|
tiêu dao bảo cự
Hữu Loan: "Cây gỗ vuông chành chạnh ..."
Đó là mấy từ
trong trích đoạn bài thơ Hữu Loan chép tặng tôi vào sổ tay 17 năm trước,
với nét chữ cứng cỏi và cách xuống gịng bậc thang đặc trưng trong thơ
ông. Năm đó ông đă 73 tuổi.
( chuyện Di Tề
)
Đó là năm ông
“tái xuất giang hồ” rời bỏ làng quê giong ruổi về phương nam sau 30 năm
tự chôn và bị chôn ḿnh ở chốn quê nhà, một nơi đèo heo hút gió ở thôn
Vân Hoàn, xă Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Trong chuyến đi
xuyên Việt năm 1988 của đoàn Hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian
để đ̣i tự do sáng tác, tự do báo chí - xuất bản và đổi mới thực sự,
chúng tôi đă đưa Hữu Loan về lại quê nhà sau gần một năm lang bạt.
Lần ấy, chép
xong mấy câu thơ, ông chỉ tay vào trang giấy nói với tôi: “Anh thấy đó.
Chữ Ŕu, Bào và Phó - Mộc viết hoa. Anh biết tôi muốn ám chỉ ai rồi”
Dọc đường đất
nước trên chuyến đi, ông cũng đọc cho công chúng nghe trong những lần
gặp gỡ, bài thơ dài mới nhất của ông, bài “Chuyện tôi về”, một loại bút
kư thơ kể về thời gian “ Ba mươi năm không phải chuyện / Một sớm một
chiều/ Một ngày tù đă dài như thế kỷ / Ấy là tù giữa chợ….”. Nhưng 30
năm đó, kể từ ngày có vụ án văn nghệ gọi là “Nhân văn - Giai phẩm”, và
17 năm sau đó nữa, chẳng có ai dám viết, nói ǵ về chuyện của ông dù
không ít người biết. Ngay cả sau khi gần đây, có hiện tượng xôn xao dư
luận là một công ty đă bỏ ra 100 triệu đồng để mua bản quyền bài thơ nổi
tiếng "Mầu tím hoa sim” của ông. Nhân sự việc này trên báo chí có một
vài bài viết về ông nhưng tuyệt nhiên không ai nhắc đến 30 năm đó, như
thời gian này không hề có trong cuộc đời ông. Một sự im lặng khủng khiếp không chỉ đè nặng lên riêng đời ông mà c̣n trói tay những người cầm bút và choàng phủ lên cả đời sống dân tộc. Đó là sức mạnh, sức nặng ghê gớm của bạo lực và cường quyền, của nỗi sợ hăi và ḷng hèn nhát, là bi kịch của một đất nước tự cho và cũng được phong tặng là đất nước anh hùng.
Trong hoàn cảnh đó, Hữu Loan đă chọn
riêng cho ḿnh một lối sống, dù nghiệt ngă nhưng đầy bi tráng. Như ông
viết trong “ Chuyện tôi về”: “Tôi không làm nhà v́ mắc làm người”, “Đi
ăn cắp và làm cán bộ là tôi không đi…”. Ông thà đi cuốc đất, đập đá và
đẩy xe thồ suốt 30 năm để làm “Cây gỗ vuông chành chạnh” không cho ai
lăn long lóc, trong khi bao nhiêu văn nghệ sĩ đồng thời với ông đă tha
hồ để cho “tùy tiện bị lăn long lóc thế nào th́ long lóc” ngoài đời cũng
như trong văn học nghệ thuật.
Kể từ lần gặp gỡ đầu tiên, tôi thực
ḷng ngưỡng mộ “cây gỗ vuông chành chạnh” Hữu Loan nên trong 17 năm qua,
dù trải bao nhiêu khó khăn vây khổn, trong tôi vẫn thôi thúc ư muốn gặp
ông lần nữa. Tôi vẫn sợ rằng nếu không c̣n dịp nào gặp lại ông, đối với
tôi đó sẽ là niềm ân hận lớn trong đời.
Trong chuyến đi xuyên Việt lần thứ
hai bằng xe gắn máy năm 2003, tôi đă định đến thăm ông, nhưng rủi thay,
khi đến địa đầu tỉnh Thanh Hóa, chỉ c̣n cách nơi ông ở vài mươi cây số,
tôi bị tai nạn phải lên xe đ̣ đi thẳng ra Hà nội, tôi đành để lỡ dịp
trong hối tiếc.
Đầu năm 2005 này, trong chuyến đi
xuyên Việt từ Nam ra Bắc lần thứ 3 bằng nhiều loại phương tiện, tôi nhất
quyết đến thăm ông và tôi đă thực hiện được.
Trên đường trở về bằng chuyến xe du
lịch open tour Hà Nội - Sàig̣n, tôi xuống xe ở Ninh B́nh, một điểm dừng
của open tour này, để t́m gặp lại Hữu Loan. Ninh B́nh là tỉnh giáp giới
phía Bắc của Thanh Hóa. Tôi hỏi thăm biết huyện Kim Sơn của Ninh B́nh,
nơi có nhà thờ đá Phát Diệm nổi tiếng, cách thị xă Ninh B́nh 30 cây số
nằm tiếp giáp với huyện Nga Sơn, Thanh Hóa, nơi Hữu Loan đang ở. Tôi
thuê một xe gắn máy và tự ḿnh t́m đường đi sau khi nghiên cứu bản đồ.
17 năm trước tôi đến nhà ông theo đường quốc lộ 1 từ thị xă Thanh Hóa ra,
lần này đi ngược lại từ phía bắc vào, theo một con đường khác.
Sau khi đến nhà thờ Phát Diệm, nhà
thờ đá xưa nhất và lớn nhất Việt Nam, nơi hết địa phận huyện Kim Sơn,
người ta bảo phải đi khoảng 20 cây số nữa mới đến trung tâm huyện Nga
Sơn. Tôi chạy theo con đường liên tỉnh lộ nhỏ hẹp, phía Nga Sơn xem ra
không trù phú bằng bên Kim Sơn, nơi có những cánh đồng lúa c̣ bay thẳng
cánh, với những đàn vịt trắng xóa bờ kênh và rất nhiều nhà thờ hai bên
đường. Tôi vừa đi vừa hỏi thăm đến thôn Vân Hoàn, xă Nga Lĩnh. Giờ này
đă gần trưa, con đường trải nhựa liên xă vắng vẻ. Đến nơi, tôi hỏi thăm
mấy em nhỏ học sinh đang chơi la cà trên đường. Các em chỉ cho tôi con
đường chạy thẳng đến chân núi, gần đó có chỗ rẽ vào một lối nhỏ đúc bê
tông. Tôi thầm nghĩ không lẽ người ta đă thay đổi tư duy, trọng thị nhà
thơ nên đă cho làm con đường bê tông ở xóm nhỏ heo hút này. Vào đó hỏi
tiếp, mấy người lại nói cho tôi biết nhà ông Hữu Loan ở chỗ nhà lầu hai
tầng đang xây bên phải. Hai người nói như thế, làm tôi càng ngạc nhiên
v́ cách họ nói mấy từ “nhà lầu hai tầng” nghe có vẻ khác lạ, bao hàm sự
thán phục như nói về một cái ǵ phi thường ở thôn xóm không có mấy nhà
khang trang này. Tôi lại nghĩ không lẽ Hữu Loan đă được “đổi đời” rồi v́
lần trước đến, căn nhà do chính tay ông dựng nên từ xưa vừa bị sập và
mấy năm sau đó tôi nghe tin loáng thoáng ông được xây “nhà t́nh nghĩa”
và tài trợ xuất bản tập thơ. Dù sao nếu được như thế tôi cũng mừng cho
ông.
Tôi đă mừng hụt. Nhà Hữu Loan chỉ là
căn nhà cũ kỹ phía sau “nhà lầu hai tầng đang xây” mà thôi. Đằng sau
cánh cổng sắt hơi tối dưới bóng cây âm u, một phụ nữ đang nằm trên chiếc
vơng treo ngang qua cổng và hai con chó đen dưới chân nhâu nhâu lên sủa.
Chị đứng dậy suỵt chó im và khi tôi hỏi Hữu Loan, chị bảo “ông cháu có
nhà”. Chị tự giới thiệu là con dâu của ông. Chị mở cổng đưa chúng tôi
vào nhà mời ngồi ở chiếc ghế gỗ vừa vội vàng dọn dẹp căn pḥng ngổn
ngang bề bộn mọi thứ linh tinh. Chị loay hoay pha trà mời chúng tôi với
bộ ấm chén xỉn màu và cho biết Hữu Loan đang ốm. Chị nói thêm b́nh
thường chỉ có hai ông bà ở nhà, mấy hôm nay ông ốm nên chị đến chăm sóc.
Trong khi nói chuyện với chị, chúng
tôi quan sát căn pḥng và nghe tiếng ho sù sụ ở pḥng kế bên, sau khung
cửa không có cánh tối om, được che bằng tấm màn vải cũ kỹ.
Căn pḥng không có trần, đồ đạc không
có ǵ giá trị. Trên tường có treo mấy tấm h́nh. Một tấm chụp Hữu Loan
đứng bên cạnh bức tượng của ḿnh, tác phẩm điêu khắc của Phạm Văn Hạng
năm 1990 theo như ghi chú bên dưới. Một tấm chụp lại phác thảo chân dung
bà Phạm thị Nhu ( tức bà Hữu Loan) do một họa sĩ nào đó kư tên không rơ
vẽ tặng ông. Đặc biệt chiếc bàn thờ đơn sơ, chỉ là một mảnh ván đóng lên
tường với mấy b́nh nhang cắm hoa giấy và vỏ một hộp bánh bằng các tông,
phía trên chỉ treo một bức thư pháp viết chữ Tâm bằng Hán tự, nét chữ
sắc sảo và cứng cỏi, bên ngoài có nhện giăng và bụi bám.
Nói chuyện một lúc, tôi ngỏ ư với chị
con dâu muốn vào tận giường thăm Hữu Loan nếu ông ốm nặng th́ nghe tiếng
dép lệt sệt bước ra. Trước mắt tôi, Hữu Loan không c̣n phong độ như năm
nào. Ông đội chiếc mũ len, quấn khăn quàng, mặc áo khoác bên ngoài áo
len trong khi vào nhà nóng, tôi phải cởi áo khoác. Khuôn mặt ông có sắc
hồng nhưng không phải nét hồng hào khỏe mạnh. Đôi mắt nhỏ sáng quắc năm
xưa đă phần nào mờ mịt. Tôi đứng lên chào và hỏi ông c̣n nhớ tôi không,
ông nh́n tôi ngẫm nghĩ rất lâu không nói ǵ. Khi tôi nói tên và nhắc lại
chuyến đi xuyên Việt năm xưa, ông ôm lấy tôi và nói “ C̣n sống để gặp
lại nhau là mừng lắm rồi”.
Ông mời tôi ngồi xuống ghế. Tôi nói
t́m đường vào nhà ông cũng khá vất vả. Ông bảo ai muốn t́m đừng hỏi ngay
đến nhà ông v́ hỏi như thế chúng nó không chỉ đâu. Chúng nó được lệnh
rồi. Tôi ôn lại chuyện xưa nhưng kinh ngạc thấy ông c̣n nhớ rất ít. Ngay
cả bài thơ “Chuyện tôi về” ông tâm đắc ngày ấy và đă đọc hàng chục lần
trước công chúng ông cũng quên. Ông bảo tôi đọc cho ông nghe nhưng tôi
chỉ thuộc vài câu. Tôi hỏi bản thảo có c̣n không, ông bảo đă mất hay để
đâu ông không nhớ. Bây giờ mắt ông không đọc được chữ nữa, khi cần phải
nhờ con cháu đọc.
Tuy nhiên những chuyện và những bài
thơ xưa hơn ông lại nhớ rất rơ. Ông kể đi kể lại việc một người được
giao nhiệm vụ giết ông nhưng mỗi lần sắp ra tay lại không nỡ v́ nhớ đến
bài thơ ông viết về quê hương anh ta. Chính anh ta đă nói lại với ông
chuyện đó và ông đọc bài thơ cho tôi nghe.
Ngồi nói chuyện khá lâu, và v́ lúc
chạy xe trên đường hơi bị lạnh, cảm thấy thèm thuốc lá, tôi rút bao
thuốc xin phép ông hút nhưng ông nghiêm mặt chỉ tay vào tôi nói: "Tôi
cấm anh”. Tôi gượng cười cất bao thuốc và nói hiện nay tôi c̣n nghiện
một thứ chưa bỏ được là thuốc lá. Ông nói ngay: “ Cái ǵ có hại phải bỏ.
Có ǵ mà không bỏ được. Ngay cộng sản là thứ ghê gớm mà tôi c̣n bỏ được
huống ǵ thuốc lá.”
Lát sau, ông bắt đầu ho nhiều hơn và
khạc nhổ đờm xuống đất, tôi tỏ ra quan ngại về sức khỏe của ông nhưng
ông bảo ông chỉ bị cảm mấy ngày nay thôi. Ngày thường ông vẫn ra ngoài
được và thường xuyên tập khí công. Tôi hỏi ông tập theo phương pháp nào
và vào lúc nào. Ông bảo ông tập bất cứ lúc nào, kể cả khi ngồi, nằm, đi
lại.
Hỏi thăm về gia đ́nh, ông cho biết
ông có 10 người con, 30 cháu và tỏ ra không vui v́ hoàn cảnh con cháu.
Người con đầu thông minh, thuộc loại học giỏi nhất tỉnh nhưng thời đó v́
chuyện của ông, anh không được vào đại học. Đến nay chỉ có người con
trai út tốt nghiệp kiến trúc sư đang làm việc ở Hà Nội, c̣n những người
khác đều lập gia đ́nh, làm ruộng, làm nghề và ở quanh quẩn gần đó.
Về nguồn sống của ông bà, ông bảo thu
nhập chính của ông là tiền bán củi. Củi ở đây là cọng và lá dừa khô của
hơn chục cây dừa rất cao do chính ông trồng từ xưa. Vùng này người ta
chuộng thứ củi dừa v́ có sẵn trong vườn và cháy tốt.
Bà Hữu Loan đi đâu về, nghe cô con
dâu báo, vội lên chào khách. Gặp tôi bà nhớ ra ngay. Có lẽ tôi gây ấn
tượng cho bà v́ lần trước chúng tôi đă giúp đưa ông về sau khi ông “bỏ
nhà ra đi” cả năm trời. Lần đó tôi đă khen bà mặc áo tím đẹp khi Hữu
Loan giới thiệu bà với chúng tôi lúc gặp bà ngồi bán hàng trên đầu cầu.
Tôi cũng đă hỏi bà có phải v́ Hữu Loan thích mầu tím nên bà mặc áo tím
không. ( Dĩ nhiên bà là vợ sau của Hữu Loan v́ người vợ đầu của ông, mới
“cưới nhau xong là đi”, “nhưng không chết người trai khói lửa / Mà chết
người em gái nhỏ hậu phương” đă gây xúc động cho Hữu Loan viết nên bài
thơ “ Mầu tím hoa sim” bất hủ).
Bà Hữu Loan bây giờ đă hơn 70 tuổi
nhưng bề ngoài trông có vẻ c̣n khỏe mạnh dù bà bảo cũng đang bị nhiều
bệnh măn tính. Bà mời tôi ở lại dùng cơm. Lúc đó đă quá trưa, gần xế
chiều, tôi hơi ái ngại và cũng sợ về muộn v́ c̣n phải đi đường xa nên
xin cáo từ. Bà bảo không lẽ khách từ trong nam ra thăm mà không mời được
bữa cơm, hơn nữa nhà cũng chưa ăn trưa, thức ăn có sẵn, chỉ nấu quàng
nồi cơm là xong. Tôi đành nán lại.
Bữa ăn bà đăi chúng tôi quả có nhiều
món có sẵn mà bà dự trữ để ăn dần. Cá kho, canh rau nấu với thịt heo,
tép kho ăn ghém với khế chua hái trong vườn, lại thêm món trứng tráng.
H́nh như tất cả các thứ dự trữ bà đều mang ra mời khách. Chúng tôi vừa
ăn vừa phải luôn tay xua đàn ruồi bay vù vù chung quanh. Hữu Loan chỉ ăn
được lưng hai bát cơm.
Trong khi ăn bà nói chuyện vui. Bà kể
dạo ông đi nam, ông viết thư về bảo có mấy cô c̣n trẻ mê ông muốn lấy
ông, làm vợ bé, ông c̣n dám bảo “có lẽ cũng phải lấy thôi.” Nghe nhắc
đến chuyện đó mắt Hữu Loan ánh lên nét tinh quái và ông mỉm cười nói:
“V́ thế tôi mới gọi bà là Thiến Thư. Thiến Thư chứ không phải Hoạn Thư”.
Chúng tôi đều cười x̣a.
Dạo đó h́nh như bà cũng có ghen thật.
Tôi nghe nói bà đă xé mấy bức ảnh ông chụp chung với mấy cô gái trẻ. Bây
giờ ông đă 90 tuổi, bà hơn 70, nhưng nhắc đến chuyện t́nh yêu, ghen
tuông, hai ông bà vẫn c̣n xúc cảm, tuy trong một trạng thái khác. Đúng
là chuyện không tuổi và của muôn đời.
Câu chuyện vui không làm tôi bớt cảm
giác phiền muộn trong ḷng khi nghĩ về hoàn cảnh Hữu Loan hiện nay. Dĩ
nhiên sinh - lăo - bệnh - tử là chuyện tất yếu của đời người. Nhưng h́nh
ảnh một ông ǵa ốm yếu ho hen, lẩn quẩn trong căn nhà cũ kỹ với người vợ
tuổi đă cao, cũng nhiều bệnh tật, có cái ǵ làm tôi cám cảnh. Hơn nữa,
người đó lại là Hữu Loan.
Lẽ ra ông đă có một cuộc sống khác.
Một nhà thơ tài hoa, một trí thức, một chiến sĩ cách mạng dày dạn, từ
thời khởi nghĩa chống Pháp giành chính quyền mới hơn 20 tuổi đă phụ
trách 4 ty của tỉnh, một cán bộ tuyên huấn sư đoàn xuất sắc… đúng ra
phải có vị trí xứng đáng và cuộc sống tốt hơn so với bao nhiêu người bất
tài đang nắm giữ chức quyền và sống xa hoa phung phí hiện nay.
Tôi nghĩ thực ra chính ông đă chọn
cuộc sống này từ khi làm bài thơ “ Mầu tím hoa sim” và tham gia “ Nhân
văn- Giai phẩm”, sau đó tự ư bỏ về quê nhà. Trong khi người ta lên án tư
tưởng tiểu tư sản ủy mị th́ ông làm bài thơ khóc người vợ trẻ lúc từ
chiến trường trở về phải ngồi bên "ngôi mộ đầy bóng tối với chiếc b́nh
hoa ngày cưới thành b́nh hương tàn lạnh vây quanh" của người con gái vắn
số không kịp chờ ông. Ông không thể “giữ lập trường”, nén đau thương,
xúc cảm của ḿnh theo chỉ thị của lănh đạo. Con người không phải là gỗ
đá, không phải là súc vật phản xạ có điều kiện. Nhà thơ chân chính càng
không thể chỉ nặn ra những tác phẩm theo đơn đặt hàng hay những bài
tuyên truyền sáo rỗng dối trá dù là theo “yêu cầu của cách mạng” đi
chăng nữa. Chính v́ thế sau khi viết “Mầu tím hoa sim”, ông bị kiểm điểm,
bài thơ bị cấm phổ biến công khai nhưng lại được chính các chiến sĩ chép
tay lén lút, đọc thầm cho nhau nghe, và sau đó vượt không gian, thời
gian đi vào ḷng người để trở thành một trong những bài thơ t́nh bất hủ
của thi ca Việt Nam.
Cùng với các văn nghệ sĩ trong nhóm “
Nhân văn – Giai phẩm”, Hữu Loan đă dùng ng̣i bút để lột trần, lên án cái
ác núp dưới bất cứ thứ nhân danh, chiêu bài nào. "Nhân văn- Giai phẩm”
là sự lựa chọn quyết liệt của những người làm văn học nghệ thuật chân
chính với tinh thần “ Lời mẹ dặn” của Phùng Quán “Yêu ai cứ bảo là yêu /
Ghét ai cứ bảo là ghét”. Đó là đỉnh cao của văn học nghệ thuật, cũng là
đỉnh cao của trí tuệ và nhân cách. Đỉnh cao đó tất yếu bị phá đổ, vùi
dập khi quyền bính được xây dựng bằng bạo lực và dối trá. Sự lựa chọn đó
là một lựa chọn sinh tử và đă phải trả gía đắt, đắt bằng sự khốn cùng
của đời người, bằng một vết nhơ lớn trong lịch sử dân tộc.
Khi tôi hỏi về chữ Tâm treo trên bàn
thờ, Hữu Loan bảo chính tay ông viết và suốt đời ông chỉ thờ một chữ Tâm.
Tôi chợt nhớ đến những điều ông nói
trong chuyến đi xuyên Việt năm xưa mà tôi đă ghi lại trong bút kư “ Hành
tŕnh cuối đông”[*]
“Cái tâm mới là điều quan trọng trong
văn học. “ Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Sai lầm của chế độ là đă đề
cao giai cấp tính, đến chỉ c̣n đẳng cấp thống trị. Giai cấp tính không
bằng nhân đạo tính".
Với cái tâm trong sáng của ḿnh, Hữu
Loan đă thấu suốt t́nh h́nh đất nước và có những nhận định sắc bén:
“ Đất nước ta là nơi nói giỏi nhất
nhưng làm sai nhiều nhất, người sai lầm ít th́ bị tội nặng, không được
sửa sai, như bác sĩ làm chết người, lái xe gây tai nạn bị lấy bằng, đi
tù, c̣n những người làm sai nhiều, giết nhiều người, làm hại làm khổ
hàng triệu người th́ lại được sửa sai, nói dễ dàng “sai th́ sửa”.
“Người nói thật cũng bị trừng trị.
Tôi cũng bị trừng trị v́ tôi viết văn là nói thật. Có người hỏi động cơ
viết văn của tôi là ǵ, tôi trả lời động cơ viết văn của tôi là thích
chửi vua. Ít ai dám chửi vua nhưng vua sai th́ nhà văn có quyền chửi.”
Vào thời điểm đó, Hữu Loan nhấn mạnh
về sứ mạng của nhà văn:
“ Bây giờ nhà văn chỉ cần làm thư kư
của thời đại là đă lớn lắm rồi. Hiện thực nỗi đau của nhân dân rất vĩ
đại. Vấn đề không phải có lớn không mà là có dám lớn không.”
Dám nói thật và động cơ viết văn
“thích chửi vua” chính là sứ mạng, nhân cách và bản lĩnh của người cầm
bút trong những thể chế hay giai đọan lịch sử mà sự sai lầm và độc đóan
lên ngôi thống trị. Đó cũng là “định mệnh” của nhà văn chân chính. Định
mệnh của những người đă lựa chọn cuộc chiến đấu không cân sức:
Cuộc sống của Hữu Loan thời kỳ đêm
dài 30 năm đúng là “vô cùng căng thẳng”, đặc biệt khi “cuồng tín nhân
dân” c̣n bị nhồi sọ và kích động bởi bộ máy tuyên truyền hùng hậu.
Thời kỳ đó đă qua và hiện nay những
nhà văn chân chính như Hữu Loan không cô độc nữa, dù cũng c̣n phải chịu
đựng không ít khó khăn trù dập. Trung thực và dũng cảm vẫn là điều không
thể thiếu khi nhà văn muốn nói lên sự thật.
Riêng Hữu Loan, ông đă giữ vững sự
lựa chọn đó đến cuối đời. Theo tôi biết, nếu không lầm, sau thời kỳ đổi
mới, Hữu Loan là người duy nhất không làm đơn xin khôi phục hội tịch Hội
Nhà văn Việt Nam.[*] Cuộc sống của ông cho đến tận hôm nay, dù trải qua
bao nhiêu gian nan khốn cùng, đó vẫn là một cuộc sống làm người tử tế
đúng nghĩa. Hơn nữa đó c̣n là một cuộc đời bi tráng rực rỡ, lấp lánh
niềm đau và khí phách như những bài thơ của chính ông.
Hôm trước ở Hà Nội, tôi nghe nói con
trai út của ông định sắp tới sẽ tổ chức thượng thọ 90 tuổi cho ông với
mục đích để bạn bè trong nam ngoài bắc có dịp gặp ông một lần trước khi
ông quá ǵa yếu. Tôi may mắn đă được gặp lại ông trước dịp này.
Cuộc đời Hữu Loan chính là một tượng
đài của nhân cách, ḷng trung thực và khí phách anh hùng. Tượng đài đó
có thể biểu trưng bằng “cây gỗ vuông chành chạnh” và một chữ Tâm. Người
xưa nói “ Dụng nhân như dụng mộc”. Cây gỗ vuông này thời đại của ông
không dùng nhưng lịch sử sẽ dựng lên thành một tượng đài, cũng là một
loại bút “ tả thanh thiên” lồng lộng giữa đất trời.
Nguồn :
ĐCV
|