|
VĂN HỮU số
42
Mùa Thu 2018
Trịnh B́nh An
TƯỞNG NIỆM NỮ SĨ
VI KHUÊ-
TRẦN TRINH THUẬN (
1931 - 2018 )

Nhà thơ Vũ Hoàng Chương từng nhận định về nữ sĩ Vi
Khuê:
"Vi Khuê đă v́ cuộc chiến âm thầm trong mỗi con người thế gian mà sa
giọt lệ. Niềm băn khoăn in vào thơ như vết dao chém trên đá, như mũi kim
xuyên thủng địa cầu..."
Vi Khuê từng có một bài thơ, tựa "Sục Sôi",
Sục sôi thế giới ngày nay
Thôi đừng đứng đó trông ngày tưởng đêm
Thấy con sông tưởng chiếc thuyền
Thấy hoa mướp dại tưởng miền quê xa
Sục sôi thế giới ngoài kia
Thôi đừng đứng gơ mộ bia hát xàm
Trăm năm một giấc kê vàng
Mà đau đến cả hai hàng mộ bia
Sục sôi thế giới trong nhà
Thôi đừng đứng nhớ mẹ cha oặn oài
Nhớ em chết biển mười hai
Nhớ anh chết trận năm dài mấy năm
Sục sôi thế giới ầm ầm
Thôi đừng đứng đó đẽo vần gọt thơ
Có đau ôm mặt khóc oà
Có thương th́ giăi trăng tà tấm thương
Giờ đây, khi chúng ta ngậm ngùi với câu thơ "Trăm năm một giấc kê
vàng" th́ chúng ta cũng cùng chia xẻ với gia đ́nh nữ sĩ nỗi đau
thiên thu chia ĺa, "Mà đau đến cả hai hàng mộ bia" – Nữ sĩ Vi
Khuê đă vĩnh viễn xa rời nhân thế, ngày 25 tháng 9 năm 2018.
Nhà văn Hồ Trường An trong tác phẩm "Giai Thoại Văn Chương", đă có
chương đặc biệt viết về nữ sĩ Vi Khuê , có tựa "THEO CHÂN NỮ SĨ VI KHUÊ
ĐI TRÊN LỚP SÓNG PHẾ HƯNG CỦA VĂN CHƯƠNG HẢI NGOẠI" đă viết một số đoạn
như sau:
Bắt đầu từ năm 1985, văn đàn Việt Nam ở hải ngoại mới được phái đẹp
tham gia tích cực và đóng góp nhiều văn phẩm, thi phẩm có giá trị. Những
năm trước đó, từ năm 1975 cho tới 1981, văn đàn vốn quạnh quẽ tiêu điều.
Các cây bút phái mạnh đă từng vang danh nổi tiếng trong nước nhưng khi
ra hải ngoại ở bước đầu định cư v́ phải lo vấn đề cơm áo nên họ ngại cầm
bút, huống hồ là bậc nữ lưu phải vừa kiếm sống vừa lo việc nội trợ tề
gia.
Vào tháng 7 năm 1982, tạp chí Văn do Mai Thảo chủ trương đă sáng thêm
hào quang nhờ hai chị Tuệ Nga và Vi Khuê. Đó là hai nhà thơ nữ mà trước
năm 1975 đă từng đóng góp cho thi đàn miền Nam mỗi người một pho phương
cảo sáng giá qua hai tập thơ: “Suối” của Tuệ Nga và “Giọt Lệ” của Vi
Khuê.
Riêng về chị Vi Khuê, theo tôi được biết, vào thời điểm trước 1975, chị
quá bận rộn chức vụ hiệu trưởng trường Trung Học Tư Thục Đệ Nhị Cấp Văn
Khoa tại Đà Lạt, sau khi đă rời khỏi ngành Thông Tin Văn Hóa của chính
phủ Việt Nam Cộng Ḥa với 20 năm công vụ thâm niên. Đó có nghĩa là,
trong chặng đường thanh xuân của Vi Khuê, chị đă luôn luôn bận rộn với
công việc mưu sinh xây dựng trên hai ngành văn hóa và giáo dục. Cho nên
dù muốn dù không, chị không thể đem hết tâm cơ dấn thân vào cuộc bút
tŕnh để tạo dựng sự nghiệp văn chương cho ḿnh.
Nhưng chính văn chương mới là địa hạt thích hợp với khả năng, sở trường
và hoài băo của Vi Khuê. Có thể nói, kể từ năm 1980, độc giả người
Việt hải ngoại đă được chứng kiến lâu đài văn chương của Vi Khuê nếu
không nguy nga th́ cũng rất đỗi tráng lệ.
Khi định cư ở Virginia, từ năm 1975 nữ sĩ Vi Khuê cùng phu quân là giáo
sư Chử Bá Anh, đă bắt tay ngay vào công cuộc làm văn hóa: cả hai làm
báo, tổ chức trường dạy tiếng Việt cho trẻ em Việt Nam, đặt ra giải
thưởng Nguyễn Du dành cho cuộc thi về thơ. C̣n riêng Vi Khuê, chị tiếp
tục làm thơ, viết truyện ngắn, viết khảo luận, dùng làn sóng điện của
Đài Phát Thanh Mỹ tại Hoa-Thịnh-Đốn để nói lên Tiếng Nói của Cộng Đồng
Việt Nam đầu tiên vừa hội nhập quê hương mới... Nhờ có giải thưởng thơ
Nguyễn Du mà một ngôi sao thi ca nữ giới của tiểu bang California đă
sáng chói trên nền trời thơ. Đó là nữ sĩ Trần Mộng Tú.
Tôi - ở đây là Hồ Trường An - được quen biết nữ sĩ Vi Khuê vào khoảng
năm 1984. Thư từ và điện thoại viễn liên trao đổi cho tới năm 1987, tôi
mới được diện kiến chị Vi Khuê trong dịp chị cùng nhà báo Chử Bá Anh
sang viếng Kinh Đô Ánh Sáng Paris. Trong bữa tiệc do nhà biên khảo Thụy
Khuê khoản đăi, chị Vi Khuê mặc y phục bằng lụa mỏng nhẹ màu đen rất hợp
với mái tóc uốn khá cao phô chiếc gáy trắng ngần, hợp với đôi bàn tay
tháp bút mềm mại và nơn nà. Nhưng màu đen không làm cho chị có vẻ buồn
bă đâu. Nữ trang nạm kim cương thanh nhă, phấn xoa mặt màu hồng đào phơn
phớt, son tô môi màu hồng ngọc sáng bóng làm chị có vẻ mệnh phụ đài
trang.
Nữ sĩ Vi Khuê – nhũ danh Trần Trinh Thuận. Chánh Quán Thừa Thiên – Huế.
Trước năm 1975, từng là xướng ngôn viên, biên tập viên, diễn viên thoại
kịch Đài Phát Thanh Huế và Đà Lạt. Sau đó là Hiệu Trưởng Trường Trung
Học Tư Thục Đệ Nhị Cấp Văn Khoa tại Đà Lạt.
Các tác phẩm cá nhân đă xuất bản (thơ và truyện ngắn):
1. Thơ: Giọt Lệ / Cát Vàng / Tặng Phẩm T́nh Yêu / Hoa Bướm Vườn Thơ Tôi
/ Thơ Trong Mưa Và Hoa
2. Văn: Ngựa Hồng Trên Đồi Cỏ / Những Ngày ở Virginia / Vẫn Chờ Xe Thổ
Mộ
3. Sách dạy tiếng Việt:
- Căn Bản Tiếng Việt (1978), Tập nói và viết tiếng Việt (1979).
- Băng học tiếng Việt "Teach Me Vietnamese" (2000)
* Có tên trong Tự Điển Các Nhân Vật Quốc Tế ấn hành
tại Anh Quốc (Dictionary of International Biography).
* Có tên trong Tự Điển Tiểu Sử Văn Học về các tác giả, ấn hành tại Hoa
Kỳ (American Biographycal Institute).
* Được vinh danh trong danh sách Hai Ngàn Phụ Nữ Hoa Kỳ Nổi Bật năm 1994
- 2000 Notable American Women (1994).
HỒ TRƯỜNG AN: Xin chị cho biết quan niệm về vai tṛ sáng tác của
ḿnh? Giúp độc giả giải trí, giáo dục đạo đức, cải tạo xă hội, (dấn
thân) hay phụng sự nghệ thuật thuần túy?
VI KHUÊ: Phải, chúng ta hăy trở lại với vấn đề văn nghệ phụng sự
nghệ thuật, phụng sự nhân sinh: Tôi viết, trước hết v́ ḿnh, để tự giải
tỏa những ẩn ức, suy tư, đớn đau, khắc khoải. Nhưng suy tư, khắc khoải
ấy là từ xă hội trong đó tôi đang sống, hay v́ quê hương như một mối
ràng buộc không thể dứt rời.
***
Thơ của Vi Khuê có nhiều thể loại: thơ lục bát, thơ thất ngôn bát cú,
thơ tứ tuyệt, thơ tám chữ, thơ tự do, hoặc thơ lục bát mà từng cặp được
xắn từng mảnh rời và khi đọc qua chúng ta tưởng đâu là thơ tự do. Đề tài
trong thi ca của Vi Khuê rất phong phú: tâm linh, tôn giáo, tâm t́nh,
hiện t́nh đất nước, nỗi buồn lưu vong, v.v.
Bạn đọc hẳn từng nghe bài thơ Hồ Trường của Nguyễn Bá Trác?
Và có biết nữ sĩ Vi Khuê đă có một bài thơ, mang tên Biệt Ca?
Đoạn cuối bài Hồ Trường được viết như sau:
Hồ trường! Hồ trường!
Ta biết rót về đâu?
Rót về Đông phương, nước biển Đông chẳy xiết sinh cuồng loạn
Rót về Tây phương, mưa phương Tây từng trận chứa chan
Rót về Bắc Phương, ngọn Bắc phong vi vút cát chạy
đá giương
Rót về Nam phương, trời Nam mù mịt có người quá chén
như điên như cuồng
Nào ai tỉnh, nào ai say
Ḷng ta ta biết, chí ta ta hay
Nam nhi sự nghiệp ư hồ thỉ
Hà tất cùng sầu đối cỏ cây
Theo cảm nghĩ riêng của người viết, Biệt Ca của Vi Khuê chính là
bài thơ họa lại bài Hồ Trường của Nguyễn Bá Trác.
Biệt Ca
Vi Khuê (1991)
Ta tưởng Ngươi / đi về phương Đông
Ta rót cho Ngươi / chén rượu hồng
Rượu sẽ mềm môi / Ngươi sẽ khóc
Ta cười, Ngươi / có hiểu ǵ không?
Ta tưởng Ngươi / đi về phương Tây
Ta rót cho Ngươi / chén rượu đầy
Rượu sẽ làm cay / đôi mắt ướt
Ta nh́n, lệ rớt / giữa ḷng tay
Ta tưởng Ngươi / đi về phương Nam
Ta rót cho Ngươi / chén rượu tràn
Rượu sẽ làm hoen / thân áo bạc
Ngươi về./ Khật khưỡng bóng trăng tan
Ta tưởng Ngươi / đi về phương Bắc
Ta rót cho Ngươi / chén rượu ngọc
Rượu sẽ v́ ta / nói với Ngươi:
Vĩnh biệt. / Đừng quay nh́n ngơ trúc!
Ta tiễn Ngươi. Ồ / Ta tiễn Ngươi
Rừng phong không gió / trời không mây
Hoa đâu, để /ngát thơm vườn ngự
Ta tiễn Ngươi mà / Ta tiễn Ngươi!
Qua Biệt Ca, phải chăng nữ sĩ Vi Khuê đă xúc động với nỗi ḷng
của đấng nam nhi, tuy khắc khoải ưu tư nhưng chẳng muốn bày tỏ ra ngoài.
C̣n nữ sĩ, khi cùng chia sẻ tâm tư của người anh hùng, tuy trong ḷng
cũng đớn đau không kém nhưng phải cố ḱm nén bi thương. Người viết nên
những gịng thơ như Biệt Ca chắc hẳn phải có được một tâm hồn rất
vững chăi?
Trong văn, Vi Khuê cũng thể hiện một cái nh́n hồn hậu, lạc quan về cuộc
sống. Điển h́nh như trong truyện ngắn Tái Ngộ Đầu Xuân. Truyện kể
về một người đàn ông đem ḷng thương yêu một thiếu nữ trẻ tuổi hơn
nhiều. Nhưng nàng buộc phải nhận lấy một người ở bên Mỹ dù không yêu
thương. Rồi sau nhiều năm, người đàn ông được biết người con gái đă có
một cuộc hôn nhân có thể gọi là khá hạnh phúc. Người đàn ông không t́m
gặp lại cố nhân. Ông ra đi, nhưng nhủ thầm với chính ḿnh như đang nói
với người yêu:
"Anh thực sự mừng cho Em. Anh phải biết điều chứ. Vả chăng, Anh
thương Em tự thuở nào, vẫn bằng t́nh thương của một người Anh bên cạnh
t́nh yêu của một người t́nh. Anh đă chẳng làm ǵ được cho Em trong dĩ
văng, th́ nay Anh phải mừng cho Em chứ. Người ta thường nói cuộc đời này
bi thảm, đúng vậy. Nhưng riêng đối với Em th́ nó mang ư nghĩa lột xác,
một hóa thân. Anh mừng cho Em, không phải chỉ v́ Em đang sống trong
nhung gấm; mà c̣n v́ Anh đă thấy, qua ánh mắt bao giờ cũng lấp lánh ánh
thông minh của Em, rằng chính Em đă chấp nhận hạnh phúc này. Ngày xưa
không phải là Em đă có lần nói với Anh rằng: “Có những hạnh phúc
không được chấp nhận”.
"Có những hạnh phúc không được chấp nhận" – Đây có lẽ là một lời
nhắn nhủ thân ái của nữ sĩ Vi Khuê tới mọi người chúng ta? Chúng ta được
hưởng biết bao nhiêu niềm hạnh phúc, hăy tận hưởng, nhưng cũng hăy… cảm
tạ, v́ biết đâu thân phận con người luôn luôn được nâng đỡ bởi T́nh Yêu
thiêng liêng của Đấng Tối Cao, như tâm t́nh của Vi Khuê trong bài thơ "Noel
84" với những câu:
Phận người
Chúa vác trên vai
trong hang đá lạnh
đă dài
tiếng chuông
Giáo sư Chử Bá Anh và nữ sĩ Vi Khuê đă ra đi, nhưng những ǵ hai vị đă
dày công thực hiện suốt nhiều năm cho văn hóa, cho giáo dục Việt Nam -
từ trong nước ra đến hải ngoại - sẽ c̣n măi như ngôi sao Khuê luôn chiếu
rạng trên bầu trời bao la.
Trịnh B́nh An
vanhuu08@yahoo.com
Trang Văn Hữu |