|
VĂN HỮU số
42
Mùa Thu 2018
Bích Hoài
FRANÇOISE SAGAN VÀ NỖI BUỒN

Năm
1954, một cô gái 18 tuổi, Françoise Sagan, xuất hiện trên văn đàn Pháp
quốc với tác phẩm đầu tay Bon-jour Tristesse, gây sóng gió. Tựa đề của
cuốn sách bắt nguồn từ bài thơ của Paul Éluard “À peine défigurée” (Vừa
mới biến dạng), với ḍng chữ đầu tiên “Adieu tristesse/Bonjour tristesse
(Buồn ơi, chào mi).” Một cuốn phim tiếng Anh, phỏng theo cuốn sách, được
phát hành năm 1958 với đạo diễn Otto Preminger.
Câu chuyện như sau: Cô bé Cécile, 17 tuổi, nghỉ hè tại một biệt thự bên
bờ sông Riviera của Pháp cùng với cha là Raymond, một người hấp dẫn,
trần tục, vô luân, tự bào chữa cho ḿnh về tài tán gái với lời trích dẫn
của Oscar Wilde, theo đó th́ tội lỗi chỉ là một sắc màu sặc sỡ, dai dẳng
trong thế giới hiện đại. Cécile nói cô tin rằng cô có thể lấy việc đó
làm căn bản trong đời sống của cô và chấp nhận cái phong cách sống đó
làm mẫu mực. Một trong những lợi thế đối với cô là cha cô không chút
quan tâm đến khả năng hiểu biết nên chẳng cần để ư cô có học hành hay
không. Một lợi thế khác là ông bỏ mặc cho cô rảnh tay lôi cuốn đàn ông.
Ban đầu cô t́m đến những người đàn ông cùng tuổi với cha, nhưng ở biệt
thự kế bên có một chàng trai tuổi đôi mươi, Cyril, mà cô bắt đầu cuộc
t́nh lăng mạn.
Ngày nghỉ hè b́nh thản của bốn người tại Côte d’Azur ở miền Nam nước
Pháp trở nên xáo trộn với sự xuất hiện của Anne do Raymond mời đến. Anne
là một phụ nữ có học thức, trọng nguyên tắc, thông minh, cần mẫn, bạn
của bà vợ cuối cùng của ông. Bà ta tự xem như là mẹ đỡ đầu của Cécile.
Một sự tranh chấp khai triển giữa ba người đàn bà. Anne thắng thế khi
ngủ với Raymond ngày hôm sau và tuyên bố hứa hôn với ông. Elsa bỏ đi.
Anne bắt đầu ảnh hưởng đến Cécile. Bà ta bảo Cécile chấm dứt mối t́nh
với Cyril và trở về với sách vở. Hoảng sợ với mối đe dọa mất đi đời sống
lười biếng, Cécile đặt ra kế hoạch phá cuộc hôn nhân giữa cha và Anne.
Với ư tưởng làm cho Raymond nổi ghen, cô xếp đặt cho Elsa và Cyril cặp
đôi với nhau trong những khoảnh khắc riêng biệt. Raymond không chịu đựng
được sự kết đôi đó nên đi t́m lại Elsa. Nhưng Cécile đă đánh giá sai sự
nhạy cảm của Anne để đi đến kết quả bi thảm. Thấy Raymond và Elsa gặp
nhau khắn khít trong rừng, Anne nổi cơn giận dữ nhảy lên xe và lao xuống
vách đá mà người ta nghi rằng bà tự tử. Sau đó, người ta phát hiện là
Raymond và Elsa chỉ có hôn nhau mà thôi.
Cécile và cha quay về cuộc sống trống rỗng, không hệ thống như trước lúc
Anne đến làm gián đoạn cuộc sống trong mùa hè.
Tựa đề cuốn tiểu thuyết đầu tay của Françoise Sagan nhắc chúng ta nhớ
đến bản nhạc cùng tên của cố nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9:
Buồn Ơi Chào Mi
Buồn ơi ta xin chào mi
Khi người yêu ta đă bỏ ta đi
Buồn ơi ta xin chào mi
Khi t́nh yêu chắp cánh bay đi
Buồn ơi ta đang lẻ loi
Buồn hỡi ta đang đơn côi
Buồn ơi hăy đến với ta
Để quên chuyện t́nh xót xa
Nếu trên đường t́nh ta lẻ loi một ḿnh
Th́ trên đường đời ta có mi buồn ơi! ...
Buồn ơi thế nhân là thế
Sao người yêu vẫn măi say mê
Buồn ơi yêu đương là thế
Sao t́nh ta măi măi đam mê
Người yêu cho ta niềm đau
Buồn hỡi cho ta quên mau
Buồn ơi hăy đến với ta
Để quên chuyện t́nh xót xa.
Về nỗi buồn
Buồn là một cảm xúc được vực dậy trong tâm trí với
nhiều mức độ khác nhau. Chúng ta có những từ như u sầu (melancholy),
trầm uất hay trầm cảm (depression), chấn thương tâm thần (trauma), âu
sầu (sadness), nỗi đau khổ (grief)... Ở một vài quan điểm, có những
nguyên nhân của sự việc mà chúng ta muốn. Chúng ta bị va chạm mạnh bởi
v́ cái đó cho ta ư niệm rằng có những việc chúng ta cần mà không bao giờ
có được. Chúng ta khám phá ra rằng những hành động của chúng ta, sơ khởi
là khóc than, quả thật là do ảnh hưởng của những tác động có nguyên nhân
bên ngoài.
Chúng ta có thể đọc cuốn sách “The Anatomy of Mel-ancholy” (Sự mổ xẻ nỗi
u sầu) của Robert Burton (1621), trong đó ông nói về nguyên nhân, triệu
chứng, dự đoán, và nhiều cách chữa trị. Trong ba phần chính yếu của cuốn
sách với những đoạn và phân đoạn, chúng ta được đưa vào lănh vực triết
học, y học, sử học. Sau khi đọc sách của Burton, chúng ta sẽ chắc chắn
biết ư nghĩa của nỗi buồn.
Chúng ta có thể xem qua nỗi buồn trong chủ nghĩa hiện sinh. Nhưng chúng
ta không nghĩ rằng chủ nghĩa hiện sinh giúp ích ǵ nhiều cho nỗi buồn
của chúng ta.
Rồi chúng ta có thể mong chờ quá nhiều từ cuộc đời. Mọi người cười trong
những quảng cáo trên TV và trên mạng xă hội đến nỗi chúng ta nghĩ rằng
mọi người luôn luôn có hạnh phúc. Nhưng nên nhớ rằng những diễn viên
đang cười, và một nhà đạo diễn đang hét to bảo họ cười trước ống kính
thu h́nh. Chúng ta nhớ câu chuyện Kép Tư Bền của Nguyễn Công Hoan. Trên
sân khấu, anh ta chọc cho khán giả cười mà trong thâm tâm anh ta đang
đau khổ v́ lúc đó cha anh ta đang trút hơi thở cuối cùng ở nhà.
Đức Phật nói cuộc đời là bể khổ và Ngài đưa ra Bát Chính Đạo là phương
cách để giải quyết vấn đề. Nhưng sự giác ngộ đ̣i hỏi chúng ta cởi bỏ
những Chấp thủ trong con người của chúng ta, đặc biệt cái mê chấp trong
cái tôi của chúng ta. Dù thế nào mặc ḷng, Đức Phật đă có một tư tưởng
rất thâm sâu về chủ đề này và đáng được học hỏi về Ngài. Chúng ta nói
vậy không có ư xem thường những tôn giáo khác. Chúng ta đề cập đến Phật
giáo v́ Phật giáo đặt vấn đề ở trước mặt và ở trung tâm suy nghĩ của
chúng ta.
Giải phẫu nỗi u sầu
Người ta không thể không chọn đọc cuốn The Anatomy of Melancholy
của Robert Burton. Đó là một cuốn sách trứ danh xuất bản lần đầu tiên
năm 1621, nhưng tái xuất bản năm lần sau đó có sửa đổi.
Cuốn sách, trên danh nghĩa, là một cuộc giải phẫu, một sự mô tả khái
quát, một cuộc phân tách từng chi tiết, một sự giải tŕnh nỗi u sầu.
Nhưng u sầu là một từ ngữ đại cương, một nỗi ưu phiền thông thường với
nhiều nguyên nhân, triệu chứng, và có thể được chữa trị. Và Burton kiên
định xem xét từng biến tấu của chủ đề. Ông nh́n nhận: “Tôi đă đọc
nhiều sách, nhưng với ít chủ định đi t́m phương pháp tốt. Tôi đă t́nh cờ
t́m thấy nhiều tác giả trong thư viện không mong muốn ǵ nhiều về nghệ
thuật, về trật tự, về kư ức, về phán đoán. Tôi không bao giờ đi du lịch,
ngoại trừ trên bản đồ hay trên bưu ảnh, nơi đó những tư tưởng tự do của
tôi được trải rộng dài ḍng.”
Thật vậy, Burton đă đọc nhiều sách trong thời đại của ông. H́nh như ông
đă trích dẫn từng cuốn vào trong tác phẩm The Anatomy of Melancholy
của ông, từ những tác giả Hy Lạp đến những nhà văn đương thời của ông.
Người ta có thể cho rằng cuốn Anatomy là cuốn sách cuối cùng chứa
đựng toàn bộ kiến thức của nền văn hóa Tây phương, một nỗ lực nhồi nhét
tất cả vào trong một tác phẩm.
Cuốn sách gây ghi nhớ một cách lạ lùng, trong đó gần như là gồm những
lời trích dẫn, những chỉ dụ tham khảo ư kiến của người khác, đan chung
vào nhau như trong một tấm thảm trọn vẹn. Burton kiến tạo những luận cứ
và những giải thích của ông, quy chiếu vào những ǵ người khác nói trước
đây. Ông đứng trên vai của cả một nhân loại thông thái, như là một nét
chấm phá bên trên một quần chúng đông đảo, hữu h́nh.
Ở đây có cả hai, sự điên rồ lẫn phương pháp. Cuốn sách chứa đựng gần như
tất cả những chủ đề: y học, thiên văn, triết lư, văn học và nghệ thuật,
chính trị, vạn vật, cẩn thận xây dựng có ngăn nắp, chia ra từng phần,
từng tiết mục, từng tiểu đoạn. Tất cả các vấn đề được đưa ra và thảo
luận một cách toàn diện, không mệt mỏi. Phong cách viết lạ lùng với
những câu dường như chấm phá ở mọi ngơ ngách, nhưng Burton vững tay giữ
mọi việc trong ṿng kiểm soát một cách thần kỳ.
Phần cuối của cuốn sách dành cho những nỗi đau thương phức tạp và phi
lư: nỗi u sầu trong t́nh yêu và nỗi u sầu trong tôn giáo.
Nỗi u sầu giống như một tấm bạt căng trên khung để cho người ta nhào lộn
trên đó, nhưng chính đó là toàn thể kinh nghiệm của con người, đượm nét
buồn ră rượi. Tất cả chồng chất lên nhau, cô đọng lại trong thực chất
của vấn đề.
Đứng về quan điểm cơ bản của phân tâm học, theo Melanie Klein, một nhà
phân tâm học người Anh gốc Áo, nỗi buồn và đau khổ thoái bộ trở lại
trạng thái đầu tiên, trong đó chúng ta cảm thấy khi chúng ta muốn khóc
mà không khóc được. Đặc biệt là sự nhận thức hành động của chúng ta
không hữu hiệu. Cái ư tưởng đó giải thích cảm giác kiệt quệ và sự biểu
hiện cảm xúc bên ngoài là khóc, nhưng không mạnh mẽ.
Và chúng ta đi đến cái triết lư về hai trạng thái đối nghịch giữa hạnh
phúc và nỗi buồn. Một khi các bạn buồn nên biết rằng nỗi buồn sẽ đi qua.
Không có ǵ thường tồn trong đời. Và hạnh phúc là một trạng thái tâm hồn
cũng sẽ đi qua và nỗi buồn sẽ tiếp bước. Hoặc là trái ngược lại. Điều
quan trọng là ôm lấy cả hai với cùng một nhiệt tâm. Bạn sẽ không biết
hạnh phúc được cảm nhận như thế nào nếu bạn không kinh nghiệm nỗi buồn.
Cả hai trạng thái đó hỗ tương phụ thuộc vào nhau.
Hạnh phúc và nỗi buồn là một mô h́nh nhận thức, cả hai đều là phản ứng
của chúng ta về những việc xảy ra quanh ta. Xă hội và lương tâm của
chính chúng ta đă định ra những thông số làm cho chúng ta hạnh phúc hay
buồn rầu. Nhưng có những ngoại lệ, đôi khi chúng ta bị hại, đôi khi
không. Thành thực mà nói, có hạnh phúc hay cảm thấy buồn rầu là một cái
ǵ rất thông thường và cần thiết để chúng ta lớn lên. Nếu bạn hạnh phúc
hay buồn rầu một cách thản nhiên, bạn có lợi nhiều hơn trong bất cứ t́nh
huống nào bạn lâm vào.
Hạnh phúc là do chúng ta tạo ra, trong khi nỗi buồn là do người khác đem
đến. Rốt cuộc rồi một ngày nào đó người ta đầu độc những kẻ lâm vào cảnh
buồn rầu. Và đó là điều chúng ta thấy trong một tác phẩm khác của
Françoise Sagan được xuất bản năm 1969 khi cô ở tuổi 34. Cuốn sách này
được chuyển thể thành phim năm1971, do J. Deray đạo diễn với kịch bản
của chính tác giả.
Một chút ánh mặt trời trong nước lạnh
Đây là cuốn tiểu thuyết thứ tám của Françoise Sagan xuất bản, như trên
đă nói, năm 1969 khi cô 34 tuổi. Cuốn sách được chuyển thể thành phim
năm 1971 do J. Deray làm đạo diễn theo kịch bản của chính Sagan. Cô theo
truyền thống lấy tựa đề ngộ nghĩnh của thi ca (ở đây là của Paul Éluard)
minh họa một cách tuyệt hảo lời đề xuất (chịu đựng khổ đau) của cuốn
sách dẫn đến đề tài trầm cảm. Năm 1957, trong một tai nạn xe hơi, cô
phải lệ thuộc vào việc tiêm một loại thuốc phó sản của morphine. Nhân
vật chính trong truyện là một người đàn ông. Trong một cuộc phỏng vấn
của Jacques Chancel, cô cho biết về cuốn sách là cô muốn kể lại câu
chuyện một người đàn ông bất hạnh chạm trán với một phụ nữ, người
giúp anh lấy lại niềm vui của cuộc sống. Nhưng cuối cùng, anh ta không
muốn sống, rời bỏ nàng, từ bỏ mối t́nh của hai người. Đây là một sự nối
tiếp chủ đề của các tiểu thuyết trước trong đó cô thích khám phá sự sai
lầm trong đam mê t́nh ái, nhất là sự cô đơn, những yếu tính đôi khi xé
nát con tim.
Chân dung của một người mất ảo
tưởng
Từ một thế hệ mất phương hướng và giữa đám những người hiện đại trong
văn chương sau các cuộc chiến tranh thế giới, đầy dẫy những nhân vật
phản diện, nạn nhân của một thế giới phi lư, trải dài từ cuốn Kẻ xa
lạ của Camus (1942) đến nỗi đau hiện sinh do Sartre mô tả. Nhân vật
phản diện của Françoise Sagan (Gilles, một kư giả đẹp trai dân Paris,
tuổi 30 ) sống ở Paris, một người khá giả trong những năm cuối của thập
niên 60, thời kỳ vinh quang của những chàng trai loạt tuổi tam thập nhi
lập, nhưng cũng là thời kỳ của chiến tranh lạnh, của cuộc chiến Algérie
ở Bắc Phi chấm dứt vào năm 1962. Sagan không t́m cách phê b́nh chính trị
về thời đại của cô mà đặt trọng tâm vào việc phân tích tâm lư, điều mà
các nhà phê b́nh – phần lớn là thuộc nam giới – chê trách một cách ngớ
ngẩn những tiểu thuyết gọi là của nữ giới.
Dù sao người ta cũng vui thích v́ nhân vật của cô là một “biên tập viên
chính trị” giữ mục ngoại giao mà dường như chẳng quan tâm đến việc ǵ
hết, chẳng bàn luận đến những việc xảy ra trên thế giới. Nói chung, anh
ta là con người phiến diện, tự chui rúc vào bên trong của chính ḿnh,
đầu óc vỡ toang. Có lẽ phải diễn dịch cái vô cảm của anh ta về mọi việc
xảy ra như là một sự chối bỏ tham vọng nghề nghiệp, một chủ đề mà Sagan
ưa thích trong các tác phẩm của cô. Sagan vẽ ra “một thế giới đầy những
biến cố đẫm máu, phi lư, đánh thức nơi các đồng nghiệp của anh ta một sự
ghê tởm rợn người.”
Về đề mục này, người ta dễ dàng thấy ở anh một thanh niên báo hiệu sự
mất ảo vọng nở rộ vào đầu những năm 2000. Hơn nữa anh ta chia sẻ về phần
anh khía cạnh gàn dở, không kiên định, hứng thú với ban đêm, một con
người mê ảo của ngày nay, không thực sự “đau nỗi đau của thế kỷ,” cái u
sầu đó, cái u uất lăng mạn cao quư theo kiểu của thi sĩ Baudelaire, mà
chỉ đơn giản là một sự thiếu thèm muốn phổ quát và bất ngờ ngoài cái cảm
giác chôn ḿnh dưới chăn giường và không làm ǵ hết.
Cái điều làm cho người ta ngỡ ngàng là anh ta không giải thích sự suy
sụp bất ngờ, không có nguyên nhân rơ ràng đó. Thực vậy, trên giấy tờ,
anh ta có tất cả những ǵ để sung sướng như anh ta đă tự phân tích lấy
ḿnh (thể chất tốt, nghề nghiệp thích thú, thành công mọi mặt).
Vô ưu, hời hợt và phóng đăng, anh ta không nhận thức tội lỗi kết bạn với
một cô gái giống như tượng giả mặc y phục quảng cáo ở cửa hiệu buôn bán
lớn, Eloïse, mà anh ta chỉ cảm thấy một sự thu hút mơ hồ, chẳng thiết ǵ
đến sự hấp dẫn thể xác của người phụ nữ thực sự nhỏ nhắn xinh xinh.
Những sự sai lầm xuất hiện giống như ở tất cả những nhân vật của Sagan.
Gilles không thực sự cảm nhận vị trí của anh ta trong vũ trụ nghề nghiệp
của anh ta và chia sẻ thái độ thù nghịch vô cảm về tham vọng như đă nói
ở trên. Người ta t́m thấy đó đây lời văn thường lệ của những văn sĩ
chống lại tham vọng nghề nghiệp, xem như là “bẩn thỉu.” Anh ta nói: “Dường
như anh ta trải qua cuộc sống rong ruổi dưới ánh mặt trời, làm t́nh với
Nathalie vào buổi trưa và mơ màng vào buổi chiều. Ư tưởng trong hai
tháng nữa anh ta sẽ là biên tập viên chính trị, ngập tràn công việc,
tiếc rẻ thời gian hiện tại, và cùng thời gian này anh ta trải qua cơn
gió lốc xám xịt của Paris, đối với anh chính xác là phi lư.”
Anh thích niềm khoái cảm của cuộc sống hơn là công việc, đặc biệt là
những ly huưt-ki với đám bạn bè nghiện rượu trần tục trong những câu lạc
bộ ở thủ đô, một chủ đề khác tái diễn mang tính cách Sagan.
Tác giả phác họa một cách chính xác chân dung của một chàng trai tuổi ba
mươi, hư hỏng, không ảo mộng, trầm cảm.
Sự trầm cảm: một căn bệnh “không
màu sắc” tạo nên bực bội
Nhân vật của Sagan nói:
“Tôi chẳng thiết ǵ hết, thế thôi. Đó là một căn bệnh thời thượng, có
phải không?”
“Tôi không muốn hiện hữu. Bạn có biết những thuốc bổ sinh tố nào dùng
chữa trị chứng đó không?”
Từ ngữ “trầm uất hay trầm cảm” (depression) dùng ở bệnh viện c̣n là điều
cấm kỵ chăng? Thông thường từ ngữ này được tránh, ngoại trừ nó được
Eloïse và bác sĩ dùng đến. Các nhân vật khác thích dùng từ thay thế ít
bi thảm hơn như những chữ “các vấn đề nhỏ nhặt của tôi,” “không được
ổn,” “mất sự thèm muốn,” “sống không tốt ,” “bệnh đời sống,” “đau vặt,”
“chán nản,” “không vững tâm.”
Trạng thái trầm cảm được thấy trên báo chí nhưng đó gần như một tính
thất thường hơn là một căn bệnh.
Trong những năm 50/60 khi các loại thuốc chống trầm cảm xuất hiện, ngôn
từ y học “trầm cảm” được dùng phổ quát.
Sagan nắm lấy những cách nói ḷng ṿng của căn bệnh ác tính, “không màu
sắc” và “không định danh được” đó, không hiểu sao lấn chiếm vào con
người... Cô mô tả sự lo âu, nỗi cô đơn, cái cảm giác chơi vơi, t́nh
trạng yếu kém tinh thần và sự giận dữ theo sau bệnh trầm cảm bằng câu
nói: “Cuộc đời lẩn trốn khỏi anh ta như biển cả bất ngờ lui bước bỏ
lại ghềnh đá mà nó đă mơn trớn từ quá lâu.”
Nhưng cái cảm giác lạ lùng nhận thức trong thâm tâm cũng được nói: “Và
anh ta nghĩ đến cái tôi với sự pha trộn hy vọng và sợ hăi như nghĩ đến
một kẻ xa lạ có khả năng hành động thay cho anh.”
Về sự bất công, cô nói: “Nhưng sau cùng cái ǵ đến với anh ta. V́ cái
ǵ người ta trừng phạt anh ta? Và ai?...
Tại sao anh ta nhận cuộc sống của anh trong đầu,
giống như một vũ khí phản hồi (giống như một boomerang của người Úc ném
ra bay tới đích rồi quay về chỗ người ném).
Về sự bất lực hoàn toàn làm anh ta sợ hăi: “Ai là
người duy nhất cô đơn hơn lấn chiếm sự vui mừng, niềm hạnh phúc, tính
yếm thế dịu dàng xâm nhập vào anh một cách tự nhiên bằng bản năng – và
biến mất khỏi anh ngay tức khắc, tại Paris, trong năm ân sủng 1967?”
Sagan, với sự nhạy bén, nắm lấy những cảm giác đa dạng lần lượt thay
nhau lấn chiếm anh khi anh càng lúc càng sa lầy trong trạng thái trầm
uất. Cô nói: “Một người lương thiện không có quyền đau cái đau trong
thân xác của ḿnh” hay “người ta cuối cùng rồi một ngày nào đó đầu độc
những kẻ âu sầu.”
Sagan nghĩ đến một giải pháp chữa trị căn bệnh trầm uất bằng cách cho
nhân vật đi về tỉnh lẻ, nơi cư ngụ của chị anh ở Limoges trong tỉnh
Limousin. Anh so sánh cuộc sống vàng son ở Paris điên rồ hơn và cuộc
sống ở tỉnh lẻ khôn ngoan hơn. Nhưng anh thấy ở đây có một cái ǵ thở ra
hơi hướng của tiền bạc gợi lên cái giàu có của tỉnh lẻ được phối trí tài
t́nh như trong một ban nhạc. Với tư cách là một nhà báo và một người dân
Paris, anh được tham dự những hội hè xa xỉ hơn và điên loạn hơn do những
người bị phá sản tổ chức. Anh cảm thấy anh ưu việt hơn một chút. Anh chỉ
yêu đồng tiền bị xài phí. Câu hỏi là thiên nhiên có thể chữa trị chứng
bệnh trầm uất của đời sống không? Sagan định nghĩa hạnh phúc như là một
thứ “trống rỗng trong nội tâm,” khi trí năo nghỉ ngơi không làm việc:
nhân vật Gilles không nghĩ đến việc ǵ cả và anh ta biết sự thiếu vắng
của tư tưởng được gọi là hạnh phúc.
T́nh yêu, phương thuốc và độc dược
Ở bên kia cánh đồng cỏ là sự gặp gỡ Nathalie, người đẹp bí ẩn được mệnh
danh là “nữ hoàng của thị xă,” một người đẹp tóc màu hung và mắt màu
xanh lá, vợ của một quan ṭa trong tỉnh, dựng đứng anh lên. Tuy nhiên,
một cuốn tiểu thuyết của Sagan không được viết mà không có một mối t́nh
bi thảm chực chờ, nơi đó t́nh yêu, hạnh phúc chỉ kéo dài trong một thời
gian ngắn ngủi. Ngoài những tṛ ve văn cổ điển, họ gặp nhau qua một ít
lời nói và Nathalie rơi vào tay anh, lạ lùng và sảng khoái: “Nhưng
sau cùng tṛ chơi không xảy ra như vậy, người ta không gượng lại được
với tất cả những cảm xúc trong tay của một kẻ vô danh!”
Nàng hiến dâng cho anh, không chống chọi được, như là bị bùa mê mặc dầu
chỉ mới trao đổi với nhau vài câu. Sagan không thêm chi tiết mà chỉ dựng
lên sự mơ hồ trong tâm lư của hai nhân vật: “Nàng là một phụ nữ mà sự
yếu đuối lại mănh liệt đến nỗi cảm thấy không chống cự được.”
Cuộc t́nh chớp nhoáng diễn ra theo kiểu Bà Bovary trong truyện của
Gustave Flaubert. Một phụ nữ phú hào lấy chồng ở tỉnh lẻ, không lấy ǵ
tươi đẹp cho lắm, cuộc đời đơn giản nhưng cùng lúc lại phức tạp, đơn
giản v́ chẳng có ǵ ngoài sự tầm thường, phức tạp v́ phải lặng câm không
nói được một tính từ đặc biệt hay không thay thế một câu nói này bằng
một câu nói khác. Cuộc sống yên lặng, hạnh phúc, nhưng xé ḷng. Mối quan
hệ ngay từ đầu được đặt dưới dấu ấn của định mệnh. Sự giao tiếp trước
hết rất vật chất giữa hai nhân vật. Đó là dục t́nh, không phải là t́nh
yêu. Họ nếm mùi nhau, khám phá nhau với tất cả sự bạo lực âm ỉ, một
trạng thái căng thẳng, đa t́nh, hung hăng, trao đổi trong đồng lơa.
Người ta cảm nhận sự phát sốt nguy hiểm trong đam mê của Nathalie qua sự
lo lắng làm cho Gilles được hạnh phúc. Có sự bất tương đồng trong cuộc
t́nh và chính Nathalie sẽ mất mát trong câu chuyện này.
Có lẽ Gilles tạo kích thích hơn ông chồng quan ṭa chân chất nhưng ích
kỷ, ít chín chắn và kém trang bị để làm cho vợ được hạnh phúc.
Sau thời gian yêu nhau vô lo ở đồng quê, cả hai chạm thực tế. Tại Paris,
cặp t́nh nhân hiểu biết nhau hơn và khám phá ra sự khác biệt giữa một
Nathalie thông minh, trí thức hơn và một Gilles hoan lạc, hời hợt. Sagan
nắm bắt được sự bất ḥa tiềm tàng, những toan tính giảng ḥa, tiến tŕnh
hủy hoại mối liên hệ đến cái điểm chia tay nhau v́ có một cái ǵ găy đổ
giữa hai người.
Mặc dầu có sự thích nghi của Nathalie trong đời sống ở Paris với lũ bạn
bè của Gilles, những người sống về đêm, những con vạc ăn đêm, suy đồi,
chẳng ra ǵ cả, Gilles lại tự tạo cho ḿnh sự thù hiềm và ghen tức.
Sagan phơi bày ra cái nghịch lư trong tâm trí của phái nam ở cái thời kỳ
mà một phụ nữ phải kín đáo và phục tùng.
Bên ngoài câu chuyện của một đam mê t́nh ái bi thảm, Sagan đặt vấn đề về
vai tṛ của mỗi giới trong vấn đề t́nh dục và vị trí của họ trong xă
hội, phơi bày cái nghịch lư và sự mâu thuẫn trong tư tưởng, ngay cả sự
bực bội của đàn ông trước những phụ nữ khẳng định lấy ḿnh một cách hơi
quá đáng, nhưng cũng lật mặt trái ḷng ích kỷ của bọn đàn ông.
Tiểu sử của Françoise Sagan
Françoise Sagan (21/6/1935-24/9/2004), tên thật là Françoise Quoirez, là
một nhà biên kịch, tiểu thuyết gia, và một nhà văn viết chuyện phim. Bà
được François Mauriac xưng tụng trên trang đầu của báo Le Figaro là một
quái vật nhỏ nhắn, duyên dáng. Sagan được biết đến với những tác phẩm có
chủ đề lăng mạn mạnh bạo để hết tâm trí vào những nhân vật thuộc từng
lớp giai cấp tư sản giàu có và vỡ mộng. Tiểu thuyết được biết nhiều đến
của bà la Bonjour Tristesse (1954) mà bà trước tác khi c̣n ở tuổi
thiếu nữ dưới đôi mươi.
Sagan được sinh ra ở Cajarc (Lot), thời thơ ấu sống ở khu hành chính Lot
của Pháp. Trong thời Đệ Nhị Thế Chiến, bà sống ở Dauphiné (Vercors). Tổ
mẫu bên nội của bà là người Nga, quê ở Saint Petersburg. Sagan bị đuổi
khỏi nữ tu viện trong năm học đầu tiên v́ không có tinh thần ngoan đạo.
Bà đậu Tú tài và theo học ở trường đại học Sorbonne nhưng không tốt
nghiệp. Bà chủ tâm viết theo phong cách tiểu thuyết tâm lư.
Bà đă hai lần kết hôn. Lần thứ nhất, năm 1958, với Guy Schoeller, chủ
bút của nhà xuất bản Hachette. Sau khi ly dị năm 1960, bà kết hôn với
Bob Westhof, một người Mỹ trẻ tuổi, và có một vài mối t́nh với những
người khác.
Thích du lịch ở Hoa Kỳ, bà thường giao thiệp với nhà văn Truman Capote
và nữ tài tử Ava Gardner. Ngày 14/4/1957, bà bị tai nạn trong khi lái xe
và bị hôn mê trong một thời gian.
Trong thập niên 1990, bà bị bắt v́ sở hữu loại ma túy cocaine.
Trong những năm 2000, sức khỏe của bà yếu kém. Năm 2002, bà không đủ sức
để ra hầu ṭa về tội trốn thuế trong một vụ có liên can đến cựu tổng
thống Jacques Chi-rac. Bà mất đi năm 2004, ở tuổi 69. Nước Pháp mất một
trong những nhà văn sáng chói và nhạy cảm nhất.
Bích Hoài
vanhuu08@yahoo.com
Trang Văn Hữu |