Thùy An

 

Tôi và Các Em

Tản văn

 


 

Rảnh rỗi, tôi thường nghĩ về Sài G̣n và những ngày “đi bụi” cũng đám học sinh cũ, ăn uống rong chơi, cà phê cà pháo, hát ḥ vui vẻ… Những gương mặt ngây thơ ngày nào giờ đă trung niên, đă ngồi sui gia, đă lên chức ông bà, hạnh phúc, thành đạt… nhưng đối với tôi, các em vẫn nguyên vẹn là những cô cậu học tṛ bé dại của khung trời hoa bướm cũ, nơi lưu dấu một ngôi trường đă ch́m sâu vào kư ức xa xăm.

Năm tháng trôi qua trên gịng đời nghiệt ngă, pha sương mái tóc, phủ mờ hoài niệm, h́nh ảnh ngôi trường ngày ấy đối với tôi sao quá mơ hồ. Có thể v́ tuổi già trí nhớ kém đi, hay tại thời gian tôi đến với trường quá ngắn ngủi? Chỉ nhớ những cánh cửa gương trong suốt, hội trường rộng răi, pḥng họp giáo sư nh́n ra khoảng sân đầy nắng, dăy hành lang rộn ră tiếng cười đùa của các em… 

C̣n nhớ phía sau trường là vườn bạch đàn râm mát, những ngọn lá thon dài lao xao trong gió, thả mùi hương dịu nhẹ xuống ngôi nhà gạch của thầy hiệu trưởng Kỳ và xa hơn một chút là dăy nhà gỗ hiền ḥa bên con đường đất nhỏ với giếng nước, bờ cây, hàng rào dâm bụt ấm áp t́nh láng giềng giữa tôi, thầy Nồng, cô Bích, bác Huân và một vài người mà tôi đă quên tên.

Nhớ những ngày trường không c̣n hoạt động, dân chạy loạn từ Huế, Quảng Trị vào chiếm ngụ tất cả các lớp học, văn pḥng, hội trường và cả hành lang, bàn ghế bị gỡ xuống, đem ra sân chẻ tan nát làm củi chụm. Cuộc sống tạm bợ, ăn ở thiếu vệ sinh làm ô nhiễm môi trường, ban ngày ruồi nhặng tràn lan và ban đêm muỗi bay rào rào thật kinh khiếp, đe dọa mầm dịch bệnh sắp giáng xuống đầu. Mọi sinh hoạt bị ngừng trệ, người người t́m cách bảo vệ ḿnh bằng mọi khả năng, trùm khăn, che mặt, mặc áo quần kín mít toàn thân. Trời vừa chập choạng, nhà nhà đều buông mùng tránh muỗi, khuôn viên trường tối tăm, quạnh vắng như trong giờ giới nghiêm.

Rồi cơn lốc cũng qua, những người tản cư trở về quê cũ, nhưng không gian xưa không c̣n ríu rít tiếng chim. Từng cây bạch đàn lần lượt bị đốn ngă, những căn nhà núp bóng cũng từ từ thay chủ mới, thầy Nồng, bác Huân, thầy hiệu trưởng và tôi cũng ra đi, chỉ c̣n lại cô Bích cùng ngôi trường trở nên hoang phế, lặng lẽ ngậm ngùi nh́n cuộc sống sang trang.

Nhận email của Thuận: “Cô ơi, cô viết đến đâu rồi?” Một ư tưởng thoáng qua, nhưng chưa t́m được cảm hứng, phải chọn một ngày thật đẹp để bắt đầu. Lễ Thankgiving qua rồi. Noel sắp đến. Houston đang vào mùa lạnh, thời tiết thích hợp cho những cánh pensée hồi sinh, trắng hồng, vàng tím, đỏ nâu… rực rỡ khắp vườn. Trời xanh thăm thẳm, nắng tỏa dịu dàng lên cây đào đang rụng lá để nứt mầm hé nở những nụ xuân. Bên tách cà phê nóng, tôi mở bàn phím và reply: “Cô sẽ viết về các em.”

Tôi muốn viết về các học sinh của một ngôi trường đă mất, về Sĩ, Thuận, Thông, Kiệm, Kỳ, Xuân, Thanh Giang, Linh Diệu, Hưởng, Ly Hương, Dũng, Ngăi… Các em thuộc lớp đàn anh đàn chị của K1, K2 trong năm dạy đầu tiên của tôi. Năm sau, có thêm K3. K4 đến với tôi chỉ được nửa niên khóa th́ tan đàn xẻ nghé, nhưng kư ức về các em th́ tôi nhớ khá nhiều. Gần 40 năm qua, có em tôi chưa một lần gặp lại, nhưng cũng có nhiều em gặp gỡ đến thân quen.

Giữa buổi giao thời của hai thế kỷ, các em đă gặp nhau, t́nh bạn đồng môn ngày càng thắm thiết qua những hồi ức tuổi học tṛ, trường lớp, thầy cô… Những buổi họp mặt được tổ chức hàng năm trong không gian ấm cúng, thầy tṛ cùng tâm sự, chia xẻ buồn vui. Ban đầu chỉ những em trong thành phố, sau đông dần, các em ở xa như Đà Lạt, Vũng Tàu, Đồng Nai, Tuy Ḥa… và cả nước ngoài như Úc, Đức, Mỹ… cũng t́m về tham dự.

Càng thân hơn khi các cô tṛ cùng rủ nhau làm báo, hai Đặc San phát hành trong một năm cho thấy bút lực các em thật dồi dào. H́nh thức đẹp, nội dung tốt, ảnh hưởng của tờ báo lan rộng khắp nơi, các cựu học sinh trường Q xưa hưởng ứng nồng nhiệt. Em nào có bài đăng, muốn được đăng thêm nữa, em nào không có bài th́ muốn thử sức thể hiện ḿnh xem sao. Đó là lư do các em xin tôi thực hiện thêm một Đặc San nữa, tôi nỡ ḷng nào từ chối? Cô tṛ họp mặt bàn bạc hết mấy ngày để chọn chủ đề, rồi nhờ các em thông tin cho nhau, kêu gọi viết bài. Vẫn nhóm chủ trương cũ, các em tuy bận rộn nhưng làm việc rất hăng say. Bài vở gửi về khá nhiều. Đă yêu cầu đánh máy bài trên vi tính, nhưng nhiều em vẫn gửi về những trang giấy viết tay dài lê thê, điều này làm khổ Ban Biên Tập phải mất công xử lư lại, nhưng các em vẫn giúp nhau trong vui vẻ và cảm thông.

Không chỉ riêng trong lănh vực làm báo, các em lúc nào cũng dễ thương, đối xử với nhau luôn thân ái, chân thành, sẵn sàng mở ḷng ra trước hoàn cảnh khó khăn của những bạn không may mắn. Đối với thầy cô cũng vậy, các em luôn kính mến yêu thương, t́nh cảm ấy là niềm an ủi, làm tuổi già của thầy cô thêm lạc quan, yêu đời. 

Nhớ hôm t́nh cờ biết được địa chỉ của thầy Hoa –vị hiệu trưởng đầu tiên của trường, các em vui mừng không kể xiết. Điện thoại reo liên tục. Trong chớp mắt, các em đă có mặt bên nhau: Sĩ, Hưởng, Thanh Giang, Ly Hương, Lạc, Chuân, Thuận… và mời thêm hai cô giáo –tôi và Mai Hoa, thuê taxi qua quận 7, t́m cho được nhà thầy. Nói làm sao hết niềm vui ngày gặp lại. Thầy cô đă ngoài 80, nhà cửa đơn sơ, cuộc sống không dễ dàng ǵ. Thế là các em cùng hội ư và bắt tay vào việc ngay, kẻ góp công, người góp của, trang trí lại nội thất, pḥng ốc nhà thầy. Cảm động nhất là các em nam leo lên mái cao thay những tấm tôn bị hỏng, sợ nhà bị dột khi mùa mưa tới, ảnh hưởng đến sức khỏe thầy cô.

Nhớ hôm tôi bị té găy tay, Sĩ đă đưa tôi đến Trung tâm Chấn thương Chỉnh h́nh. Ở đây, em không quen một ai, nên nh́n thấy vẻ tất bật, chạy lui chạy tới, t́m pḥng X quang, t́m chỗ đóng tiền, chỗ bán thuốc, bông băng… của em, tôi không cầm được nước mắt. Những ngày dưỡng thương, nhiều em không ngại đường xa, ghé thăm tôi như Thanh Giang, Linh Diệu, Ly Hương… đặc biệt có em Trương Hữu Tín học khóa 2, từ Đà Nẵng vào Sài G̣n phỏng vấn đi định cư Mỹ, biết tin, cũng đến nhà thăm. Tôi không nhớ em, nhưng nghe em nhắc lại những kỷ niệm khi học với tôi, tôi thấy ḷng thật ấm áp, b́nh yên.

Thời gian tôi sắp đi, các em càng gần gủi tôi hơn. Biết tôi “hay hát hơn hát hay”, Dũng đă đứng ra thành lập nhóm Karaoke, gồm những bạn yêu văn nghệ cùng đi hát với tôi như Ly Hương, Dung, Kỳ, Sĩ, Linh Diệu… và t́nh nguyện làm tài xế cho tôi, mỗi tuần một lần cho đến ngày tôi lên máy bay. Dũng c̣n mời thêm nhóm học sinh của Q.SG gồm Phi Long, Kiều Loan, Kim Phương… tham gia để không khí càng thêm sôi động. Nhóm này được gọi vui là Sao Xẹt, sinh hoạt rất chuyên nghiệp, trưởng nhóm Phi Long đàn giỏi hát hay, là chủ nhân của quán cà phê Làng Văn ở quận 11, thường tụ họp bạn bè tổ chức những đêm nhạc chủ đề của các nhạc sĩ nổi tiếng, tôi và Dũng có tham gia vài buổi, rất thú vị. 

Trước ngày chia tay, các em thường mời tôi và Mai Hoa cùng phát triển “tâm hồn ăn uống”, nay bún ḅ, mai ḿ Quảng, cơm Tây, cơm Tàu … từ quán cóc ven đường đến nhà hàng sang trọng. Tôi gặp các em hoài. Xuân ở Đức về, Ngăi trên Đà Lạt xuống, Thuận ngoài Vũng Tàu lên, rồi c̣n có Sĩ, Linh Diệu, Hưởng, Thanh Giang… nhiều lần đi “Hát với nhau”, đi pḥng trà nghe nhạc. 

Viết đến đây, tôi lại nhớ những quán cà phê sân vườn mát rượi… Khúc Nhạc Chiều, Du Miên, Đồng Dao, Vườn Xuân, Chuông Gió… không gian đầy nhạc và hoa, nơi tôi cùng các em thường đến để hàn huyên, thư giăn. Vài ngày trước khi rời Sài G̣n, tôi khám phá được một quán nhỏ trong sân chùa Linh Sơn Tự gần nhà, điểm tâm ngon, cà phê cũng tuyệt, giá lại rất b́nh dân. Tôi gọi và các em đến đầy đủ, đông vui. Ra sân bay, đêm khuya trời se lạnh, vẫn c̣n các em ở bên tôi.

Xa mặt nhưng không cách ḷng, các em thường liên lạc với tôi bằng email và h́nh ảnh những lần họp mặt ở quê nhà, cho thấy cuộc sống vẫn tươi hồng và hạnh phúc. Ban Biên Tập đă chuyển những bài thơ, bài văn được chọn nhờ tôi xem lại. Qua cách viết chân thật, hồn nhiên, đầy t́nh cảm của các em, Ngôi Trường Kư Ức đang dần rơ nét trên từng trang bản thảo. Hy vọng tờ Đặc San sẽ đến với chúng ta trong một ngày rất gần.

 

Houston, tháng 12/ 2012

T.A
 

Trang Thùy An

art2all.net