|
VĂN HỮU số
44
Mùa
Xuân 2019
~~oOo~~
Lê Đức Luận
SỐ Ở NHÀ CÔNG THỰ

Hai Búng vào nhà dưỡng lăo
hơn bốn tháng nay, thường xuyên gọi điện thoại cho tôi - cà kê đủ thứ
chuyện ở viện dưỡng lăo và bao giờ cũng kết thúc bằng một câu rất thuyết
phục: “ Mầy lên xem cơ ngơi mới của tao – Thiên đàng nếu có, cũng đến
thế là cùng”. Tôi nghe mê tơi, cũng muốn xin vào viện dưỡng lăo …
Với Hai Búng th́ có nhiều chuyện để nói. Tên trên giấy tờ là Phạm B́nh
Nhâm, nhưng từ khi vào quân đội, bạn bè cùng khóa đặt cho hắn cái tên
mới là Búng - Hai Búng. Sở dĩ hắn mang cái biệt danh (nickname) này v́
nhà hắn gần chợ Búng mà khi nhắc đến chợ Búng, hắn say sưa nói miết -
quên thôi! Hắn tả cảnh, tả t́nh về quê hương của hắn với những vườn cây
ăn trái ở Lái Thiêu, An Sơn, B́nh Nhâm (nơi sinh quán của hắn) hấp dẫn
đến mức mà người nghe thấy mát rượi với những cây chôm chôm, măng cụt,
sầu riêng... ngát hương vườn lài, thơm phức mùi sầu riêng và ngọt lịm
mùi ḷ đường, ruộng mía ven sông …Và bao ǵờ kết thúc câu chuyện cũng là
lời mời rất chân t́nh: “Khi nào đi qua Chợ Búng nhớ ghé nhà tao, tao sẽ
đưa tụi mày đi ăn bánh bèo b́ Mỹ Liên, hay Ngọc Hương, hai tiệm bánh bèo
b́ nổi tiếng không những ở chợ Búng mà khắp nước đấy - Rồi về nhà tao,
mẹ tao sẽ đăi một bữa cháo vịt – thịt vịt bầu mà chấm nước mắm gừng do
mẹ tao pha chế th́ hết sẩy – Tụi mày sẽ nhớ đời…”
Hắn căn dặn thêm: “Đến Búng, hỏi tên tao th́ ít người biết mà hỏi “Cậu
Hai Phạm” th́ ai cũng biết - Muốn t́m đến nhà th́ hỏi “nhà ông Thầy Năm
Tử Vi” th́ sẽ ra ngay”.
Có lần tôi hỏi hắn: - Tại sao mày lớn lên ở đây mà ít người biết tên
thật Phạm B́nh Nhâm, chắc mày muốn giấu tên để người ta gọi “Cậu Hai
Phạm” cho oai?
Hắn giải thích: - Không phải vậy mà do phong tục miền Nam - người ta
thường xem cá tính, h́nh dạng, rồi lấy thứ bậc trong gia đ́nh ghép vào
thành tên gọi như: Hai Lúa, Ba Cao…một cách gọi cho gần gũi thân thương.
C̣n tao, v́ hay ăn nói bổ bả, đôi khi làm thơ, đặt vè tố cáo, châm biếm
mấy thằng bê bối, ức hiếp dân lành, nên chúng ghét, t́m cách vu cáo:
phạm lỗi này, tội kia… Nhưng chúng chẳng làm ǵ được tao, chỉ gọi “thằng
Hai Phạm”- tức là hay phạm lỗi cho bơ ghét - riết rồi dân trong làng
nghe quen tai, họ gọi tao “cậu Hai Phạm”.
Hôm tôi đến thăm Hai Búng – xem căn pḥng rộng khoảng mười mấy mét
vuông, kê một chiếc giường đơn và một cái tủ nhỏ đă thấy chật - “Cơ
ngơi” ấy làm sao so sánh được với ngôi nhà ngói cổ ba gian, hai chái,
rộng thênh thang, lúc nào cũng mát rượi… nằm giữa một vườn cây ăn trái
hơn năm mẫu của cha ông bao đời vun đắp ở gần chợ Búng mà Hai Búng sẽ là
người thừa kế. Vậy mà bây giờ Hai Búng kêu tôi tới xem cái “cơ ngơi” này
với lời ca tụng: “Thiên đàng nếu có, cũng đến thế là cùng”. Có lẽ Hai
Búng đă “ngộ” được lẽ sống ở đời rồi chăng?
Nhớ lần đầu tiên Hai Búng đưa tôi về nhà ở chơi mấy ngày trong dịp nghỉ
phép sau khi diễn hành ngày Quân Lực - 19-6 năm 1967 ở Saigon. Khi trở
lại Đà Lạt học năm chót, vùng đất trù phú này với những vườn cây trái êm
đềm và sự nhân hậu, chân t́nh của của cha mẹ Hai Búng, biểu lộ đức tính
hiền ḥa, mộc mạc của người miền Nam, đă làm tôi lưu luyến. V́ vậy, khi
ra trường tôi chọn Sư Đoàn 5 BB, vùng hoạt động gồm ba tỉnh B́nh Dương,
B́nh Long, Phước Long (danh từ quân sự gọi: Khu 32 Chiến thuật) - căn cứ
đóng ở Lai Khê, chỉ cách Búng hơn 15 cây số. C̣n Hai Búng chọn Biệt Động
Quân – rày đây mai đó, rất ít khi được về thăm nhà.
Khi đơn vị nghỉ dưỡng quân hay được nghỉ phép vài ba ngày, tôi thường
ghé thăm ông bà thân sinh của Hai Búng, Ông Bà rất mừng. Sự hiện diện
của tôi, mẹ Hai Búng h́nh dung ra bóng dáng đứa con trai yêu dấu - thằng
Nhâm. C̣n tôi, qua h́nh dáng của bà gợi cho tôi nhớ về người mẹ thân yêu
ở tận ngoài Trung - xa lắc. Sự tương giao đó đă tạo nên mối thâm t́nh và
tôi được xem như một thành viên trong gia đ́nh Hai Búng.
Mỗi lần Hai Búng về phép, tôi cũng xin nghỉ phép vài ngày về chơi với
Hai Búng, nếu đơn vị không bận hành quân. Gặp nhau, hai đứa tán đủ thứ
chuyện: Ngoài chuyện gian nguy ở chiến trường, chuyện t́nh yêu, chúng
tôi hay nói đến sự phi lư của một cuộc chiến tranh không cần thiết, về
nỗi buồn và bất hạnh trong chiến tranh. Đôi khi hai đứa ngồi im lặng
hằng giờ, nhâm nhi ly rượu nếp than (do mẹ Hai Búng nấu) nơi chiếc bàn
đá sau vườn, nh́n những đàn chim bay về tổ, ríu rít tiếng kêu gọi đàn
khi nắng chiều sắp tắt mà mơ về một ngày thanh b́nh - một ngày giă từ vũ
khí.
Có lần tôi nói với Hai Búng: - Một mai hết chiến tranh, mầy về đây vui
hưởng thú điền viên như Cụ Nguyễn Công Trứ ngày xưa: “Thảnh thơi thơ
túi rượu bầu” và sẽ sống: “ Ngoài ṿng cương tỏa chân cao thấp /
Trong thú yên hà mặc tỉnh say”…
Hai Búng thẫn thờ:
- Số tao không được như vậy. Ông già tao xem số tử vi, bảo rằng: Cung
Điền Trạch của tao có chính tinh miếu vượng mà gặp tuần triệt nên khó
được thừa kế tài sản của tổ tiên, nhưng lại có các sao Thiên Khôi, Thiên
Việt, Hóa Lộc, Hóa Quyền chiếu mạng nên sẽ sống ở khu vực có nhiều cơ
quan, nhiều bạn bè, người phú quư lui tới. Vậy là chỉ ở trong “công
thự”?
-Công thự là nơi ăn ở, làm việc của mấy quan to, cấp cho những người có
danh phận, làm ǵ đến phiên mày?
Hai Búng giải thích:
- Sang th́ công thự mà hèn th́ chung cư, trại gia binh, nghĩa là lá số
cho thấy tao sẽ không có nhà riêng.
Tôi không hiểu nhiều về khoa tử vi và cũng không mấy tin vào lá số,
nhưng khi nghe Hai Búng nói vậy, tôi không có ư kiến, v́ ông già Hai
Búng giỏi về khoa tử vi và rất nổi tiếng – trong nhà lúc nào cũng đông
khách đến nhờ xem tử vi, đa số là người Sài g̣n. Bởi vậy tôi chỉ ậm ừ
cho qua chuyện:
- Chờ xem!
Ngày tháng trôi qua, cuộc chiến mỗi ngày thêm ác liệt, chúng tôi ít có
dịp gặp nhau. Khi cuộc chiến sắp tàn, tôi được tin Hai Búng bị thương
nặng trong trận đánh ở Xuân Lộc, đang điều trị ở Tổng y viện Cộng Ḥa,
nhưng không thể rời đơn vị để về thăm.
Sau đó bao nhiêu biến cố dồn dập, tôi không liên lạc được với Hai Búng
trong một thời gian dài. Rồi một hôm vào khoảng tháng Giêng năm 1979,
hai đứa gặp nhau ở một nơi cách xa chợ Búng cả ngàn cây số - Trại tù K5
- Tân Lập Vĩnh Phú, trên vùng Trung du Việt Bắc.
Tôi nhớ măi lần gặp gỡ buổi trưa hôm ấy: mừng mừng ... tủi tủi… Hai Búng
đặt bàn tay gầy guộc lên bờ vai xương xẩu của tôi, run run khẽ nói: -
Mầy vẫn c̣n sống?
Lẽ ra tôi phải nói những lời ân cần, hỏi han sức khỏe tôi lại buông một
câu lăng xẹt : “Trại mày ở đẹp à nghen – tường gạch, mái ngói, giống như
…”
Tôi chưa nói hết câu, Hai Búng cười ngất ngưởng, ngắt lời:
-Giống như “công thự”? Số tao ở nhà “công thự” mà mầy.
Tôi định chen vào để chữa lời nói lăng xẹt vừa rồi: “tường cao, cửa sắt
kiên cố thế kia th́ đám tù hết phương trốn thoát, chứ đẹp cái nỗi ǵ?”.
Nhưng Hai búng cứ nói miết:
-Có cổng tam quan, có thằng đứng gác ngày đêm cho ḿnh ngủ (Hai Búng hạ
giọng nh́n quanh, sợ bọn ăn-ten nghe lén) - chỉ khác thời trước là ḿnh
ra, vào cổng hắn không bắt súng chào.
Hai Búng cười khùng khục, rồi tiếp:
- Nhưng “công thự” này không đồ sộ bằng cái “công thự” đầu tiên tao được
ở.
- Ở đâu? Tôi hỏi.
- Khám Chí Ḥa. Hai Búng trả lời.
Tôi thắc mắc hỏi tiếp:
- Làm sao mày lại vô khám Chí Ḥa?
Hai Búng vừa nói vừa kéo tôi vào chỗ bóng mát dưới gốc cây bàng:
- Chuyện dài như tiểu thuyết - Trận Xuân Lộc bắt đầu ngày 9-4-1975, Liên
Đoàn 7 BĐQ của tao phối hợp với Trung đoàn 48 của SĐ18 BB pḥng thủ từ
núi Chứa Chan, Giá Rai đến Xuân Lộc. Bốn ngày sau, ngày 13-4-1975 tao bị
thương khá nặng, được trực thăng bốc về Tổng y viện Cộng Ḥa. Đang nằm
điều trị trong bệnh viện, nghe bản tin buổi sáng ngày 30-4 trên radio:
Dương Văn Minh ra lịnh Quân đội VNCH buông súng- chờ bàn giao” – Tao
khóc!
- Tao không thể nào quên được nỗi thê thảm của những thương binh VNCH bị
đuổi ra khỏi nơi điều trị ở Tổng y viện Cộng Ḥa vào ngày 1-5 – trong đó
có tao. Đau thương, uất hận lắng vào tiềm thức, có lúc trổi dậy, khiến
thơ, vè trong tao trào ra. Thế là chúng gán cho cái tội “biệt kích văn
nghệ”, tống tao vào khám Chí Ḥa.
- Hơn 5 tháng nằm trong cái “công thự” này, chúng điều tra tới, điều tra
lui, nhưng thơ, vè của tao chỉ truyền khẩu, không có bằng chứng cụ thể.
Môt hôm chúng đưa tao lên văn pḥng gặp Vũ Hạnh, chắc là để tên này nhận
diện. Tao biết hắn, nhưng hắn đâu biết tao là ai. Hắn hỏi mấy câu: “Bút
hiệu của anh là ǵ? – Anh đă có bao nhiêu tác phẩm đă xuất bản”. Tao trả
lời: “ Tôi làm ǵ có bút hiệu, có tác phẩm – Anh hỏi thế là cho tôi lên
mây rồi”. Chúng thấy tao chẳng có tên tuổi ǵ trong giới nhà văn, nhà
báo mà chỉ là thằng “phất phơ miệt vườn”, nên chúng chuyển tao vào trại
Suối Máu (Biên Ḥa). Tháng 7 năm 1977 chúng tống tao xuống tàu đưa ra
đây.
- Thôi chuyện c̣n dài, sắp tới giờ lao động rồi, mầy ở đây chờ tao, tao
có chút quà cho mầy, tao mới được thăm nuôi.
- Ông Bà cụ ra đây thăm mầy?
- Không – “người ơn”- Ông Bà già yếu lắm rồi.
- “Người ơn” hay người yêu?
- Chuyện dài như tiểu thuyết. Có dịp tao sẽ kể cho nghe.
Cuối năm 1981, Hai Búng và tôi được thả cùng ngày từ
trại tù Tân Lập – Vĩnh Phú. Trên chuyến tàu xuôi Nam, Hai Búng kể tôi
nghe về “người ơn” của hắn. Hắn thẫn thờ nh́n qua khung cửa toa tàu, và
với một giọng trầm buồn, hắn bắt đầu câu chuyện:
-“Khi nghe loa phóng thanh phát ra, cứ khoảng nửa giờ một lần: “tất cả
thương bệnh binh phải rời khỏi nơi đây trong ngày hôm nay” (ngày
1-5-1975). Lúc bấy giờ người cụt tay d́u kẻ què chân, khập khiễng với
đôi nạng gỗ, xiêu vẹo từng bước đi về hướng cổng bệnh viện, nước mắt
lưng tṛng… C̣n những người cụt cả hai chân hay hai chân bó bột ngay đơ
không thể lê bước như tao th́ anh em đỡ ra khỏi giường, đặt xuống sàn
nhà và nói vài câu an ủi: “ráng lết ra ngoài rồi sẽ có người giúp đỡ,
tụi tôi không biết làm sao hơn được” -Họ tiếp tục ra đi…
“ Những anh em cụt cả hai chân, họ chống hai bàn tay xuống đất lấy thế
nhất người lết tới, mỗi lần cũng được vài ba gang tay; máu mủ, cát bụi
bầy nhầy dính trên bông băng tơi tả - không có ngôn từ nào diễn tả hết
nỗi thương đau. C̣n tao, hai chân bó bột, không đứng lên được, cũng bắt
chước làm theo thao tác ấy để ra khỏi khu nhà hồi sức.
“Con người khi đứng trước lằn ranh sinh tử, bản năng sinh tồn được vực
dậy và khi sự khổ đau đến tột cùng, con người hướng sẽ về ân sủng thiêng
liêng – Tao cầu xin Đức Mẹ Maria và tiếp tục lết ra cổng. Bỗng từ xa có
tiếng gọi, rồi một người con gái chạy đến ôm tao. Nàng khóc nức nở: -
“làm sao ra nông nỗi thế này hở anh?”. Lúc đó sự sống h́nh như được điều
khiển bởi bản năng, tao không c̣n nhớ rơ làm sao nàng đưa tao vào chiếc
taxi đậu trước cổng bệnh viện. Nàng đỡ tao ngồi bên cạnh, khẽ nói: - “Em
đưa anh về nhà em, rồi sẽ tính sau”. Tao bừng tỉnh nói với nàng: - “Nhà
tôi ở gần chợ Búng, nếu có thể được, cô cho về đó với mẹ tôi”. Nàng quay
qua hỏi người tài xế taxi, anh ta đồng ư. Khi xe lăn bánh, tao nh́n lại
phía sau cánh cổng bệnh viện khép hờ, c̣n nhiều thương binh đang ḅ lết
ra cửa – tao bật khóc...và hỏi bâng quơ: “đêm nay họ về đâu, rồi ngày
mai sẽ ra sao?”. Nàng cũng khóc và vỗ về: “biết làm sao bây giờ - cầu
xin Chúa đoái thương”. Đêm hôm ấy nàng ở lại với tao, sáng hôm sau nàng
về và hẹn sẽ lên thăm. Cha mẹ tao đưa nàng ra chợ Búng, đón xe cho nàng
về Saigon.
“Nàng là ai? - chắc mầy đang nóng ḷng muốn biết? Hắn hỏi, nhưng không
đợi tôi trả lời, tiếp tục kể: - Nàng là y tá chăm sóc khoảng 20 thương
binh dăy nhà A, nơi tao đang nằm điều trị. Nàng không có nét đẹp kiêu sa
để người ta chiêm ngưỡng mà nàng có “đôi mắt biết nói”, trên môi như
luôn sẵn nụ cười duyên dáng và đặc biệt cái giọng “bắc kỳ hà nội” êm như
ru …Mỗi lần nàng đến chăm sóc vết thương, như mang theo một luồng gió
mát cho các thương binh - một chút ǵ đó mơ hồ như người chị, người em,
người t́nh đang an ủi, vỗ về nỗi đau mất mát …Với tao, nàng là một bà
tiên.
“Từ hôm đưa tao về nhà, sau đó mỗi tuần hai ngày, nàng lên chăm sóc vết
thương cho tao, nhờ vậy, chỉ mấy tháng sau đôi chân tao lành lặn, đi
đứng được. Nhưng rồi tao bị bắt - một lần nữa lại làm khổ thân nàng.
Nàng ḍ hỏi khắp nơi, cuối cùng biết tao bị giam trong khám Chí Ḥa,
nàng đưa ba tao vào thăm. Ba tao là người rất có nghị lực, đứng trước
những nghịch cảnh, ông vẫn giữ thái độ b́nh thản, nhưng hôm ấy đôi mắt
ông thật buồn như báo trước một điềm chẳng lành. Tao cố làm ra vẻ chuyện
bị giam ở đây không có ǵ quan trọng cho ba tao đỡ lo, tao bông đùa: “số
con được ở trong công thự mà ba - cái công thự này to hết biết”. Ba tao
không cười mà chi nói: “Lá số tử vi chấm đúng th́ lời bàn ít khi sai”.
Không ngờ buổi thăm nuôi hôm đó là lần gặp gỡ cuối cùng - Từ đây, tao
không bao giờ c̣n được nghe tiếng nói của ba tao. Ông đă chết ở trại tập
trung Bù Gia Mập.
Nói đến đây hắn mếu máo, nghẹn lời, những giọt nước mắt lăn dài trên má.
Một lát sau hắn tiếp: “Lần thăm nuôi mới đây, nàng đưa lá thư của mẹ tao
viết ngắn gọn mấy câu:
“ Nhâm à – Ba con đă mất gần hai năm nay rồi. Lúc trước mẹ sợ con buồn,
hại đến sức khỏe, không cho con biết. Nhưng không thể giấu măi được, nay
th́ mẹ cũng nguôi ngoai và nhờ Trời thương đă cho mẹ thêm một đứa con
gái, chăm sóc mẹ rất chu đáo và an ủi mẹ trong lúc cô đơn. Con an tâm
học tập tốt để sớm về với mẹ”.
“Lợi dụng lúc tên quản giáo cho phép nàng ra bếp nấu đồ ăn, nàng kể
chuyện bị bắt và cái chết của ba tao: - Khoảng năm 1978, trong nhà luôn
luôn có người đến nhờ ba tao xem số tử vi có đi vượt biên được không.
Chính quyền kết tội ba tao lợi dụng sự mê tín di đoan để xúi dục người
ta vượt biên. Họ bắt ba tao đưa vào trại tập trung Bù Gia Mập. Ở đây,
mỗi tháng một lần, nàng dẫn mẹ tao vào thăm nuôi. Ba tao không phải chết
v́ đói hay suy dinh dưỡng mà bị rắn độc cắn, trong lúc vào rừng chặt
nứa. Nàng nói: - khi hay tin ba mất mẹ ngất xỉu và mê man mấy ngày liền,
khi tỉnh lại mẹ sống như người mất hồn. Em đă lên ở với mẹ, chăm sóc cho
mẹ, mẹ hồi phục dần dần… Một hôm em ngỏ lời với mẹ: “ Từ nay con xin làm
con gái của mẹ - mẹ chịu không? Mẹ ôm em vào ḷng, khóc nức nở… mẹ thổn
thức nói: “cảm ơn Trời Phật đă cho ta thêm một đứa con gái”. Đến đây th́
tao không c̣n kềm được xúc động, nắm lấy tay nàng, run run khẽ nói: - Em
là “người ơn” của gia đ́nh anh. Nàng ngước lên, “đôi mắt biết nói” ấy
rưng rưng nh́n tao, nàng nói qua hơi thở “bây giờ em là em gái của anh”…
Con tàu tiếp tục xuôi Nam, đến ga Tuy Ḥa tôi chia tay Hai Búng. Từ đây
chúng tôi ít có dịp gặp nhau - một phần v́ xa xôi cách trở (tôi ở ngoài
Trung, c̣n Hai Búng ở trong Nam), một phần bị quản chế không thể ra khỏi
nơi cư trú, và tiền bạc cũng rất eo hẹp. Măi đến khi được gọi vào Sài
g̣n phỏng vấn để đi Mỹ theo chương tŕnh HO, tôi mới có dịp ghé thăm Hai
Búng. Lúc này th́ “người ơn” đă trở thành “người vợ” yêu quư của Hai
Búng.
Chúng tôi được đi cùng chuyến HO 5, cùng xin định cư ở Tiểu bang
Virginia (VA). Hai gia đ́nh chúng tôi cùng xin về quận Fairfax, thuê
apartment trong cùng trong một building để bầu bạn có nhau. Thời gian
đầu ở xứ lạ quê người, ai cũng trải qua những khó khăn nhất định. Nhưng
được sống trong môi trường tự do với sự giúp đỡ tận t́nh của các cơ quan
từ thiện và xă hội, làm cho mọi người lên tinh thần và nh́n thấy tương
lai. Hai Búng v́ cặp gị không khỏe, chỉ xin được việc làm nhẹ; vợ Hai
Búng xin làm phụ bếp - đồng lương hai người đều thấp, nên đủ điều kiện
xin housing. Hai Búng là người may mắn được cấp nhà housing trước tiên.
Hôm dọn nhà, Hai Búng vui vẻ nói với mọi người: “không phải tôi có thân
thế hay lo lót, chạy chọt ǵ đâu, đừng nghĩ như khi ḿnh c̣n ở trong
nước. Tôi được nhà sớm là do lá số tử vi chiếu mạng - số tôi được ở nhà
“công thự”.
Mấy năm sau, vợ chồng tôi dành dụm đủ tiền đặt cọc mua một căn
townhouse, tôi rủ Hai Búng, nhưng hắn bảo: “số tao không có nhà riêng,
chỉ ở công thự thôi”. Vợ chồng Hai Búng an phận và bằng ḷng với căn
housing này. Họ sống hạnh phúc bên nhau, đi đâu cũng có đôi có bạn như
h́nh với bóng… Rồi một ngày đau buồn chợt đến, không sao tả xiết: Nhung
- vợ Hai Búng đột ngột qua đời v́ bịnh tim (heart attack). Hai Búng hụt
hẫng, đau thương đến cùng cực - phát cuồng… Ngày ngày Hai Búng thơ thẩn
ra vào trong căn housing đầy ắp kỷ niệm, nói lảm nhảm một ḿnh: “Sao bà
ra đi nhanh thế, chẳng nói với tôi lời nào? – Sao bà không để tôi săn
sóc cho bà?”. Đến bữa ăn, Hai Búng xới bát cơm, so đôi đũa để trên miệng
chén, rồi nói: - Bà ăn đi kẻo nguội … Có hôm t́m được món ăn lạ trên
internet, Hai Búng cặm cụi nấu nướng theo chỉ dẫn, rồi bày biện tươm tất
trên bàn thờ, đốt nhang th́ thầm khấn vái. Bốn bề tĩnh lặng như tờ, Hai
Búng ứa nước mắt, nh́n lên ảnh vợ lồng trong khung kính, nói như trách
móc: “Sao bà không ăn miếng nào, cứ ngồi đó cười?”.
Chỉ hơn ba tháng, sau ngày vợ mất, tinh thần lẫn thể xác của Hai Búng
suy sụp thảm hại. Đứa con gái duy nhất, theo chồng ở CA, thỉnh thoảng
lên thăm, thấy t́nh cảnh bi đát của bố, cố năn nỉ, thuyết phục mời bố về
ở với nó, nhưng Hai Búng từ chối và nói với con gái: “Ở đây hằng đêm, mẹ
con vẫn về nói chuyện với bố - xuống dưới đó mẹ con có chịu đi theo
không?…”
Thấy t́nh cảnh cô đơn như vầy, có thể không bao lâu Hai Búng sẽ suy sụp
hoàn toàn, nên hằng tuần tôi đến thăm, an ủi và bà nhà tôi làm vài món
ăn khô mặn tiếp tế cho Hai Búng. T́nh bạn thâm giao giữa hai chúng tôi,
Hai Búng có nghe những lời khuyên giải của tôi mà nguôi ngoai phần nào
sầu muộn. Nhưng nhà dưỡng lăo mới là nơi Hai Búng “ngộ” được cái lẽ vô
thường trong kiếp nhân sinh và thân phận tuổi già… từ đó Hai Búng t́m
được sự thanh thản trong tâm hồn.
Hôm tôi đến thăm Hai Búng ở nhà dưỡng lăo, Hai Búng thuyết về: chuyện
đạo, chuyện đời, chuyện tu, chuyện tập (tập thể dục) – nói miết-quên
thôi… Mấy giờ ở chơi với Hai Búng, điều làm tôi xúc động khi Hai Búng
kéo ngăn tủ nhỏ, chỉ cho tôi xem và giải thích lai lịch của mỗi kỷ vật:
“đây chiếc áo dài ngày cưới, c̣n đây là chiếc áo bả mặc trong ngày “lễ
hâm hôn” cách đây mấy năm; những chiếc cà vạt, găng tay, mũ nỉ này bả
mua tặng tao trong ngày sinh nhật; mấy tập album và một hộp nhỏ để hai
chiếc nhẫn cưới và chiếc nhẫn ra trường. Hai Búng kết luận: “gia sản của
tao bây giờ chỉ c̣n từng ấy – đó là bảo vật”.
Nắng chiều đă tắt, tôi chào tạm biệt. Hai Búng đưa tôi ra tận chỗ đậu
xe. Tôi nổ máy, Hai Búng quay lại đứng trước cửa nhà dưỡng lăo vẫy vẫy
tay chào... Trên sân vắng lặng, chẳng có bóng người, Hai Búng vẫn c̣n
đứng đó, mắt thoáng buồn núp sau cặp kính lăo… Tôi nhẹ chân “ga” ṿng xe
lại trước cửa nhà dưỡng lăo, hạ kính cửa xe, định nói vài lời. Nhưng lúc
đó Hai Búng quay lưng, cố giấu những giọt nước mắt đang lăn trên má. Tôi
nhấn “ga” cho xe chạy thẳng, nh́n kính chiếu hậu thấy cánh cửa nhà dưỡng
lăo Elmwood House đă khép lại – im ĺm…
Chiều nay, mây trời như thấp xuống, sương thu rơi nhẹ như làn khói mỏng
tỏa mờ khu rừng phía trước và khói sương cũng phủ mờ các tầng cao của
building làm cho khu dưỡng lăo trở nên tịch mịch, buồn hiu… trong đó,
giờ này có những người một thời vang bóng đang sống: như Cụ Vỹ, râu tóc
bạc phơ như một “tiên ông”, luôn xuất hiện trong các cuộc biểu t́nh
chống cộng ở công viên Lafayette (Presidents Park), Washington DC; hay
như ông Công tử Hà Đông ( HHT) đă từng phóng bút “giữa rừng phong” với
nhiều bài phiếm luận khinh bạc và bây giờ có thêm Hai Búng…
Lê Đức Luận
vanhuu08@yahoo.com
Trang Văn Hữu |