|
VĂN HỮU số
44
Mùa
Xuân 2019
~~oOo~~
Nguyễn Công Khanh
ĐI T̀M BẢN
SẮC
Có những người bạn, lâu lắm
anh không gặp, nhiều người có lẽ từ ngày rời nước ra đi. Khi gặp nhau,
anh và họ thường dùng những giây phút đầu tiên, nh́n nhau từ đầu tới
chân, rồi cả hai cùng thốt lên: " Trông vẫn thế, không thay đổi ǵ
cả", nghĩa là Việt Nam vẫn hoàn toàn Việt Nam.
Sự thật, qua nhiều năm trời xa xứ, anh và mọi người cũng không thay đổi
là bao. Tuy tóc anh có bạc thêm, mặt anh có nhiều nếp nhăn hơn, và dù
anh có ăn nhiều bánh ḿ, nhiều thịt cá Mỹ hơn, nhưng cũng chẳng giúp anh
giống Mỹ thêm được chút nào.
Ngay cả cách sống, khi bạn anh bước vào nhà, họ có thể thấy ngay những
bức tranh trên tường, những tấm lịch dù có thay đổi hàng năm, nhưng vẫn
là những h́nh ảnh muôn đời của Việt Nam. Vẫn những hàng thùy dương trên
cửa Thuận An, Sa Huỳnh, Đại Lănh, Nha Trang, Vũng Tàu. Vẫn những đồng
lúa xanh của miền Nam với sóng lúa vờn nhau tới tận chân trời. Vẫn những
con thuyền nhỏ nặng trĩu trái cây, xuôi ḍng b́nh yên giữa hai hàng cây
xanh bên bờ kinh lạch đỏ đất phù sa. Vẫn những cồn cát mênh mông óng ả
không dấu chân người. Vẫn những thắng tích: Ḥn Phụ Tử Hà Tiên, Lăng
Ông, Chợ Bến Thành, Thánh Thất Cao Đài, Tháp Bà, Cầu Đá, Ḥn Chồng, Lăng
Tự Đức, Cột cờ Đông Ba, Suối Vàng, Hồ Than Thở, Thác Cam Ly... C̣n nữa,
c̣n thêm nữa, những cảnh Tháp Rùa, Hồ Hoàn Kiếm, Chùa Một Cột, cánh buồm
trên vịnh Hạ Long...Vẫn h́nh ảnh những cụ già tóc trắng như tiên, những
bà mẹ ḷng bao la như biển cả, những trẻ thơ ngoan ngoăn, đầy hy vọng
tựa măng non. Những thiếu nữ trong sáng bên hoa đào ngày xuân. Những
nông dân say sưa đập lúa trong ngày mùa. Những dân chài ḿnh trần bóng
nhẫy, kéo lưới buổi b́nh minh... Tại pḥng khách, họ có thể t́m thấy một
vài số báo Việt ngữ, với các tin tức của cộng đồng Việt Nam tại các địa
phương, những tin tức từ Việt Nam, từ các nơi khác trên thế giới, những
truyện ngắn, những bài thơ... Cũng không khó khăn ǵ khi muốn t́m một
vài cuốn tiểu thuyết tiền chiến hay hiện đại.
Gần đến bữa ăn, tiếng xào nấu trong bếp nghe rào rào. Tiếng
giục giã, tiếng chuyện trò như pháo rang, vui tựa ngày giỗ
ngày Tết. Rồi mùi thơm ngon lành tỏa ra, vẫn cái mùi thơm mà
khứu giác anh đã quen thuộc từ thuở ấu thời, hàng ngày, hàng
bữa khi tan học về, chờ bữa cơm chiều.
Nếu không ăn ở nhà, mọi người thường tự động nghĩ ngay đến
các quán ăn Việt Nam. Anh quên hẳn các tiệm ăn Mỹ đầy rẫy hai
bên đường, ngày hai buổi đi làm vẫn đập vào mắt anh. Tại các
tiệm Việt Nam, vẫn những thực đơn tiếng Việt, vẫn những món ăn
như thuở nào. Vẫn những chủ quán tiếp khách như tiếp người
nhà và vẫn những câu chuyện ngồi chờ cà phê nhỏ giọt ngày
xưa.
Những cảnh sống hàng ngày đó tiếp diễn liên tục không ngừng
đã giúp anh và mọi người thoải mái, mặc nhiên với cách sống
Việt Nam. Các tình tự, nhu cầu, ý nghĩ vẫn Việt Nam. Con người
toàn diện của anh và đồng bào anh với thể xác Việt Nam, đầu
óc Việt Nam và nhất là trái tim vẫn hoàn toàn Việt Nam.
Đi ngoài đường hay trong đám đông, nhiều người có thể nhận ra
anh là người Việt Nam. Nhất là cái họ của anh vừa khó viết
lại vừa khó đọc, nhưng họ biết ngay nó là của Việt Nam và
chỉ Việt Nam mới có.
Anh nghĩ cho dù anh và đồng bào anh có sống ở đây đến hàng
trăm năm nữa cũng không có thể làm hết cái chất Việt Nam đi
được. Mọi người như anh đã được tôi luyện trong cái khí thiêng
của sông núi, trong cái hào khí của tiền nhân. Cái chất sắt
đá của Việt Nam đó đã được đem thử với bao ngọn lửa độc bạo
tàn, ngàn năm của Bắc phương, trăm năm của Tây phương, rồi sự
đồi trụy của tư bản, sự bần cùng hóa của Cộng Sản, nhưng mọi
người vẫn kiên trì ngạo nghễ, vẫn tung hoành dù có bị tản
mát khắp nơi và có dù bị đời nhồi lên dìm xuống.
Việt Nam, không những chỉ là tiếng nói khi vào đời, cho tới khi
ĺa đời, như trong một bài ca, mà Việt Nam tiếng ấy ngày nay
đã được mọi người trên thế giới nhắc đến hàng ngày, hàng
tuần trên đài truyền thanh, truyền hình, trên báo chí, trên
miệng mọi người khác giòng giống với anh.
Anh nghĩ rằng hai tiếng Việt Nam sẽ không bao giờ bị lãng quên
trong đầu óc của nhân loại. Mỗi lần họ thốt lên, họ viết ra,
anh được nghe thấy, anh được nhìn thấy là một lần anh được
đánh thức anh là người Việt Nam.
Việt Nam được nhắc đến khi trẻ em Việt đứng hàng đầu tại các
học đường anh thấy hãnh diện. Việt Nam được nhắc đến khi đồng
bào anh vượt biển bị hải tặc lộng hành, anh thấy căm phẫn,
xót thương. Và khi Việt Nam bị đem ra bôi xấu, đe dọa, anh lại
càng cảm thấy cần có sự hiện diện của mọi người để chận
đứng cơn lốc, để làm sáng danh lại hai chữ Việt Nam.
Việt Nam, tất cả đã thường trực trong không gian anh thở, trong
thời gian anh sống. Từng giây, từng phút đã giúp anh nối chặt
với đồng bào anh tại các tiểu bang của Hiệp Chủng Quốc, với
đồng bào anh khắp thế giới, với quê hương xa cách ngàn trùng,
với những người ở lại, với những người đã nằm xuống và với
tiền nhân vẫn theo anh phảng phất đâu đây.
Anh và mọi người đang đứng ở biên cương mới, đang đứng ở đầu
ngọn gió, lại càng phải đứng vững hơn bao giờ hết. Anh và mọi
người càng phải thấy mình là Việt Nam hơn nơi nào hết và hơn
lúc nào hết.
*
Mọi người đang ngồi ở bàn ăn, tiếp nhau từng
miếng, hàn huyên những chuyện ngày xưa thì có tiếng chào hỏi,
tiếng trẻ lao xao bên ngoài, tiếng cửa mở mạnh và các tiếng
chân chạy xầm xập như đàn ong vỡ tổ. Anh nhìn vợ anh chạy ra ôm
mừng mấy đứa cháu. Việt Nam đã và đang thay đổi bắt đầu từ
đây, ở những người Việt Nam thơ dại nầy. Chúng đến chào ông bà
và các ông bà bạn. Vẫn bằng tiếng Việt với những ngôn từ
thông dụng. Da chúng vẫn vàng, tóc chúng vẫn đen, mắt chúng
vẫn nâu. Có cái gì thay đổi?
Khi chúng nói chuyện với nhau, với những bạn bè của chúng,
chúng đã nói bằng tiếng Mỹ. Cử chỉ của chúng đã thấy tự do
hơn. Chúng đã thích hamburger, pizza, Kentucky Fried Chicken ... hơn
là đi ăn những món ăn ở nhà hàng Việt Nam. Thỉnh thoảng, đưa
chúng đi xem đại nhạc hội Việt Nam, các danh hề chọc cười,
chúng ngồi yên như mấy người Mỹ ngồi chịu trận vì nể lời mời
đi xem người Việt trình diễn. Nhiều bài hát, chúng đã không
nghe được và không thấm được ý. Đọc truyện Việt Nam đã bắt
đầu không hiểu, chưa nói đến các vấn đề khác trên báo chí.
Nhưng khi nghe những truyện "jokes" trên Ti Vi, chúng cười như nắc
nẻ. Báo "comics" chúng mua chất đống trong nhà. Bố mẹ chúng
than là rủ được chúng đi đến các buổi văn nghệ, tế lễ, chùa
chiền đã là một chuyện khó khăn.
Đó là chưa đo lường được xem trong đầu óc chúng, trong trái tim
chúng đã thay đổi như thế nào. Nếu đem so sánh với một đứa
trẻ ở Việt Nam cùng tuổi, thì chắc chắn có những sự khác
biệt hiển nhiên và có thể nó đã vượt quá xa so với mọi người
thường nghĩ.
Một tờ báo lớn trong vùng anh ở, đăng liên tiếp mấy ngày liền,
nói về thành quả của học trò Việt Nam. Anh đọc bài và nhìn
hình hai em học sinh ưu tú, gương mặt hai em tỏa ra một sự tự
tin rạng rỡ. Anh tin rằng, những học sinh Việt Nam nầy sẽ còn
chiếm ưu hạng trong những năm tới ở bậc đại học.
Nhưng có một đoạn trong bài báo đó ghi lại lời phát biểu của
một em làm anh suy nghĩ: Tôi đă ở đây nhiều năm và tôi cảm thấy
tôi là người Mỹ. Tôi nói tiếng Anh thông thạo hơn tiếng Việt.
Rồi một ít năm nữa đây, con cháu của anh và đồng bào anh sẽ
sống ở đây năm, sáu mươi năm hoặc lâu hơn nữa, ta cũng đừng ngạc
nhiên khi thấy những đứa con mà chúng ta đem từ lòng quê hương
đi, chúng sẽ không nói đến cái cảm nghĩ nữa, không nói đến sự
so sánh nữa, mà thẳng thắn phát biểu: Tôi là người Mỹ, tôi
không nói được tiếng Việt.
Anh chưa dám nghĩ tới các thế hệ thứ hai, thứ ba và sau này,
những trẻ em được sinh trưởng ở hải ngoại, những người Việt Nam
chưa một lần được nhìn thấy quê hương, chưa một lần đặt chân lên
mảnh đất của tổ tiên. Càng nghĩ anh càng cảm thấy ê ẩm trong
lòng. Anh đem chuyện trên thảo luận với một số bạn, trong đó
có người không phải là Việt Nam, họ đều qui trách nhiệm cho
cộng đồng, cho những người lớn chúng ta và chính anh cũng lãnh
một phần trong đó.
Một ngày cuối tuần, anh ra thư viện của thành phố. Trong cái
rừng sách tràn ngập, anh muốn lần theo vết chân của các sắc
dân Á Châu giống như anh, đã đến đây từ thế kỷ trước. Anh muốn
xem họ và con cháu họ đã bắt đầu từ đâu, đã đi được đến đâu
và qua chặng đường dài đó, họ đã thay đổi như thế nào? Họ có
còn giữ được giấc mơ lúc ban đầu không? Anh nói chuyện với
người quản thủ thư viện về ý định của anh. Một lúc sau họ
mang đến cho anh hàng chồng sách. Trong cái yên lặng trầm ngâm,
anh chọn ra mấy cuốn và lần giở từng trang...
*
Về người Nhật, trong cuốn Nisei (Thế hệ
thứ hai của Nhật Bản), cuốn sách này được tái bản ít nhất
là ba lần. Tác giả Bill Hosohawa trong chương The Search for
Identity (Đi tìm bản sắc), đã viết về Nisei những mẩu chuyện
như sau:
Những Nisei, được sinh trưởng ở đây, là công dân Mỹ có máu Nhật, họ
đang đi t́m bản sắc cho chính họ. Các Isei (Thế hệ đầu di dân Nhật) th́
băn khoăn về tương lai của con cháu họ, không biết có những ǵ không hay
sẽ xẩy ra cho các Nisei sau này.
Trong chương này, một thiếu niên Nisei đã nói về đời sống hòa
hợp giữa hai nền văn hóa trong gia đình của em như sau:
Đời sống trong gia đ́nh tôi là một sự hỗn hợp kỳ dị giữa Đông và Tây.
Tôi ngồi ăn bữa điểm tâm Mỹ và ăn bữa trưa của Nhật. Phần ăn của tôi
được khai triển lạ lùng giữa cơm, thịt ḅ và bắp cải. Tôi đă thành thạo
trong việc dùng dao, nĩa và đũa như nhau. Tôi đọc lời nguyện bằng tiếng
Nhật trước mỗi bữa ăn, và đọc kinh bằng tiếng Anh trước khi đi ngủ. Ngày
lễ Giáng Sinh, tôi treo vớ trên ḷ sưởi; ngày đầu năm của Nhật, tôi
nướng bánh dày và thưởng thức một cách ngon lành. Tôi nói với cha tôi
bằng tiếng Anh, bằng tiếng Nhật hay bằng một thứ tiếng hỗn hợp kỳ cục mà
tôi cảm thấy tiện lợi.
Nisei này đã đi đến một sự dung hòa tuyệt diệu, bình thản
giữa hai nền văn hóa trong đời sống của em. Một cuộc đời mà em
vừa phải sống để tranh đua với xã hội bên ngoài, vừa phải
sống để giữ gìn các phong tục, nối tiếp với thế hệ trước em.
Nhưng tác giả cho đây không phải là một trường hợp bình thường,
điển hình cho tất cả Nisei đang gặp phải trong đời sống của
họ. Tác giả viết tiếp:
Nhiều thiếu niên Nisei Nhật đă được dạy từ thuở ấu thời, họ sẽ là
nhịp cầu nối qua Thái B́nh Dương giữa hai nền văn hóa Đông và Tây, giữa
Hoa Kỳ và Nhật Bản, giữa nơi họ sinh trưởng và di sản của tổ tiên. Nhiều
Isei nghĩ rằng, con họ sẽ không bao giờ chấp nhận nhập vào đời sống Mỹ
một cách hoàn toàn, nên dạy cho các Nisei một số hiểu biết về Nhật Bản
và khuyến khích Nisei về thăm lại quê hương.
Trong một chuyến về thăm Nhật được tổ chức năm 1925 cho các Nisei, một
thiếu nữ đă phát biểu sự bối rối của cô về tương lai trong một buổi tiệc
do các nhà lănh đạo Nhật khoản đăi:
Tôi kính trọng nước Nhật, đó là đất của tổ tiên tôi, nhưng tôi không
biết ǵ về nước Nhật, tôi không nói được tiếng Nhật, mặc dầu chúng tôi
có những khó khăn tại Mỹ, tôi vẫn yêu nước Mỹ. Tôi muốn hết ḷng phụng
sự đất Mỹ hơn.
Để đáp lời, vị Đô Đốc chủ tọa đã ôn tồn nói với cô:
Cô hăy trở về Mỹ để trở thành một người học tṛ giỏi nhất, một chuyên
viên tốt nhất trong ngành cô chọn, một người vợ thảo nhất khi cô lập gia
đ́nh, một người mẹ hiền nhất và một người công dân Mỹ tốt nhất như cô
muốn. Tôi chắc rằng nước Mỹ sẽ vui ḷng được có cô, và chúng tôi ở Nhật
cũng sẽ hănh diện v́ cô đă tỏ ra là một công dân tốt của Hoa Kỳ."
Sau đó, nhiều chính giới Nhật cũng khuyến khích cô thành một
công dân tốt nơi cô sinh trưởng và họ còn khẳng định: Không ai
có thể sống tích cực và thành công được khi mà ḷng trung thành c̣n bị
phân xẻ.
Đó là lời lẽ của các nhà lãnh đạo trong buổi lễ chính thức.
Nhưng trong thời gian cô lưu lại Nhật, làm việc cho một cơ quan
văn hóa quốc tế tại Tokyo, cô đã nhận chân ra mặt trái của sự
thật, và cô đã mạt sát thậm tệ:
Hầu hết các nhà giáo dục và lănh đạo Nhật đều tồi tệ. Họ khinh bỉ
Nisei về lối sống Mỹ và sự thiếu hiểu biết về văn hóa và nghi lễ Nhật.
Họ coi Nisei không có khả năng nói tiếng Nhật đúng cách và chỉ là con
cháu của giai cấp bần nông thấp kém đă phải bỏ xứ đi tha phương cầu thực.
Ít lâu sau, cô trở về Mỹ. Cô đã bị dân Nhật ghét bỏ. Cô đã mạt
sát họ và trớ trêu thay dù cô có tuyên bố yêu nước Mỹ đến thế
nào, thì 20 năm sau, chắc gì cô đã thoát khỏi cảnh bị chính
quyền Mỹ đưa vào trại tập trung khi hạm đội Nhật tấn công Trân
Châu Cảng trong Thế chiến thứ hai.
Kiếm việc làm ở Mỹ thì bị khó khăn vì nạn kỳ thị. Trở về
Nhật, muốn phục vụ, lại càng khó khăn hơn khi muốn tìm một
chỗ đứng.
Nhiều Nisei tình nguyện về thăm, theo các chương trình khảo cứu
hay du học ở Nhật. Họ đã nhiễm văn hóa Mỹ, nên gặp nhiều khó
khăn để điều chỉnh cách sống, đó là chưa kể đến sự khinh thị,
nhạo báng của những người cùng giòng máu với họ. Các điều
đó khiến các Nisei chán ghét Nhật Bản đến nỗi họ đếm từng
ngày để trở lại Hoa Kỳ.
Một số Nisei thuộc tuổi học trò đã được cha mẹ gửi về Nhật
sống với ông bà hay thân thuộc để được thụ huấn khuôn mẫu của
Nhật. Những Nisei này đang học dở dang nền giáo dục Hoa Kỳ, nay
lại phải hướng về nguồn gốc Nhật. Vì các Nisei là công dân
Mỹ, nên đến tuổi trưởng thành họ trở lại Hoa kỳ với ước vọng
của cha mẹ là con mình còn giữ được bản chất của người Nhật.
Nhưng lại có vấn đề là khi trở về Mỹ, họ lại thấy hoàn toàn
không hợp với các Nisei cùng lứa tuổi ở Mỹ. Họ cảm thấy lạc
lõng, y như lúc còn ở Nhật. Cảm nghĩ của họ bây giờ theo lối
Nhật, tiếng Anh lại cập quạng. Họ lại trải qua bao khó khăn,
không biết đến bao giờ mới nhập lại được vào đời sống Mỹ,
cùng với các Nisei khác. Thành thử suốt đời họ lâm vào tình
huống bối rối, luôn luôn lo điều chỉnh cuộc sống, luôn luôn tìm
hiểu mình là gì trong đám người mình muốn hòa nhập.
Anh nhớ đến một buổi hội trước đây, một Sansei (Người Nhật
thuộc thế hệ thứ ba) đến thuyết trình về đề tài sự hội nhập
văn hóa của người di dân. Sau phần trình bày, một câu hỏi được
đặt ra cho Sansei này là: "Anh nghĩ thế nào về nước Nhật, anh
có hãnh diện về nền kinh tế hùng cường của Nhật không? Sansei
này thản nhiên trả lời: Tôi không có cảm nghĩ ǵ cả.
*
Nói về người di dân Trung Hoa, trong cuốn The
Story of Chinese in America, cuốn này đã được tái bản nhiều
lần, tác giả Betty Lee Sung đã đưa bốn mảnh đời trong chương
Joining the Mainstream (Nhập vào giòng chính) như sau:
Cô Lila Huey, sinh tại Mỹ, đă nổi giận khi mọi người gọi cô là Tàu, "
Đừng gọi tôi là Tàu, tôi là Mỹ. Cha tôi tuy sinh ra ở Trung Hoa, nhưng
đă ở đây trên ba mươi năm. Mẹ tôi sinh ra ở xứ sở này và chúng tôi đă là
công dân Mỹ. Tôi không có liên hệ ǵ với nước Trung Hoa và điều làm tôi
khó chịu khi có người hỏi tôi " cô là Tàu hay Nhật.” Tôi thường trả lời
bằng cách hỏi ngược lại, " Ông là người Ư, người Hy Lạp hay người ǵ?...
Lila sau này tốt nghiệp đại học Univrsity of Washington, Seattle,
và tìm được việc một cách dễ dàng. Lần đầu tiên trong đời, cô
cảm thấy không phải là người Mỹ hoàn toàn, khi cô bắt đầu yêu
một thanh niên Trung Hoa. Cô thú nhận rằng: Tôi muốn kết hôn với
người cùng gịng giống tôi. Tất cả những thanh niên khác trong vùng
Seattle và Porland mà tôi quen ở đại học đều không hợp với tôi.
Harry Dear không để ý khi bị người ta gọi là Tàu. Anh ta nói:
Tôi là Mỹ. Tôi hănh diện về dân tộc tôi, về di sản của tổ tiên tôi. Tôi
tới Mỹ từ lúc c̣n bé, lớn lên ở chợ Tàu New York. Tôi không nói được
tiếng Anh trước khi tôi đi học trường công. Mẹ tôi góa chồng. Mẹ tôi đi
may thuê để nuôi tôi. Mẹ tôi không nói được một tiếng Anh nào, ngay cả
bây giờ cũng thế. Tất cả bạn bè tôi ở chợ Tàu đều nói tiếng Anh theo
kiểu "chop sui". Tôi không bao giờ được điểm cao quá " C" về Anh văn.
Khi vào đại học, tôi vẫn c̣n bị bạn bè cười v́ tiếng Anh "chop sui "của
tôi cứ vô t́nh tuôn qua cửa miệng.
Sau này, Harry trở thành một kỹ sư trưởng trong một công ty.
Raymond Eng, tốt nghiệp đại học Tôn Dật Tiên tại Quảng Đông. Đến
Mỹ năm 1937, anh làm báo để truyền bá tư tưởng quốc gia và
chống cộng sản. Anh tham gia cộng đồng, họp mặt với các lãnh
tụ trong chợ Tàu. Anh được mọi người kính nể và thường giữ
vai trò hòa giải và cố vấn cho cộng đồng. Sau này, anh bỏ
nghề làm báo và chuyển sang địa hạt địa ốc, bảo hiểm, thuế,
thông dịch. Anh kết hôn với Tze Chun, nữ sinh viên Trung Hoa du học
bị kẹt lại khi Trung Cộng chiếm lục địa.
Cả hai sau này trở thành công dân Mỹ, nhưng cứ đến ngày Song
Thập, anh đều lên diễn đàn hô hào đuổi cổ Cộng Sản ra khỏi
Trung Hoa yêu dấu của anh.
Man Fook Liu, theo chân cha đi tới Mỹ để tìm vàng. Giấc mơ của
Man Fook Liu là làm việc cật lực, để dành từng xu và trở về
Tàu với túi đầy vàng.
Trước khi anh rời Trung Hoa, gia đình cưới vợ cho anh. Anh đã có
một con trai để nối giõi và là cái cớ để nhắc anh phải trở
về. Anh tới Mỹ, như lòng đã nguyện là làm việc không nghỉ và
mong kiếm được một mớ để trở về quê hương. Nhưng giấc mơ đó đã
không bao giờ tới. Túi mãi không đầy vàng và Trung Hoa thì mất
vào tay Cộng Sản. Anh cố tìm cách gửi tiền về nhà, nhưng được
tin vợ anh đã chết từ lâu, còn con anh chạy lạc sâu vào nội
địa, khi bị Nhật Bản chiếm.
Hiện giờ Man Fook Liu đã hơn sáu mươi tuổi, không biết mình có
nên trở lại quê hương nữa hay không, và cũng không biết mình
muốn gì bây giờ. Còn tương lai thì chỉ mong khỏi mất cái việc
phụ thợ giặt mà ông đang làm.
Bốn hình ảnh trên, tác giả nêu ra tượng trưng cho các di dân
Trung Hoa tại Mỹ. Lila mong mỏi hoàn toàn đổi thành Mỹ. Harry
thành công khi hội nhập vào xã hội Mỹ và vẫn tự hào về
nguồn gốc của mình. Raymond đã gắn liền đời mình với cộng
đồng. Anh phục vụ cộng đồng và tìm sự kính nể ở đó. Còn Man
Fook Liu là một kẻ tạm lưu cư, dù rằng đã sống gần trọn đời
tại Mỹ, nhưng đầu óc và tâm hồn vẫn không rời Trung Quốc.
*
Về người di dân Phi Luật Tân, trong cuốn Asian
American -Psychological Perspective gồm nhiều bài nghiên cứu
của giáo sư tại các đại học do Stanley Sue, Ph.D. và Nathaniel N.
Wagner, Ph.D. biên soạn. Tác giả Fred Cordova đã phẫn nộ trong
chương Filipino Americans: There's Always an Identity Crisis,
(Người Mỹ gốc Phi luôn luôn có một khủng hoảng bản sắc) như
sau:
Rất nhiều người Mỹ, không phải chỉ có Mỹ trắng không biết đến người
Phi, và một điều đủ để ngạc nhiên là chính người Phi cũng không biết họ
là ǵ nữa. Có hai điều hiển nhiên là có những định chế kỳ thị trong xă
hội người da trắng và sự tự quên dần mất bản sắc của chính người da nâu.
Người Phi tự gọi họ là người da nâu, không giống như những dân
da vàng của Á Châu như Tàu và Nhật. Nhiều năm trước, trong các
cuộc thống kê về dân số, họ thường bị đặt vào loại " other"
(người khác) trong loại "Oriental or other" ( người Phương
Đông hay người khác). Phi Luật Tân có 87 ngôn ngữ và hầu hết di
dân Phi đều có tên lấy theo chữ Tây Ban Nha. Họ cứ bị nhầm lẫn
hoài: khi thì Nhật, khi thì Tàu, khi thì Hạ Uy Di, khi thì dân
da đỏ, khi thì Mễ Tây Cơ... khi thì là dân da đen vì màu da sậm
và cùng có thị hiếu như thích nghe nhạc dậm dật, khi thì da
trắng vì có tôn giáo, học vấn và đời sống giống họ.
Sự nhầm lẫn nầy đã khiến một giáo sư người Phi tại Seattle
University nói: Tôi luôn luôn bị giằng co với sự khủng hoảng bản
sắc. Khi th́ tôi là người Phi-Mă Lai, khi th́ là người Phi-Tây Ban Nha,
rồi lại là người Phi-Mỹ và sau này th́ lại là người Mỹ-Phi. Cuối
cùng, giáo sư này phải nổi quạu: Nhưng, hăy nhớ có một sự bất biến
là cha mẹ tôi, các con tôi và tôi đều được tạo ra từ Adam và Eva. Để tóm
lại, tôi nghĩ tôi là người Mỹ-Phi da đen-Mă Lai-Đông Dương-Tây Ban
Nha-Nhật và...tôi là loài người!
Anh không có thì giờ đọc hết các chồng sách mà người quản
thủ thư viện đưa cho anh. Anh biết rằng trong đó có biết bao
nhiêu cuộc đời của các người di dân, tị nạn từ bên kia Thái
Bình Dương đến. Có những giấc mơ đã thành, nhưng có bao nhiêu
giấc mơ đã tàn lụi theo cuộc đời của họ. Có bao nhiêu tấm
lòng hoài vọng cố hương, về miền Dương Tử, về miền Tô Châu, về
miền Hoa Nam của lục địa, và những hòn đảo đầy hoa đào trên
biển Nhật Bản lạnh giá hay trên biển Nam Hải nắng ấm xa xưa...
*
Tối đó, anh trở về nhà, nằm thao thức không
ngủ. Nghĩ đến ngày trở về quê hương, sao mà thấy khắc khoải.
Biết bao nhiêu người còn muốn rời bỏ quê hương ngay cả cái cột
đèn nếu biết đi c̣n muốn bỏ nước ra đi, tự nhiên anh thấy thấm
đau hơn. Anh nghĩ đến đám con anh đem đi từ bên kia Thái Bình
Dương và những cháu chắt của anh sau này. Chúng có sẽ bị trận
cuồng phong kéo đi mất hay không? Chúng có còn muốn giữ nguồn
gốc không? Chúng có tìm được bản sắc của chúng không? Chúng
có bị bỏ quên không? Chúng có bị nhìn lầm không? Chúng có thể
hội nhập vào giòng sông chính mà vẫn tự hào về di sản của
tổ tiên không?
Chúng có còn muốn trở về quê hương Việt Nam không? Và khi chúng
muốn trở về, những người bên nhà có mở rộng vòng tay như đón
những đứa con, đón những người anh em không quen biết từ bao năm
hay không?
Chúng có sẽ là một kẻ lạ trên chính quê hương của tổ tiên
chúng hay không? Ngay cả chính anh nữa, anh vẫn tin là anh vẫn
không thay đổi so với ngày rời nước ra đi. Nhưng dầu sao đời
sống vật chất cũng ảnh hưởng đến anh và mọi người không ít.
Trong khi đó, hình ảnh của những người ở Việt Nam có vẫn như
trước ngày rã đám tan hàng hay không? Những cảm nghĩ của họ
và của anh có còn giống nhau sau hàng mấy chục năm trời xa
cách hay không?
Đó là chưa nói đến những sự thù nghịch về chính kiến, những
mối hận về tù đầy không hiểu đến bao giờ mới phai nhòa được.
Anh không muốn nghĩ thêm nữa, choàng dậy gọi điện thoại cho một
người bạn thân từ hồi còn ở trung học, sau này ông ta thành
một giáo sư, suốt đời chỉ vùi đầu vào những chồng sách cổ.
Anh coi ông bạn như một cây tra cứu, mỗi lần anh muốn tìm dấu
vết của các vấn đề cổ xưa. Sau khi sang đây, bạn anh vẫn còn
say mê với cái thú đó; sách vở tàng trữ trong nhà ông ta như
một cái thư viện nhỏ.
Người bạn bị đánh thức, càu nhàu, nhưng khi nghe anh đề cập
đến vấn đề đi tìm bản sắc, bản chất và nguồn gốc của người
Việt, thì ông ta tỉnh hẳn ngủ. Như một cái máy, ông trở ngược
lại bốn ngàn năm. Từ cái thuở Rồng Tiên gặp nhau, đời Xích
Quỷ, Kinh Dương Vương, gặp Long Nữ, từ dấu chân Bách Việt, Tây
Tạng theo sông Hồng Hà đi xuống, từ Nam Dương vượt Biển đi
lên...miên man bất tận đưa anh xuôi đường vào dòng lịch sử.
Anh phải chận ngay bạn lại, vì sợ bạn kéo dài hết đêm. Anh
ngỏ ý là anh muốn tìm lại hình ảnh của người Việt Nam với
bản sắc, bản chất từ những tài liệu đáng tin cậy để anh và
con cháu có thể giữ được ở cái đất nước nầy. Thế là ông bạn
khảo cổ của anh có công việc làm, và đó lại là một trọng
trách nữa. Tự nhiên anh thấy thương bạn, đôi kính dày, cặm cụi,
hăng say. Chắc cả đêm nay, nếu có chợp mắt được lúc nào, thì
hồn ông ta sẽ bay bổng về thời Văn Lang, Hồng Bàng qua Đinh, Lê ,
Lý, Trần, hay lẩn quẩn bên các kệ sách trong phòng. Anh mong bạn,
ngày mai đầu óc đừng có để đâu đâu, đến sở làm nhìn việc này
ra việc khác thì phiền lắm.
Hai hôm sau, nghe tiếng điện thoại, anh chắc là của bạn. Khi anh
vừa lên tiếng trả lời thì bạn anh bắt đầu ngay như một bài
luận thuyết:
“Tôi muốn nói với ông điều này, trước khi đi t́m bản sắc cho con ông,
cho cháu ông, cho chắt ông và cho cả ông nữa, để khỏi bị nhận lầm, để
sống và có thể ngẩng mặt được ở xứ nầy, để có thể ḥa hợp với bà con bên
nhà được, th́ phải bàn đến mấy vấn đề căn bản trước.
Nói đến bản sắc th́ phải nói đến văn hóa, văn hóa và bản sắc thường đi
liền với nhau, văn hóa tạo ra bản sắc và bản sắc duy tŕ văn hóa. Cho
nên phải biết bản sắc và văn hóa là ǵ. C̣n tài liệu Việt Nam mà tôi
nghĩ ông có thể tin cậy được là của hai học giả Trần Trọng Kim và Đào
Duy Anh.
Trước hết nói về văn hóa, xem Mỹ nó định nghĩa ra sao. Theo E.B. Taylor,
một nhà nhân chủng học hiện đại trong cuốn Primitive Culture 1981:
Văn hóa là một tổng hợp hỗn tạp gồm kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật,
luân lư, luật lệ, phong tục và những khả năng khác cùng tập quán đ̣i hỏi
ở một người để thành một phần tử của xă hội đó.
Theo James A. Bank, một nhà đa chủng học, trong cuốn Social Education
1983, đưa đến định nghĩa gần với bản sắc hơn:
Văn hóa là những giá trị, những biểu tượng, những cách sống, những định
chế do con người tạo ra để phân biệt giữa những nhóm người này với nhóm
người khác.
Theo học giả Đào Duy Anh, trong cuốn Việt Nam Văn Hóa Sử Cương1938,
trong chương " Văn hóa là ǵ?" ông đi đến một định nghĩa rất là giản dị
và bao quát sau khi đưa ra các dẫn chứng:
Hai tiếng văn hóa chẳng qua là chỉ chung tất cả các phương diện sinh
hoạt của loài người cho nên ta có thể nói rằng: Văn hóa tức là sinh
hoạt”.
Anh sợ bạn đi từ định nghĩa này đến định nghĩa khác, sẽ bỏ
bữa cơm chiều. Anh định ngắt lời nhiều lần, nhưng không được.
Bạn anh cũng hiểu ý và chận ngay:
“Ông đă biết rằng một nền văn hóa được tạo thành cũng phải trải qua
hàng trăm, hàng ngàn năm . Khi nói chuyện về văn hóa và bản sắc mà ông
vội vàng như thế làm sao thảo luận được. Ông cũng biết tạo ra con người
th́ dễ, nhưng cho con người đó có một bản sắc riêng biệt không phải là
một chuyện trong thời gian ngắn.
Phải biết kiên nhẫn, phải biết bắt đầu đi từ đâu, phải biết những ǵ
ḿnh cần bỏ đi và cần t́m thêm.
Ông có biết văn hóa của chúng ta có những đặc tính ǵ không? Trong
chương tổng luận cuốn Việt Nam Văn Hóa Sử Cương, học giả Đào Duy Anh đă
nêu ra năm đặc tính của nền văn hóa Việt Nam:
- Thứ nhất văn hóa lấy nông nghiệp làm nền móng.
- Thứ hai lấy gia tộc làm cơ sở, cá nhân ch́m trong gia tộc.
- Thứ ba là an cư lạc nghiệp, ưa chuộng ḥa b́nh, không muốn cạnh tranh.
- Thứ tư là lưu tự, lưu truyền gịng giống, tiếp nối sự nghiệp tổ tiên.
- Thứ năm là thường tồn, không thay đổi, quá khứ lẫn trong hiện tại.
Cũng theo học giả, năm đặc tính kể trên đă có một kết quả tốt trong cái
xă hội nông nghiệp. Sau đó bị va chạm với nền văn hóa động"của Tây
Phương, của kỹ nghệ th́ cái văn hóa " tĩnh" của chúng ta đă bị lung lay,
không thể đứng vững được, mà phải biến đổi. Đến nay, ông thử nghĩ xem,
không phải ḿnh chỉ có va chạm, mà ḿnh bị bật gốc, bị đem đi khỏi cái
nền móng cũ, sống lạc lơng trong một xă hội kỹ nghệ, thành dân thiểu số
trong đa số th́ ông sẽ tưởng tượng ḿnh sẽ phải ứng biến đến mức độ
nào.Thôi tôi sẽ nói ngay về bản sắc và t́m cho ông h́nh ảnh của người
Việt Nam mà ông muốn t́m..
Nhưng ông có biết bản sắc được định nghĩa là ǵ không? Tôi có bốn cuốn
tự điển tiếng Việt trong nhà. Trong cuốn của hội Khai Trí Tiến Đức, tôi
t́m không thấy. Cuốn của Lê NgọcTrụ và một số tác giả th́ " Bản sắc là
màu sắc tự nhiên của một vật, màu sắc tượng trưng tính chất của một sự
việc, một người: bản sắc quốc gia, bản sắc nghệ thuật.
Cuốn Tự Điển Tiếng Việt, Nhà Xuất Bản Khoa Học Xă Hội, trong nước chép
lại một phần định nghĩa của Lê Ngọc Trụ: ‘’Bản sắc: màu sắc, tính chất
riêng tạo thành đặc điểm chính. Bản sắc dân tộc.
Trong cuốn Hán Việt Tự Điển của Nguyễn văn Khôn th́ “ Bản sắc là chân
tướng” và “chân tướng là bản tướng tướng mạo thật”.
Những định nghĩa này thật sơ sài, có lẽ v́ trước kia chúng ta sống trên
đất nước của ḿnh nên vấn đề này không được đặt nặng.
Hăy lấy một định nghĩa có tính cách khoa học hơn trong cuốn tự điển The
American Heritage Dictionary th́ chữ “Identity" là " Toàn bộ phẩm hạnh
hay nhân cách mà một cá nhân được thừa nhận là phần tử của một nhóm
người.
Ông đă biết những định nghĩa trên, th́ đi t́m h́nh ảnh của người Việt
Nam cũng không khó khăn lắm. Từ xưa, người Việt vẫn tin ḿnh là giống
dân Giao Chỉ. Lúc tôi c̣n nhỏ, khoảng 11 tuổi, họa hoằn tôi thấy được
một vài dân quê ở miền Bắc có bàn chân mà hai ngón cái tỏe ra. Khi hỏi
thầy giáo, th́ được dạy đó là bàn chân Giao Chỉ, hai ngón chân cái giao
với nhau. Ngày nay, chắc ít ai muốn có cái bàn chân nguyên thuỷ đó nữa;
đó là một lẽ tự nhiên chẳng cần bàn.
Tôi có t́m được một đoạn, tả về người Việt Nam trong cuốn Việt Nam Sử
Lược của học giả Trần Trọng Kim, nghe xong nếu có những điểm không ưa
th́ cũng đừng bất b́nh. Tôi cũng xin ông b́nh tĩnh để cùng nghe cả đoạn
này để cùng suy ngẫm:
“Người Việt Nam thuộc về loại da vàng, nhưng mà người nào phải đi làm
lụng dầm mưa dăi nắng lắm, th́ nước da ngăm ngăm đen, người nào nhàn hạ
phong lưu ở trong nhà luôn th́ nước da trăng trắng như màu ngà cũ.
“Trạc người th́ thấp nhỏ hơn người Tàu, mà lăn lẳn con người, chứ không
to béo. Mặt th́ xương xương, trông hơi bèn bẹt, trán th́ cao và rộng,
mắt th́ đen và hơi xếch về đàng đuôi, hai g̣ má th́ cao, mũi hơi tẹt,
môi hơi dầy, răng th́ to mà lại nhuộm đen. Râu th́ thưa mà lại ít, tóc
th́ nhiều và dài, đen và hơi cứng. Dáng điệu đi đứng th́ nhẹ nhàng và
xem ra vững chắc .
“Áo quần th́ dài rộng, đàn ông th́ búi tóc và quấn khăn vành rây, áo mặc
dài quá đầu gối, tay áo th́ chật, ống quần th́ rộng. Đàn bà ở Bắc Việt
và phía Bắc Trung Việt th́ đội khăn, mà ở chỗ thành thị th́ mặc quần,
c̣n ở nhà quê th́ hay mặc váy. Ở phía nam Trung Việt và Nam Việt th́ đàn
bà mặc quần và búi tóc, chứ không đội khăn bao giờ.
“Về đàng trí tuệ và tính t́nh, th́ người Việt Nam có cả các tính tốt và
các tính xấu. Đại khái th́ trí tuệ minh mẫn, học chóng hiểu, khéo chân
tay, nhiều người sáng dạ, nhớ lâu, lấy sự nhân, nghĩa, lễ, trí, tín làm
năm đạo thường cho sự ăn ở. Tuy vậy cũng hay có tính t́nh vặt, cũng có
khi quỉ quyệt, và hay bài bác chế nhạo. Thường th́ nhút nhát, hay khiếp
sợ và muốn sự ḥa b́nh, nhưng mà đă đi trận mạc th́ cũng có can đảm,
biết giữ kỹ luật.
“Tâm địa th́ nông nổi, hay làm liều, không kiên nhẫn, hay khoe khoang và
ưa trang hoàng bề ngoài, hiếu danh vọng, thích chơi bời, mê cờ bạc. Hay
tin ma, tin quỉ, sùng sự lễ bái, nhưng mà vẫn không nhiệt tin tôn giáo
nào cả. Kiêu ngạo và hay nói khoác, nhưng có ḷng nhân, biết thương
người và hay nhớ ơn.
“Đàn bà th́ hay làm lụng và hay đảm đang, khéo chân, khéo tay, làm được
đủ mọi việc mà lại biết lấy việc gia đạo làm trọng, hết ḷng chiều
chồng, nuôi con, thường giữ được các đức tính rất quí là tiết, nghĩa,
cần, kiệm.
“Người Việt Nam từ Bắc chí Nam, đều theo một phong tục, nói một thứ
tiếng, cùng giữ một kỷ niệm, thật là cái tính đồng nhất của một dân tộc
từ đầu nước đến cuối nước”.
Đoạn văn trên của cụ Trần Trọng Kim đă tả người Việt Nam trước 1930 về
phong diện, y phục và đủ các tính tốt và xấu. Đến nay, qua gần thế kỷ,
người Việt đă thay đổi những ǵ? Sự dinh dưỡng có tốt hơn để thay đổi
được tướng mạo không? Y phục th́ đă gần như thay đổi hoàn toàn. Những
điều Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín và Tiết, Nghĩa, Cần, Kiệm có c̣n giữ
được và phát triển thêm không? Các tính xấu có bớt đi hay đă tăng thêm?.
Một điều ông phải lưu ư con người Việt Nam nói trên đă sống trong cái xă
hội hoàn toàn Việt Nam, chắc không có nhiều sự so sánh lắm. Nay đem ra
sống trong một quốc gia tạp chủng. Giữa đám người từ khắp nơi trên thế
giới đến, th́ sự so sánh và cái nh́n sẽ có nhiều khác biệt.
So với các sắc dân tại Hoa Kỳ th́ người Việt đă nổi tiếng về hiếu học,
minh mẫn, lanh lẹ và trọng đạo đức. Có một vài tính xấu nếu đem ra so ở
đây th́ chắc cũng chẳng xấu lắm. Như quỉ quyệt th́ chắc không thể nào so
sánh với sự quỉ quyệt khoa học của dân tạp chủng. Tiếng Mỹ th́ chưa
thông, ngôn từ không đủ th́ sao có thể chế nhạo, bài bác hay khoác lác
với ai được. Cả đến "khoe khoang, trang hoàng bề ngoài, thích danh vọng"
th́ có thấm vào đâu với các anh Mỹ nhà giàu quyền thế. Này ông bạn, ông
có thấy rất nhiều người gửi đi xin việc, được phỏng vấn, nhưng số đông
được trả về v́ quá lễ phép, quá khiêm tốn, đă không biểu lộ được cái
khả năng thường nhật của ḿnh, nói chi đến sự phô trương, khoác lác."
Ông có thấy, các tính xấu mà cụ Trần Trọng Kim gọi là cái xấu trong cái
xă hội của ḿnh nó đă không phát hiện ra bên ngoài xă hội Mỹ, mà phiền
thay, nó vẫn lẩn quẩn trong cộng đồng chúng ta để đục phá lẫn nhau, để
bài bác, kiêu ngạo, khoác lác, khoe khoang với nhau.
Tôi nói những điều trên không phải muốn luân lư giáo khoa với ông. Nhưng
để chứng minh một điều, ḿnh mới đến đây, chưa có kinh nghiệm va chạm
nhiều, nên trong vấn đề đi t́m bản sắc, hay trở về nguồn, những cái
hay, tốt riêng biệt của người ḿnh th́ cố giữ. Nhưng trong những cái hay
đó, không chắc mọi điều được coi là hay ở xứ này, mà ḿnh cứ cố giữ th́
cũng hoài công phí sức. Ngay cả cái dở của ḿnh, chưa chắc nó đă hoàn
toàn dở mà ḿnh phải bỏ; có điều ḿnh phải điều chỉnh làm sao cho thích
hợp.
Theo ư tôi, đi t́m bản sắc không chỉ có nghĩa thụ động, để họ phân biệt
được và nh́n ḿnh là người Việt Nam. Tuy trong cái thụ động này, thật sự
nó cũng đă có bao nhiêu cố gắng, yên lặng hay ồn ào để duy tŕ liên tục
bản chất Việt Nam.
Đi t́m bản sắc c̣n bao hàm ư nghĩa không những tự tồn mà c̣n phát triển
cho từng cá nhân và cho cả tập thể liên hợp. Hiệp chủng quốc là một quốc
gia tiến bộ không ngừng, thay đổi rất nhanh, đào thải những kẻ đứng lại,
những kẻ đi ngược ḍng . Cái khó khăn của chúng ta là phải vừa theo kịp
nhịp độ của họ mà vẫn giữ được bản sắc của ta.
Trong vấn đề văn hóa và bản sắc tại đây, người ta thường đặt ra hai vấn
đề: Một là đồng hóa, hai là thích hợp hóa. Đồng hóa được Weinstock S.
Alexander trong cuốn Acculturation and Occupation 1969, định nghĩa như
sau: “Đồng hóa là sự mất hết văn hóa và bản sắc nguyên thủy của một cá
nhân hay một tập thể để bị thu nhập vào một nền văn hóa đang thống trị.
Người Việt chúng ta không ai muốn bị đồng hóa, mà dù có muốn cũng không
được. Hăy đem đổ những hạt đậu trắng, đậu đen, đậu vàng vào một cái tô
và trộn lẫn đến trăm lần, người ta vẫn có thể nhặt ra đậu đen, đậu vàng
và đậu trắng riêng biệt.
Những người dân da trắng từ Âu châu đến Hoa Kỳ, chỉ ít năm sau là họ trở
thành Mỹ đặc. C̣n chúng ta, dù trải qua bao nhiêu thế hệ, vẫn sẽ chỉ là
những hạt đậu vàng trong tô đậu hỗn hợp trên mà thôi.
Quốc gia Hoa Kỳ trước kia thường chủ trương và thúc giục mọi người đồng
hóa, như một melting pot. Từ khi làn sóng di dân của nhiều quốc gia tràn
đến, họ đă bắt đầu thay đổi một số quan niệm, và thêm vào đó là sự thích
hợp hóa, và nay lại đề cao sự đa dạng của văn hoá, Salad bowl và
Cultural Diversity.
Gác bỏ sự đồng hóa, vấn đề của chúng ta ở đây là trong cái đám đậu vàng
đó, ḿnh không bị nhận lầm là người Tàu, người Nhật hay người Phi và làm
sao để các sắc dân khác trọng nể ḿnh.
Nói về thích hợp hóa, đó là sự diễn biến của sự học hỏi và điều chỉnh
dần dần của các cá nhân sống trong một xă hội có những dị biệt văn hóa.
Thích hợp hóa là cả một nghệ thuật sống của người di dân, nhất là di dân
Á Châu. Những giá trị của đời sống, những định chế xă hội, những phong
tục tập quán, đời sống văn hóa, ngôn từ ngôn tự, thực phẩm, y phục và
phải nói đến cả văn chương nghệ thuật v.v...của cả hai nền văn hóa,
chúng ta đều cần thấu hiểu cho cuộc sống mới, mà lúc nào cũng có thể giữ
được bản chất đặc thù của ḿnh.
Thích hợp hóa không phải là đem hai nền văn hóa trộn lẫn với nhau. Cũng
không phải cố giữ mức thăng bằng điều ḥa của hai đời sống Đông và Tây.
Nó là cả một sự hỗn hợp của chiến lược, chiến thuật của trường kỳ và
đoản kỳ, lúc tiến, lúc lui, lúc ḥa, lúc phá, lúc thoát, lúc nhập...
trong từng môi trường, trong từng hoàn cảnh, từng thời gian để nắm lấy
phần ưu thắng, để ẩn ḿnh an toàn và cũng để chung sức và chia sẻ hạnh
phúc cũng như gian khổ với mọi người. Nó cũng không phải là một công
thức cứng nhắc, cuồng tín hay khiếp nhược và tự ḿnh phải đặt một lằn
ranh cuối của mức lùi, mức mất và một lằn ranh không vượt quá để c̣n có
thể thắng lại được...
Nói đến người di dân tại Hoa Kỳ, nhiều người cho rằng mức độ đồng hóa
càng cao th́ càng có nhiều cơ hội thành công và cũng như thế mức độ
thích hợp hóa càng cao th́ mức độ của đời sống kinh tế và xă hội cũng
thấy rơ rệt khá hơn.
Khi nghiên cứu về bản sắc, nó đem lại cho ta nhiều ư nghĩa. Con cháu
chúng ta sẽ trả lời được những câu hỏi " Tôi là ai?", " Tại sao tôi lại
phải đổi tên?", " Tại sao tôi lại là dân Mỹ?", " Tại sao tôi không phải
là một kẻ tị nạn chính trị măi măi? Đi t́m bản sắc không những cho thấy
bản ngă của ta, mà sẽ đem lại cho ta những niềm tự kiêu hănh và tự kính
mến ḿnh. Ông có nhớ Alex Haley, tác giả da đen nổi tiếng trong cuốn "
Roots", và sau này thành một cuốn phim trường thiên chiếu đă trên các
đài truyền h́nh không?
Ông ta đă mất bao năm lần ṃ về cội nguồn của ḿnh. Từ bao thế hệ nông
nô tại Mỹ, ngược ḍng về bộ lạc tổ tiên ông trong rừng già ngày xưa. Ông
đă đưa những h́nh ảnh từ ngày Kunta kinte, người thiếu niên, tổ tiên của
ông sống tự do trong cảnh trời đất sơ khai, ngày bị sa lưới nhốt trong
cũi. Những ngày bị trói và xếp như cá hộp trong hầm tầu vượt Đại Tây
Dương khổ hơn kiếp súc vật. Ngày bị đem ra bán đấu giá, và những chuỗi
ngày dài làm nô lệ trong các nông trại trồng bông miền Nam...
Alex Haley đă cho mọi người biết dù là dân da đen, dù bị làm nô lệ, họ
vẫn có đủ các thiên tính của con người mà thượng đế đă tạo ra. Họ vẫn có
đầy đủ các đức bao dung, nhân ái, tự trọng. Họ cũng ham muốn tự do và
cũng đủ sức chịu đựng như Chúa đă chịu đóng đanh trên thánh giá. Cuốn "
Roots" không những có giá trị về văn học mà nó c̣n giúp cho mọi người
nhận chân được cội nguồn và phẩm giá của dân da đen. Nó cũng đă giúp
phá bỏ được phần nào sự khinh thị và mặc cảm vẫn bao trùm lên giống dân
của ông.
Nếu bản tướng, chân tướng là của một cá nhân th́ bản sắc phải do mỗi
người trong tập thể cùng có chung. Có bản sắc, như có một cái khiên, cái
mộc để bảo vệ cho tất cả mọi người trong cộng đồng. Nhiều vấn đề, người
ngoài họ phải e dè, nếu khi chạm đến một người, tức là chạm đến cả cộng
đồng. Các cá nhân dù có sống đơn độc ở nhiều nơi, họ cũng được cái dù
vô h́nh ấy che chở.
Một điều quan trọng nữa cho tất cả người Việt Nam của chúng ta, trong
vài ba thập niên nữa, nếu chúng ta không t́m ra được cái bản sắc chung,
th́ mấy triệu người Việt Kiều tị nạn hải ngoại trên khắp thế giới sẽ
thành Việt Mỹ, Việt Gia Nă Đại, Việt Pháp, Việt Đức, Việt Anh, Việt Ư ,
Việt Úc...Và nay c̣n cả một khối hàng trăm ngàn người trong nước xuất
cảng lao động t́m cách ở lại, họ sẽ thành Việt Nga, Việt Hung, Việt
Tiệp, và hàng ngàn cô gái nông thôn muốn thoát khỏi cảnh lầm than cố ra
đi để lấy chồng ngoại quốc, họ sẽ thành Việt Hàn, Việt Đài Loan và sẽ
là Việt ǵ ǵ thêm nữa. Ng̣ai ra hôn nhân dị chủng ngày càng có khuynh
hướng gia tăng. Chúng ta tự hỏi có điều ǵ giữ họ ngồi được với nhau,
có cái ǵ giúp họ nhận ra là anh em, đồng bào. Cái chuẩn của bản sắc là
ǵ, nếu không chỉ c̣n là một đống sà bần không tên. C̣n thêm nữa, với
bao nhiêu dị biệt và văn hóa bên ngoài, bao nhiêu pha trộn làm sao có
những điểm chung với những người Việt Nam trên quê hương mấy chục năm
sau.
Chúng ta hăy nh́n những người di dân Trung Hoa. Với kinh nghiệm của họ,
họ di dân không ngừng, họ định cư ở khắp thế giới, và trải qua bao nhiêu
thế hệ, dù ở đâu họ vẫn giữ được h́nh ảnh của họ liên tục. Chợ Tàu như
một điểm tựa, và quê hương như một hậu cứ khổng lồ vô biên. Hàng năm,
mỗi lần lễ song thập, tất cả các đại diện Hoa kiều trên thế giới lại
quay về họp mặt, và họ vẫn c̣n nói thứ tiếng của tổ tiên họ. C̣n chúng
ta, không biết đến bao giờ mới có một ngày như " Song thập" thật sự như
họ trên quê hương ta.
C̣n di dân Nhật Bản, họ là những người chịu nhiều sự đau khổ về bản sắc
với quốc gia của họ nhất. V́ biến cố lịch sử của thế chiến thứ hai,
chính phủ Mỹ đă cấm di dân Nhật, và cũng đương nhiên cắt đứt sợi dây
liên lạc giữa họ với quê hương họ. Không phải họ không có tinh thần quốc
gia, mà chính v́ ḷng quốc gia quá mạnh và cũng v́ sự kỳ thị giai cấp
quá nghiệt ngă của dân Nhật đối với những người cùng đinh di dân Nhật mà
chính họ đă lănh hậu quả khủng hoảng về bản sắc như vậy.
Tôi cũng đang lo ngại rằng, khi mà làn sóng di dân Việt Nam bị cắt đứt,
khi mà hận thù vẫn chưa xoá mờ được, khi mà cách đối xử của chính quyền
trong nước với người Việt tị nạn hải ngoại chưa thay đổi, th́ tôi nghĩ
rằng t́nh trạng sẽ cũng không khác ǵ cho các thế hệ sắp tới như những
kinh nghiệm của di dân Nhật Bản tại Hoa kỳ, ngoại trừ cộng đồng Việt
Nam hải ngoại phải được xây dựng một cách vững chắc.
Thôi bây giờ, ông không cần phải ngắt lời tôi, tôi cũng nên ngừng. Đầu
óc ông đă đầy những băn khoăn, tôi không muốn làm ông bối rối thêm nữa.
Mọi chuyện cứ từ từ giải quyết, đây là một vấn đề trường kỳ và liên tục.
Điều cần nhất là mọi người phải biết ḿnh muốn cái ǵ? Muốn đi đến đâu?
Muốn cái h́nh ảnh của con cái ḿnh như thế nào ở cái thế hệ thứ hai, thứ
ba...!”
*
Anh bỏ điện thoại xuống. Bữa cơm tối cũng vừa
xong. Anh bước ra bao lơn để cần một chút gió. Đêm đã xuống từ
lâu, trên trời lờ mờ, lác đác vài ngôi sao. Đêm hè ở đây đã
khác xa với vùng trời miền nhiệt đới. Anh nhớ lại những đêm
hè ở quê hương, trời đầy sao vằng vặc, giải Ngân Hà rõ mồn
một chạy ngang trời. Ngày còn nhỏ, anh thường cùng với anh chị
em ngồi trong sân, ngửa mặt thi đếm sao, nhưng đếm chẳng bao giờ
hết được, và chỉ ngưng khi tất cả đều mỏi cổ.
Tự nhiên anh liên tưởng đến anh và mọi người ở đây, như đang
đứng trong đêm tối, đang cùng nhau cố tìm một vì sao định
hướng, chỉ đạo cho một cuộc hành trình lâu dài mới.
Một lần, anh đến dự buổi tiếp tân một người nữ tài tử điện
ảnh nổi tiếng đã bao năm đóng góp cho nền điện ảnh Việt Nam,
và Hoa Kỳ. Cô đã tâm sự, cô luôn luôn bị giằng co giữa con người
Việt Nam và những vai trò mà các hãng phim giao phó. Cô đã từ
chối nhiều hợp đồng vì không muốn con người Việt Nam bị hiểu
lầm và bị bôi nhọ. Nhiều người đã phát biểu tán thưởng hành
động của cô, những hãng phim Mỹ thì họ không đặt nặng vấn đề
đó và thường phiền trách cô rằng "Cô hăy quên con người Việt
Nam của cô đi". Chắc một số người cũng đã quên vì một vài
lý do thực tế nào đó. Còn cô thì đã nhất định không chịu
quên.
Anh lại nhớ đến một chiều đi dự lễ "Ngày học sinh Việt Nam",
được tổ chức nhân dịp cuối năm học. Khác với năm xưa, ngoài
việc nêu danh và trao tặng phẩm cho các học sinh tốt nghiệp trung
học, ban tổ chức thêm vào việc giới thiệu các lớp Việt ngữ
và có một ước vọng là tập họp được tất cả các học sinh
Việt Nam trong vùng để gây một ý thức cộng đồng cho các em.
Có khá nhiều người đến tham dự nhưng hội trường vẫn còn chỗ trống.
Trên hàng ghế chính, có nhiều quan khách Mỹ, họ ngồi cho đến khi lễ
tất. Xung quanh anh, hầu hết là các học sinh trung học. Anh đã sống
lại đôi phút những hình ảnh của thuở thiếu thời khi xưa trong
những ngày hè mãn khóa. Anh mỉm cười nhìn một số em nhỏ vỗ
tay, huýt gió khi các em nhỏ nữ sinh lên nhận lãnh phần quà.
Trong khung cảnh náo nhiệt đó, nhiều em khác ngồi yên lặng, một
số em ngồi một mình trên những hàng ghế trống, không bạn bè,
không phụ huynh.
Anh cũng mong các em sẽ đến đông hơn để vui đùa, huýt gió, để
hò hét làm vỡ hội trường và sống như cái thời anh đã sống
trước kia trong các ngày mãn khóa. Chúng ta đã có bao nhiêu bạn
bè ở đó, những bạn bè như những sợi dây kỷ niệm kéo về
trường xưa, làng cũ. Anh muốn các em cũng có những người bạn
của thời trung học như anh, dù có phải phiêu bạt khắp phương
trời, tấm tình bằng hữu vẫn mãi mãi không phai.
Anh mong muốn thấy mọi người chúng ta cùng đến. Đến không phải
chỉ nhìn thấy chúng chia tay mùa hè mà để ân cần khuyến khích
con cháu ta gặp lại nhau, tập hợp nhau và nhất là giúp chúng
thành những người bạn đồng hành với nhau sau nầy.
Hôm đó anh cũng được chứng kiến hình ảnh những em hăng hái, tự
tin đứng trước hội trường phát biểu ý kiến. Anh cũng nghe thấy
những diễn giả khuyến nhủ con cháu mình cố gắng học và đừng
quên nguồn gốc Việt Nam. Anh cảm thấy bao chứa chan hy vọng, khi
nghe một em bé sáu tuổi đọc bài cảm tưởng là trước kia đã
quên hết tiếng Việt, sau ba tháng học, em đã biết đọc, tuy còn
rất nhiều chữ em đọc không có dấu. Anh còn cảm động hơn, khi
chương trình Việt ngữ giới thiệu một nữ giáo viên, một thiếu
phụ đơn độc đến Mỹ với ba con nhỏ vẫn cố bỏ thời giờ âm
thầm, dìu dắt các em nhỏ về nguồn.
Còn bao nhiêu điều phấn khởi khác, trong các tiệm sách, những
tác phẩm cũ và mới, các tạp chí bằng tiếng Việt ngày một
tràn ngập trên các kệ. Báo hàng ngày, hàng tuần ê hề được
phát không trong các siêu thị. Những buổi trình diễn văn nghệ,
giới thiệu sách mới, hội họp chính trị rạp không còn chỗ.
Chùa chiền, nhà thờ không thiếu một nơi nào. Những bài kinh,
những lời giảng vẫn bằng tiếng mẹ đẻ thuở xưa. Những Little
Saigon như những nôi nuôi dưỡng và phát triển văn hóa cũng như
bản sắc cho người Việt hải ngọai, không những chỉ có tính
cách đặc thù cho Hiệp Chủng Quốc, cho các quốc gia khác có
người Việt định cư, mà còn đối biệt với những gì đang xẩy ra
trong nước.
Nhưng sao nhiều người, trong nỗi hân hoan nhìn thấy con mình đang
soải cánh bay về tương lai, thành công trong dòng sông chính, vẫn
băn khoăn thấy có một khoảng trống ngày càng cách xa với những
họat động nói trên. Còn bao nhiêu tính chất Việt Nam trong con
cháu họ, khi mà trình độ ngôn ngữ ngày càng khác biệt trầm
trọng. Từ biết nói, đến biết đọc và hiểu được bài văn là
một chặng đường xa, nếu không có ý chí và môi trường hỗ trợ.
Có người đặt câu hỏi tiếng Việt có phải là một yếu tố sống
còn để giữ gìn bản sắc, tinh thần cho các thế hệ sắp tới
của người Việt hải ngọai hay không? Người già luôn luôn bị quá
khứ kéo lại, người trẻ thì bị tương lai kéo đi, mà trong cái
xã hội siêu kỹ thuật này sức kéo gia tốc ngày càng mạnh. Văn
hóa Việt Nam bằng ngoại ngữ để truyền thông với các thế hệ
tương lai vẫn còn yếu kém, chập chững, do dự. Những vấn đề
của họ vẫn chưa có chỗ tương xứng trong chương trình nghị sự
của cộng đồng. Tương lai chưa thăng bằng với quá khứ, và nhiều
mục tiêu đã bị lãng quên.
Nhiều người cho rằng những hoạt động văn hoá, nhất là báo chí
ồn ào hiện nay cũng sẽ chỉ là những âm ba sẽ lịm dần trong
mảnh ao tù trong những thập niên tới, nếu không có gì nối được
quãng đứt gián đoạn hiện nay với những thế hệ sắp tới vì
ngôn ngữ và lẽ đương nhiên tiến hóa trong lịch sử di dân của
nhân lọai.
Đó là chưa nói đến cái bản sắc nói chung cho người Việt hải
ngọai khắp nơi trong cộng đồng thế giới với biết bao dị biệt.
Họ sẽ được giáo dục, có văn hóa, và có tiếng nói khác nhau.
Quê hương đáng lẽ phải là những điểm chuẩn chung để mọi người
còn có một cái gì để noi theo. Đó là niềm kiêu hãnh, là tình
tự dân tộc, là đạo đức chính trị, là văn hóa truyền thống,
là đạo đức kinh doanh…, nếu không thay đổi, chỉ thấy cái thua
kém thế giới bên ngòai, còn cố nuôi lòng thù hận, và ô nhiễm
mọi mặt, thì có lẽ đã muộn rồi. Như đàn cá hồi khi ra biển
rộng, lúc tìm đường về, nhưng cái tổ cũ đã bị phá bỏ, các
kinh rạch cũ đã bị rác rưởi lấp kín, thì chắc là lại ra đi,
về vùng vẫy tự do ở vùng biển rộng trời cao. Thế hệ tiếp
nối của con cháu chúng ta rồi chắc cũng sẽ phải lần mò đi
tìm bản sắc riêng cho mình hay tự quên đi để mặc trôi theo vào
dòng sông chính nơi chúng sinh trưởng.
Nguyễn Công Khanh
__________________
Thư Mục Tham Khảo:
Sách Anh Ngữ:
Nisei: The Quiet American, tác giả Bill Hosohawa, nhà xuất bản New
York W. Morrow, 1969
The Story of Chinese in America, tác giả Betty Lee Sung, nhà Xuất
bản New York, Collier 1971
Asian American-Psychological Perspective, tác giả Ben Lomond, Stanley
Sue, Nathaniel N. Wagner, nhà xuất bản California, Science and
Behavior Books, 1973
Primitive Culture, tác giả EB. Taylor, 1981. Social Education, tác
giả James A Bank, 1983
American Heritage Dictionary, nhà xuất bản New York NY Dell, 1983
Acculturation and Occupation, tác giả Weinstock S. Alexander, 1969
Roots, tác giả Alex Haley, nhà xuất bản Boston G. K. Gill, 1979
Sách Việt Ngữ (Tái bản tại hải ngoại):
Việt Nam Văn Hóa Sử Cương, tác giả Đào Duy Anh
Việt Nam Sử Lược, Tác giả Trần Trọng Kim
Tự Điển Việt Nam, Hội Khai Trí Tiến Đức
Tự Điển Việt Nam, Tác giả Lê Ngọc Trụ
Hán Việt Tự Điển, tác giả Nguyễn Văn Khôn
Tự Điển Tiếng Việt, Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội
Việt Nam, 1994
vanhuu08@yahoo.com
Trang Văn Hữu |