ Phủ Cho Vợ Nghe” cho chúng tôi nghe, có nói: “Sau này, tôi b́nh tĩnh trở lại, hết giận, mọi chuyện nghĩ cho cùng rồi cũng thế thôi ”.

Khi nhắc đến Nhân Văn, mọi người ở miền Nam hồi đó chỉ biết qua quyển “Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc” của Hoàng Văn Chí xuất bản năm 1959 tại Sài G̣n. Sách dầy trên ba trăm trang, giới thiệu hơn hai mươi tác giả và những tác phẩm của họ. Trong đó Lê Đạt, Nguyễn Hữu Đang không thấy đươc giới thiệu riêng, mà chỉ được nhắc đến trong các chương tổng quát, nên không được sinh viên và học sinh lúc đó như tôi lưu ư. Ngày nay, mọi người có thể t́m thấy một số lớn tài liệu liên quan đến Nhân Văn được lưu trữ trong nhiều mạng lưới.

*

Khi đọc lời công bố giải thưởng cho mấy người trong nhóm Nhân Văn, tôi vẫn tin là có tên Phùng Cung trong đó. Nhưng không, Phùng Cung đă mất, chắc chẳng bao giờ nhận được một giải thưởng như trên và chắc cũng chẳng bao giờ nhận được một lời xin lỗi như những người bạn của ḿnh cùng chịu chung một vấn nạn.

Phùng Cung, chúng tôi không có dịp gặp, nhưng nhiều lần trong lúc tṛ chuyện với Phùng Quán và Nguyễn Hữu Đang, chúng tôi có gửi lời hỏi thăm Phùng Cung và tỏ ư rất thích bài Con Ngựa Già Của Chúa Trịnh. Bài này đă được Hoàng Văn Chí giới thiệu trong cuốn Trăm Hoa Đua Nở. Truyện rất thâm trầm, được nhiều người đọc, b́nh luận và thích thú. Bài văn ngụ ư đả kích những văn nghệ sĩ v́ ham miếng đỉnh chung mà biến đổi đời sống, nhân phẩm và lần hồi hủy hoại hết tài năng trước kia của ḿnh. Cũng như con thiên lư mă vô địch, giúp Chúa trong chiến trận vào sinh ra tử, sau này được Chúa yêu đem vào làm mă lệnh trong cung, suốt ngày được bọn mă phu tắm rửa, hầu hạ cho ăn ngon nên đă trở thành một con ngựa béo tốt mà vô dụng.

Trong truyện Hằng Nga Thức Dậy Phùng Quán kể lại chuyện của Phùng Cung, sau 12 năm tù, được trả tự do, làm nghề đập đinh nuôi vợ con, cố tránh thật xa mùi bút mực. Phùng Quán một ngày đến thăm mang theo mấy con cá vừa câu trộm ở Hồ Tây, t́nh cờ thấy Phùng Cung lại làm thơ: “Đọc thơ anh, chỉ vài câu thôi, tôi bỗng thấy thiên nhiên quanh tôi vụt giàu có lên bất ngờ và trở nên đẹp đến xao xuyến tận đáy ḷng, những vẻ đẹp từ trước đến nay tôi vẫn nh́n mà không thấy.” Năm đó Phùng Quán cho biết, Hội Nhà Văn quyết định trích quỹ tặng sáu hội viên, phần lớn thuộc nhóm Nhân Văn cũ, để in tác phẩm của ḿnh. Nhưng Phùng Cung không ở trong số mấy người đó.

Thương và cảm phục chữ nghĩa trong thơ của bạn, Phùng Quán dự định đi xa nhà một năm đọc thơ rong quyên tiền giúp Phùng Cung in tập thơ. Nguyễn Hữu Đang biết chuyện, ông lấy ra số tiền vẫn dành dụm cho việc hậu sự, đem tặng hết cho Phùng Cung in thơ. Do đó mà tập Xem Đêm được ra đời với 200 bài thơ. Cảm chút t́nh tri ngộ, Phùng Cung có gửi sang tặng chúng tôi một cuốn với lời đề tặng “Rất quư mến tặng hai bạn. Hànội- Bính Tư - Mùa hoa đậu ván”. Sau khi anh mất, chị Kim Thoa vợ anh cũng liên lạc với chúng tôi ít lâu.

Trong bài đề tựa tập thơ có cái tên rất lạ Xem Đêm, Quang Huy, mà tôi cho là một người rất hiểu về thơ Phùng Cung, đă viết:

“Hầu như bài nào cũng lạ. Nhất là cái lạ về ngôn từ và h́nh ảnh. Ta hăy đọc những câu thơ vô cùng xuất sắc sau đây về một bến quê:
Tiếng gọi đ̣ căng chỉ ngang sông.


về thân phận một cánh bèo:
Lênh đênh muôn dặm nước non

Dạt vào ao cạn vẫn c̣n lênh đênh.


về một góc vườn:
Cuối trời trăng mỏi
Trái gấc chín ngập ngừng.


Hay về một con giun đất bỗng trở thành một tác phẩm nghệ thuật dưới ánh trăng:
Bên gốc hoàng tinh, con giun đất mạ vàng


Và kia một màu hoa chuối:
Hoa chuối tiêu lầm lũi tím tam giang.

rồi lắng đâu đó, tiếng tù và rúc lên đầy hồn vía:
Tiếng tù và bết gió.

Đặc biệt anh rất giỏi về mầu. Có tới hàng trăm chữ tả mầu sắc rất mới lạ khiến chúng ta phải bàng hoàng. Ví dụ một mầu nắng: Nắng phơi rơm, nắng ngả tương, nắng bổ cau và cả nắng Âu Cơ nữa. Ví dụ một mầu trời: xanh cánh chấu, xanh rau khúc, và cả khát muốn chết một mảnh trời da bát.

Phùng Cung xứng đáng là một trong những bậc thầy về nghệ thuật ngôn từ. Và không ai c̣n ngây thơ cho rằng ngôn từ chỉ nằm trong lĩnh vực h́nh thức nghệ thuật. Phải nói rằng Phùng Cung đă đẻ ra nó bằng quặn thắt một tấm ḷng, hơn thế nữa bằng ngót một đời người ch́m nổi. Nhưng trải qua bao nhiêu biến đổi của cuộc đời, Phùng Cung lúc nào cũng vẫn trở lại ḿnh, hay nói khác đi, vẫn là ḿnh. Tôi xin mượn một bài thơ rất hay của nhà thơ 65 tuổi đầy tài hoa này để kết thúc bài viết:

Quất măi nước sôi
Trà đau nát bă
Không đổi giọng Tân Cương.


Không phải rót, là pha mà là quất măi nước sôi. Một chữ “quất” nghe khiếp quá.”

Mỗi khi đọc những bài thơ của Phùng Cung, những câu thơ ít chữ trong những bài thơ ngắn gọn, tôi thường liên tưởng đến một văn nhân đă có thời mang chí lớn, nay ngồi đập đinh đơn độc trong một góc nhà kiếm sống, và chắc hẳn những nhát búa nện xuống quyết liệt làm văng những chiếc đinh đă mang bao nhiêu ẩn ức tạo nên những bài thơ rất lạ của anh.

Học sinh, sinh viên miền Nam những năm 50 thường nhớ nhất hai nhà thơ Phùng Quán và Trần Dần. Như câu thơ của Trần Dần trong bài Nhất Định Thắng, được nhắc đi nhắc lại nhiều lần như những điệp khúc:

“ Tôi bước đi
Không thấy phố
Không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa
Trên mầu cờ đỏ”


Trần Dần cũng gặp vấn nạn nặng nề của Nhân Văn, mà c̣n bị trù dập v́ lấy người ḿnh yêu mà đảng không cho phép. Những năm sau này nghe Trần Dần thường hay đau ốm và đôi mắt gần như hỏng và không rơ có viết thêm ǵ hay không. Trần Dần đă mất trước khi được trao giải thưởng và lời xin lỗi nói trên.

Phùng Quán được miền Nam biết qua ba bài thơ Chống Tham Ô Lăng Phí, Viết trên Giấy Có Kẻ Gịng và chắc nhiều người đă thuộc ḷng một số câu thơ trong Lời Mẹ Dặn.

Phùng Quán lúc nào cũng tự cho ḿnh là người lính dự báo về nạn tham nhũng của đất nước qua bài “Chống Tham Ô Lăng Phí” ngay từ những năm mới 22 tuổi. Mấy chục năm sau chính quyền công khai nhận có nạn tham nhũng mà chưa t́m được phương cách giải quyết như thế nào. Báo chí hàng ngày trong nước được phép phanh phui tệ trạng này của các cấp điều hành, và đă có những cuộc biểu t́nh của dân chúng chống lạm quyền áp bức. Phùng Quán đă mất, khỏi phải thấy những dự báo tham nhũng của ḿnh ngày càng trầm trọng, không có thuốc chữa.

Tập Trăm Hoa Đua Nở không nói nhiều về Lê Đạt. Ông có ba tác phẩm được nói đến nhiều là: Bóng Chữ, Ngó LờiHèn Đại Nhân. Theo nhiều nhà phê b́nh văn học, chữ dùng trong tác phẩm của ông có một tầm tri thức cao và mới lạ.

Trong “Trăm Hoa Đua Nở” Hoàng Cầm có một bài thơ Em Bé Lên Sáu Tuổi, rất nhân bản, mà nhẫn tâm của chế độ, kể lại chuyện em bé sáu tuổi đó, bố địa chủ bị đấu tố chết, mẹ trốn vào Nam, bỏ em lại lay lắt thành một đứa bé ăn mày:

Chị bần cố nông cốt cán
Ứa nước mắt quay đi
Nó là con địa chủ
Bé bỏng đă biết ǵ
Hôm cho em bát cháo
Chịu ba ngày hỏi truy
Chị đội bỗng lùi lại
Nh́n đứa bé mồ côi
Cố t́m vết thù nghịch
Chỉ thấy một con người


Mọi người cũng thường nhớ đến tập thơ “Về Kinh Bắc”, hai kịch thơ “Lên Đường” và “Kiều Loan, cô Gái Điên”, hay những ḍng thơ bi hùng trong thời kháng chiến chống Pháp của ông.

- Tiểu đội anh, những ai c̣n ai mất?
- Không ai c̣n ai mất
 

Chỉ chết cả mà thôi!
Người sau kẻ trước lao vào giặc
Giữ vững ngàn thu một giống ṇi…


Chúng tôi có mua một cuốn Tự Điển Việt Nam và đưa cho ba người viết trên trang đầu để kỷ niệm. Phùng Quán viết: “Có những phút ngă ḷng, tôi vịn câu thơ mà đứng dậy”. Nguyễn Hữu Đang viết: “…hôm nay rất vui mừng và sẽ măi nhớ nhau”. C̣n Hoàng Cầm viết tặng một đoạn của một bài thơ trong tập Về Kinh Bắc:

Ta con chim cu về gù dặng tre

Đưa nắng ấu thơ về sân đất trắng

Đưa mây lành những phương trời lạ về tụ nóc cây rơm
Ta ru em lớn lên em đừng t́m Mẹ phía cơn mưa.


Hôm chúng tôi rời Hà Nội, Hoàng Cầm có ra sân ga tiễn chúng tôi và làm tặng con gái tôi bài thơ “Về Quê Mẹ” vào dịp cháu về thăm quê ngoại ở Bắc Ninh:
…………….…..
Đă ổi ương đâu mà bướng bỉnh

Mà nghe đu đủ thiếu thơ ngây

Cây soan lạ nhỉ đương soan thế

Sao vội buồn nghiêng lá rụng đầy

Cây ǵ cũng lạ, hoa không biết

Cỏ cũng không tên, lá dị kỳ

Chỉ thấy trắng mây trời cơi Việt

Mẹ em th́ khóc lúc ra đi
…………..…………
(Tặng cháu Thuấn Anh, khối pha lê màu xanh lá mạ-H.C.)

Trong tang lễ Nguyễn Hữu Đang, bài điếu văn của Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục có sơ lược tiểu sử và đề cao thành tích, nhất là về mặt hoạt động văn hoá, chống nạn thất học, truyền bá quốc ngữ, b́nh dân học vụ cùng soạn thảo sách giáo khoa của cụ. Bài điếu văn cũng ca tụng cụ Đang là “một nhà báo sắc sảo, một người có tài vận động tuyên truyền có ảnh hưởng sâu sắc trong giới trí thức và các tầng lớp trên ở thành thị. Là người am hiểu sâu sắc Tây học và Nho học, nhưng cụ luôn luôn đề cao văn hoá dân tộc, đề cao thuần phong mỹ tục và thực hiện đời sống mới.” Nhưng ông này vẫn thêm một câu phê b́nh là cụ đi sai lạc đường lối.

Vụ án Nhân Văn được coi là một vụ án văn học lớn nhất trong lịch sử Việt Nam, âm ỷ nhức nhối dây dưa tới các thế hệ cầm quyền tiếp nối. Trong thời gian đó, họ đă lặng lẽ đi từng bước chậm răi hồi phục có giới hạn cho những người trong nhóm Nhân Văn bị “trừng trị” của chính quyền trước. Theo lá thư Nguyễn Hữu Đang, người bị trù dập nhất trong nhóm đă gửi thư cho Hoàng Hưng của báo Lao Động, nói về đời sống của ḿnh, th́ Sau cùng th́ nhà cầm quyền đương thời đă can đảm đi thêm một bước nữa, không những bằng vật chất mà bằng cả việc trao giải thưởng văn học nghệ thuật năm 2007 cho những nhà văn nhà thơ trong nhóm Nhân Văn. Điều này đă khiến Đỗ Chu, thành viên của hội đồng văn học đă nói đó là “một lời xin lỗi của anh em với các anh”.

Lịch sử Việt Nam của chúng ta không thiếu ǵ những thi sĩ, văn nhân, anh hùng, hào kiệt, công thần ra công năm 1993 đă được trả lại hưu trí một cách tùy tiện, không c̣n bị gây phiền hà như trước, bồi bút không đả kích, Tết đến có quà mừng tuổi, đă kư hợp đồng viết hồi kư và một số tờ báo sẵn sàng đăng các bài hiền lành.

Năm 1996 trong thư gửi cho chúng tôi, cụ viết đă được cấp căn hộ ba pḥng và hưởng lương hưu Thứ Trưởng v́ cụ biết chúng tôi luôn lưu tâm đến cảnh sống của cụ. Nhưng Nguyễn Hữu Đang nói những điều trên mới đi được một nửa và cụ chắc sẽ chết trước khi được trả lại đầy đủ sự công bằng theo lương tri. Nguyễn Hữu Đang đă mất đúng như lời dự đoán của ḿnh.

Ǵn giữ, mở mang, tô điểm sơn hà được lưu danh muôn thuở. Nhưng lịch sử của chúng ta cũng có biết bao nhiêu thi sĩ, văn nhân, anh hùng, hào hiệt, công thần bị bánh xe lịch sử dập vùi, nghiến nát. Nguyễn Trăi đă giúp Lê Lợi đuổi quân nhà Minh giành lại độc lập, cuối đời bị hàm oan tru di tam tộc. Nguyễn Công Trứ đánh đông dẹp bắc, cũng đă từng bị đầy đi làm lính trơn. Cao Bá Quát bị xử trảm v́ mang tội phản loạn. Chu Văn An dâng sớ chém đầu bẩy gian thần không được, rũ áo từ quan về dạy học. Nguyễn Trường Tộ bị kết tội sàm tấu v́ tâu tŕnh những điều tiến bộ của nước người khi đi sứ về. C̣n biết bao nhiêu thi sĩ văn nhân, anh hùng hào kiệt, công thần vô danh khác xả thân v́ tổ quốc bị những vấn nạn oan uổng mà lịch sử không nhắc đến tên, không được một lời giải oan, không được một sự đền bù.

Những người Nhân Văn không c̣n nữa, Ngọn lửa Nhân Quyền, Tự Do chống tham nhũng mà họ dấy lên chắc đă tức tưởi lịm tắt đi theo họ. Bánh xe lịch sử của cường quyền thường thật nhẫn tâm và vô t́nh!



Nguyễn Công Khanh


 

 

vanhuu08@yahoo.com

 

Trang Văn Hữu

 

 

 

art2all.net