|
VĂN HỮU số
44
Mùa
Xuân 2019
~~oOo~~
Nguyễn Lê Hồng Hưng
THUYỀN NHÂN

Những ngày gió nhẹ
biển êm, giữa đêm khuya chợt giấc, tôi có thói quen ra boong nhìn
trời, ngắm trăng, ngắm sao và những chòm đèn của những con tàu
xa xa. Đêm nay trăng khuyết mà trời trong quá, nên thấy những vì
sao sáng tỏ. Nhìn vầng trăng già hơn nửa mảnh treo ngang vòm
trời, tôi nghĩ tới một đời người có khác nào vầng trăng khi
tròn, khi méo, thoáng chốc lụi tàn. Kiếp người ngắn ngủi, ấy
vậy mà không biết bao nhiêu chuyện vui, chuyện buồn, chuyện suôn
sẻ, chuyện éo le xảy ra trong đời sống. Có chuyện tưởng chừng
như theo thời gian quên lãng, nhưng rồi chỉ trong giây phút tâm
trí bừng sáng và nhớ lại một cách rõ ràng.
Những tháng năm tập tễnh hải hành, tôi đi đi, lại lại hải cảng
Belfast mỗi tuần một lần, cảnh vật nơi đây tôi cũng đã quen. Sau
đó tôi đổi những lộ tŕnh xa, cho tới năm nay, hơn ba mươi năm rồi,
tôi mới trở lại lộ tŕnh Belfast. Bao năm trôi qua, quang cảnh nơi
này có nhiều thay đổi, hồi đó mùa đông tuyết rơi nhiều lắm
nhưng bây giờ thì ít hơn, cây cối trụi lủi, trơ cành, những con
đường trơn nhớt. Ở đây ít khi trời trong và khô ráo, cảnh vật
luôn mơ màng và thường mỗi sáng có sương mù, hiếm hoi lắm mới
có ngày nắng đẹp. Trước kia
khi tới một vùng đất mới, ban đêm tôi có thể đi lang thang nếu
mệt thì vô quán ngồi. Nhứt là bên Nam Mỹ, ở những nước có khu
ăn, uống bình dân mở cửa suốt đêm, tôi có thể vào đó ngồi
uống bia tới sáng. Bây giờ đi mới nửa khu phố tự dưng tôi hổng
muốn đi nữa, đúng là tâm trạng làm biếng của tuổi già, chớ
hổng phải vì tuổi già sức yếu. Nghĩ tới tuổi tác, tôi mỉm
cười một cái rồi quay gót giày đi trở về hội quán.
Vô hội quán tôi thường ngồi mình ên trong góc, uống nước lọc
và nhìn người ta sinh hoạt. Đã qua hơn ba mươi năm rồi, nhân viên
trong hội quán đã thay đổi hết, lớp nhân viên trẻ thay lớp già
nên tôi hổng còn người quen trong hội quán nữa. Nhưng hổng sao,
nhân viên hội quán luôn lúc nào cũng vui vẻ, thân thiện và rất
tử tế, thủy thủ cần gì thì họ tận tình giúp đỡ. Tôi mới
quen với Bryony, cô nhỏ là nhân viên tiếp thị của hội quán, cô
thường xuyên xuống tàu nạp tài khoản internet và xem thủy thủ
có cần giúp đỡ gì không. Nghe thủy thủ trên tàu gọi tôi là
uncle, cô cũng bắt chước gọi tôi là uncle, tiếng Anh uncle nghĩa
là chú. Chuyến trước Bryony xuống tàu trong lúc thủy thủ ra
boong hết nên tôi ngồi tiếp cô nhỏ. Cô hỏi tôi:
– Chú có thường lên hội quán? Tôi cười:
– Có chớ mỗi khi ghé đây là chú lên, hơn ba mươi năm trước, hội
quán này là nhà của chú, dạo đó trong hội quán ai cũng biết
chú.
– Oh, chú còn nhớ ai không?
– Còn, còn nhớ ông John, vì ông ấy thương chú lắm.
– À, con biết ông John.
Nhắc tới ông John tôi nhớ lại, ông John là nhân viên hội quán,
ông đứng quày rót bia và rượu cho khách, tiếng Anh gọi là
bartender. Lần đầu tôi mua bia, ông hỏi tôi:
– Bia gì? Tôi nói:
– Bia gì cũng được miễn là của nước Anh.
Ông cười vui vẻ vừa đưa tay lấy ly và lon bia ông vừa nói:
– Ô kê, ô kê...When in Rome, do as the Romans do.
Thấy ông đưa cho tôi
bia Guinness. Tôi nói:
– Guinness là bia của Ái Nhĩ Lan mà.
Ông nói:
– Đúng đúng, nhưng đây là hải đảo của Ái Nhĩ Lan.
– Cũng được, tôi nói, Guinness là bia đen của Dublin, nổi tiếng
thế giới.
– Đúng đúng...
Từ đó tôi mới biết Belfast là phần đất của Anh quốc nằm bên
hải đảo Ái Nhĩ Lan và tôi thuộc luôn câu thành ngữ “When in
Rome, do as the Romans do”, nghĩa là “Nhập gia tùy tục”. Ông John
hỏi tôi là người gì. Tôi nói:
– Tôi là người Việt.
– Nam Việt hay Bắc Việt.
– Nam Việt.
– Oh! Southern Vietnamese, boat people!
Nghe ông hô lớn, nhân viên trên hội quán và nhiều thủy thủ hướng
mắt về tôi. Khi tôi quay ra tìm chỗ ngồi thì nhiều thủy thủ ân
cần mời tôi ngồi chung, mời tôi cụng ly, uống cạn bia họ mua
thêm bia cho tôi uống. Có người hãnh diện khoe tàu họ đã từng
vớt người tị nạn rồi đưa về trại Tân Gia Ba và nhiều người
hỏi tôi về chuyện vượt biển. Lúc đó tôi nói tiếng Anh còn bập
bẹ, phải chi dạo đó có điện thoại thông minh và Google dịch như
bây giờ thì tôi đỡ mỏi tay. Tôi nói chuyện bằng tay nhiều hơn
bằng miệng, nhưng mọi người vẫn chăm chú lắng nghe, có lẽ họ
nghe bằng mắt nhiều hơn bằng tai. Hổng biết họ hiểu câu chuyện
tôi kể được bao nhiêu, nhưng tôi cảm nhận được, trong mắt họ tôi
là người đáng thương, cần được an ủi và giúp đỡ. Cũng từ đó
trở đi nhân viên hội quán gặp tôi ai cũng vui vẻ đón chào và
hổng gọi tên cúng cơm tôi mà gọi biệt danh tôi là Boat People.
Hổng riêng gì người Anh cư xử tử tế với thuyền nhân. Thời gian
đó tôi ghé bất cứ những nước tự do nào trên thế giới, người
ta nghe tôi giới thiệu: “I am Vietnamese.”Tức thì có người hỏi:
“Nam Việt hay Bắc Việt?” Khi biết tôi người miền Nam Việt Nam,
nhiều người trố mắt ra vẻ cảm thông và
kinh ngạc hô lên: “Oh! Boat people! hoặc Southern Vietnamese boat
people!”. Có người đưa ngón tay cái ra trước mặt tôi gặt gặt và
có người thân thiện vỗ vai, nói: – Southern Vietnamese people is
good, very good...
Ông John là người ân cần và luôn giúp đỡ tôi, mặc dù tôi có
việc làm và có tiền mua sắm, nhưng ông cũng chỉ cho tôi chỗ
máng áo, quần, khăn, nón, đồ dùng cũ mà hội quán dành cho
thủy thủ. Cũng từ đó tới nay, những ngày hải hành, ghé hội
quán tôi thường tới chỗ máng áo quần cũ lựa cái nào vừa lấy
về mặc. Ông John về nhà kể với vợ ông sao đó mà thỉnh thoảng
bà mua kem đánh răng, bàn chải và xà bông gội đầu để sẵn trong
bọc, nhờ ông đưa cho tôi. Tôi hỏi Bryony:
– Ông John còn khoẻ không? Cô nhỏ đưa bàn tay ra lắc:
– Hông biết, lâu rồi con không gặp ông ta.
– Oh, vậy con có biết địa chỉ của ông ấy không?
– Không, nhưng con tìm được.
Ngẫm nghĩ một chút, tôi lưỡng lự và nói với Bryony:
– Lâu quá rồi, hổng biết ông John còn nhớ chú không. Bryony
cười:
– Không thành vấn đề, chú còn nhớ ổng là tốt rồi.
Hôm kia tàu ghé bến tôi nhận tin nhắn của Bryony, cô nhỏ hẹn tôi
tối lên hội quán, ông John sẽ xuống thăm. Trước kia, hội quán
lúc nào cũng chật nứt người, bàn nào cũng đầy bia rượu, thủy
thủ ăn to nói lớn ồn ào. Bên góc phòng đặt cả chục hộp điện
thoại nhưng thủy thủ vẫn đứng dọc dài chờ để gọi về thăm
nhà. Bây giờ những hộp điện thoại công cộng đã dẹp hết, thủy
thủ nào cũng có điện thoại thông minh, họ ngồi chung nhau nhưng
mắt chăm chú nhìn màn hình, ngón tay rà rà bấm bấm lên mặt
điện thoại, người nào muốn nói chuyện với gia đình thì ra góc
ngoài đứng tha hồ nói, không khí hiền hoà nhưng trông có vẻ
lạnh lùng.
Hổng biết từ bao giờ, tôi quên bẵng cái quốc tịch và hổng
màng tới mình là người gì nữa. Ai hỏi tôi phải là người In Đô
không, tôi yes và hỏi có phải Phi Luật Tân không, tôi cũng yes.
Lâu rồi tôi không nghe ai hỏi tôi câu: “Ông có phải người Việt
không?” Nhưng tôi có nghe đầy tai về chuyện người Việt giết
người, cướp của, trộm cắp, buôn người, trồng cần sa và bán ma
túy xuyên quốc gia. Ở Anh quốc, trong những tiệm nails chứa chấp
nhiều người ở lậu, trốn thuế và những trẻ em trong tuổi vị
thành niên bị bóc lột sức lao động, những người làm việc bất
hợp pháp bị bắt nhiều vô số, bắt hoài mà hổng hết. Không
phải riêng nước Anh, mà khắp Âu Châu này, nhiều nhứt là nước
Nga và những nước Đông Âu. Bọn buôn người như buôn bán thú vật
chở trên những xe hàng, con người ta mà chúng coi như là heo,
gà, vịt đem nhét đầy nhóc trong những containers chở xuyên qua
nhiều biên giới. Khi bị cảnh sát phát hiện, moi ra thì người
nào người nấy ngất ngư gần chết và cũng có khi khui container
thấy có người ngột thở chết queo, trong số đó nhiều nhứt là
người ở Việt Nam. Cũng có người Việt tổ chức vượt biển đưa
người vô nước Anh bằng ca nô bị cảnh sát biên phòng bắt. Những
người Việt ngày nay tài giỏi thiệt, nước Việt Nam nằm xa mù
chì bên kia bán cầu, phải qua hai đại đương, đi tàu buôn phải
mất hơn hai tuần lễ, ấy vậy mà sao nhiều người Việt có mặt
trong những containers và trên những chiếc ca nô nhỏ xíu bên tận
trời Âu lạnh lẽo này.
Trong lúc tôi đang suy tư về quá khứ, chợt có một thủy thủ tới
khèo vai và kề mặt sát vào mặt tôi, tôi nghe nực nồng mùi bia,
ông hỏi:
– Ông có phải là ông Tấn đầu bếp?
Tôi ngước nhìn ông khách một cái, như một tia chớp trong đầu,
tôi nhận ra ông ngay:
– Oh, Bobby.
Gặp lại đồng nghiệp cũ, giống như gặp hồn ma hiện về. Trong
lòng tôi hổng mừng vui và cũng không vồn vã. Tôi chỉ chiếc ghế
trước mặt nói:
– Ngồi xuống, ông khoẻ không?
Vẫn thái độ giống như hơn hai mươi năm về trước, lè nhè khi say
xỉn. Ông vừa ngồi xuống vừa nói:
– Khoẻ khoẻ... Ông vẫn còn làm cho công ty cũ à?
– Ờ, vẫn làm bình thường. Dạo này ông sao rồi, vợ con gì chưa?
– Vẫn vậy, vẫn độc thân và vẫn làm thủy thủ.
Bobby và tôi quen nhau hồi còn trẻ, ông lớn hơn tôi vài ba tuổi
gì đó, hồi đó tôi và ông đi chung lộ tŕnh từ Pháp sang Belfast
này. Sau vài năm tàu hết hợp đồng tôi và ông cũng đổi tàu
khác nhau và sau đó nghe có một đồng hương của ông nói ông đã
chết rồi. Sống chung với dân In Đô đã lâu, tôi cũng biết cái
tánh ba xạo nói láo của họ cũng hổng thua người Việt mình,
nhưng với tánh hay say xỉn, lè nhè giống như Bobby, nghe nói ông
chết, tôi tin ngay. Vì vậy hôm nay tình cờ gặp lại ông tôi có
cảm giác như gặp một hồn ma. Tôi đứng lên đi lại quày mua bưng
lại cho ông ly bia. Bobby nhìn chai nước lọc trước mặt tôi, ông
hỏi:
– Mày hổng uống bia sao?
– Uống, nhưng thỉnh thoảng thôi.
Lúc đó tôi thấy Bryony vô hội quán và đi lại phía bàn tôi,
nhưng hổng hiểu sao cô nhỏ quẹo qua đi vô đứng trong quày ba đưa
tay ngoắc ngoắc tôi lại. Tôi đứng dậy đi tới hỏi chuyện gì.
Bryony đứng phía trong quày bar chồm ra nói với tôi:
– Ông John hổng tới được.
– Ô kê.
Tôi đi lại bàn vừa ngồi xuống thì Bobby đưa ngón tay ra dấu
tục, và hất mặt về phía Bryony. À, tôi hiểu vì sao Bryony vừa
thấy Bobby thì cô nhỏ quay gót đi vô trong. Tôi làm mặt nghiêm,
nói với Bobby:
– Ở đây là Seamen’s mission ông à. Ông muốn đàn bà, con gái sao
hổng ra quán Bar ngoài góc phố:
Ông lắc đầu:
– Ngoài đó cũng hổng còn đàn bà như trước nữa.
Tôi nhìn Bobby, ngoài sáu chục rồi, lại say xỉn như ông thì còn
hơi sức đâu mà gái với gộc. Tôi nói:
– Tui quên, thời tui với ông còn trẻ, chưa ai biết virus HIV nên
đàn bà con gái, tự do xuống tàu chơi với thủy thủ. À, mà ông
già rồi còn chấm mút được mẹ gì mà đòi đàn bà?
Ông cười kha kha rồi đưa bia lên hớp một cái, để ly xuống ông
nói:
– Có đàn bà nhìn cũng vui mắt, ông khoa tay một vòng nói, mày
hổng thấy sao, toàn là đực rựa mà thằng nào thằng nấy
giống như con gà chết.
Nhìn gương mặt lừ đừ, hổng còn chút
mùa xuân của ông, tôi hết muốn dây dưa. Tôi nói:
– Thời đại nào, cuộc sống đó. Tụi nhỏ là gà chết còn tui
với ông thuộc loại gà già, hết gáy được rồi, nói chi chuyện
đá, thôi cho qua chuyện đàn bà, con gái đi cha nội.
Bobby bưng ly bia lên uống, để ly xuống, hổng nói gì mà chỉ gừ
gừ trong cổ họng. Nhìn tướng tá ốm nhôm như con khô hố của ông
và nghĩ tới một con người sống không chịu lập gia đình, chỉ
biết có bia, rượu và gái giang hồ mà lây lất sống cho tới
ngày hôm nay thì cũng là lạ. Chợt nhiên tôi thốt lên: – Oh,
Ghosts!
Bobby giựt mình nhìn tôi, có lẽ ông tưởng tôi kêu Trời, ông hỏi:
– Chuyện gì? Tôi mỉm cười:
– Không, hổng có gì hết.
Hẹn với ông John, ổng hổng tới được, coi như xong rồi. Mọi hôm
thì Bryony thường lại ngồi nói chuyện chơi với tôi, hôm nay bị
Bobby làm kỳ đà cản mũi, nên con nhỏ hổng tới được. Tôi thấy
mình cũng không còn lý do gì ngồi nán lại đây nữa. Tôi đứng
lên bắt tay từ giã Bobby: – Ông ngồi chơi, tui phải xuống tàu.
Bobby đứng lên và ngập ngừng một chút rồi nói:
– Mày cho tao xin hai chục pound.
– Để tui xem.
Tôi móc bóp, may cho ông, tôi còn một tờ hai chục và mớ tiền
lẻ, tôi trút ra đưa hết qua cho ông: – Ông ở lại chơi vui vẻ.
Tôi đi ngang qua bar, thấy Bryony đứng trong góc, tôi đưa tay chào.
Cô nhỏ kêu tôi đứng lại, cô đi ra đưa cho tôi cái nón len.
– Cho chú nè.
Lần trước ghé hội quán tuyết rơi mà đầu tôi vừa mới cạo trọc
và ngoài trời thì lạnh quá, tôi lại chỗ để đồ cũ vạch đống
đồ ra tìm. Thấy tôi đứng vạch tìm hơi lâu, Bryony đi tới hỏi tôi
tìm gì, tôi nói tìm nón len, cô nhỏ phụ tìm nhưng không có nón
len. Đêm nay cầm cái nón len mới toanh, tôi nghĩ, có lẽ Bryony
mua nón cho tôi. Tôi hôn phớt lên má cô nhỏ một cái và nói:
– Cám ơn.
– Không có chi.
Đêm nay không có sương mù, trời trong quá và trăng khuyết một
bên, ánh sáng yếu ớt của vầng trăng làm cho ánh đèn những con
tàu thêm rực rỡ. Lòng tôi chợt sáng và nghĩ ra, nếu hổng có
chuyện xảy ra trong chuyến đi này thì tôi đã quên mất tiêu cái
khoảng đời lẽ ra tôi hổng được quên. Trước kia gặp bạn đồng
nghiệp trên những hội quán xa xôi, chúng tôi háo hức vui mừng
cùng nhau ngồi uống bia và tán chuyện cho tới khi hội quán
đóng cửa chưa thôi. Nhưng lần này gặp Bobby tôi có cảm giác như
gặp lại con người cũ kỹ xa xôi nào và tôi mới nhận ra Bobby là
cột mốc cho một lớp người thay đổi và tốc độ của cả một thế
giới đổi thay. Thân thể và tâm hồn tôi cũng bị thời gian làm
cho chai sạm. Cũng ngay bây giờ, trong đêm nay, tôi mới nhận ra
một điều là những người đồng hương cùng thời tị nạn với tôi
ai cũng đã an cư lạc nghiệp ở một quốc gia tự do nào đó trên
trái đất này. Riêng tôi thì ngót hơn bốn chục năm trôi qua, cho
tới bây giờ, tôi vẫn còn là một Vietnamese boat people, nghĩa là
một Thuyền Nhân người Việt và vẫn còn lênh đênh trên sóng nước.
Nguyễn Lê Hồng Hưng
Teestport 20 3 2019
vanhuu08@yahoo.com
Trang Văn Hữu |